diễn biến chính khủng hoảng tài chính Thế giới 2008, phân tích nguyên nhân và đánh giá tác động tới TTCK Việt Nam. - Pdf 25

Đề tài 1: Hệ thống lại những diễn biến chính khủng hoảng tài
chính Thế giới 2008, phân tích nguyên nhân và đánh giá tác động
tới TTCK Việt Nam.
Sau cuộc đại khủng hoảng 1929-1933,gần 80 năm sau,tháng9-
2008 thị trường tài chính thế giới một lần nữa lại chao dảo,là bắt
nguồn từ MỸ và dần lan rộng ra trên toàn thế giới.Đã hơn 2 năm từ
khi cuộc khủng hoảng2008 xảy ra,nền kinh tế của các quốc gia đã
dần hồi phục,trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên đến nay vẫn còn
nhiều ý kiến bình luận về nguyên nhân cũng như tác động của
khủng hoảng.Ta sẽ lần lượt tìm hiểu diễn biến, phân tích nguyên
nhân của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 để thấy rõ
hơn tác động của nó tới thị trường chứng khoán Việt Nam trong
những năm qua.
I/DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ
GIỚI NĂM 2008
Khi xuất hiện bong bóng nhà đất tại Mỹ ,giới phân tích tài chính
đã rất quan ngại về tính chất nghiêm trọng của nó.Và đúng như dự
đoán, từ Mỹ cuộc khủng hoảng đã bùng phát thành khủng hoảng tài
chính toàn cầu.
Trước hết, chúng ta điểm lại diễn biến xảy ra ở Mỹ-xuất phát
điểm của khủng hoảng
Năm 2008 là năm đánh dấu sự đi xuống thảm hại của các nền kinh
tế.Bong bóng nhà đất xuất hiện tại Mỹ với trên 1 triệu chủ nhà đất đối
mặt với nguy cơ tịch thu tài sản thế nợ. Nhiều ngân hàng vướng phải
các khoản nợ dưới chuẩn (subprime loan) phải hứng chịu những
khoản thua lỗ
Biểu đồ trên chỉ rõ sự đi xuống liên tiếp của thị trường nhà đất với
mức sụt giảm kỉ lục ở cuối năm 2008.
-Trong tháng Ba, nạn nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế là ngân
hàng Bear Stearns. Thua lỗ, ngân hàng 85 tuổi này buộc phải bán
mình cho JP Morgan với giá 10 USD/cổ phiếu, thấp hơn 10 lần mức

2007(điểm)
Tăng / giảm so
với năm
2007(%)
Mỹ
Dow Jones 8.668,39 4.375,57 34,6
Nasdaq 1.550,70 1.058,93 41,5
S&P 500 890,64 556,52 39,3
Anh FTSE 100 4.392,68 2.024,02 31,5
Đức DAX 4.810,20 3.138,91 39,5
Pháp CAC 40 3.217,13 2.333,23 42,0
Đài Loan Taiwan Weighted 4.589,04 3.734,01 44,8
Nhật Nikkei 225 8.859,56 5.831,85 42,1
Hồng Kông Hang Seng 14.235,50 13.325,02 48,8
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.124,47 728,98 40,7
Singapore Straits Times 1.770,65 1.690,57 49,0
Trung
Quốc
Shanghai Composite 1.832,91 3.428,65 65,2
Ấn Độ BSE 30 9.716,16 10.749,14 52,2
Australia ASX 3.591,40 2.842,70 44,1
Việt Nam VN-Index 316,32 604,75 65,9
Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg
- Thất nghiệp đua nhau lập những kỷ lục mới. Nhu cầu co lại buộc
các doanh nghiệp phải đóng cửa làm ăn.
- Từ đầu năm đến hết tháng 5, khắp thế giới dường như chỉ tồn tại
hai từ “lạm phát”. Lạm phát tại những quốc gia thuộc khu vực sử
dụng đồng Euro đạt mức cao kỷ lục trong lịch sử. Tại châu Á, lạm
phát đã lên tới 7,5% - gần bằng mức cao nhất trong 9 năm qua và cao
gấp hơn 2 lần so với mức 3,6% của một năm trước, mà nguyên nhân

* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách
các nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá
trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ euro.
* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP
Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một
khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ
USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các
khoản thế thấp bất động sản.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân
hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân
hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra
hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
* 31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là
3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD.
Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc
khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
* 7/9: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền
kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và
Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.
* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác
để bán lại chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm
45%.
IV. So sánh cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 với cuộc khủng
hoảng kinh tế năm 29-33
- Cuộc khủng hoảng phản ánh sự bất lực của các thể chế kinh tế tân tự
do, sự bất cập của mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, nhưng
quy mô và tính chất của nó có nhiều điểm khác hẳn so với các cuộc
khủng hoảng trước đó.
*)Thứ nhất, cùng với tiến trình gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hóa và

Năm 2001, chính phủ Mỹ thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng
và phá giá đồng nội tệ để cung cấp vốn cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh. Tuy nhiên thị trường sử dụng không hiệu quả nguồn
vốn dẫn đến thừa vốn. Đây chính là sự bất cân đối về cung cầu vốn
trên thị trường . Các ngân hàng Mỹ đã sử dụng số vốn này đánh cược
vào thị trường cho vay dưới chuẩn vốn tiềm ẩn rủi ro cao.Chính vì
việc cho vay dưới chuẩn tràn lan đã dẫn tới sự mất kiểm soát của
ngân hàng. Những đối tượng vay dưới chuẩn khi đó ở mỹ có một tỷ lệ
không nhỏ là dân nhập cư,và những người đi vay thường là để mua
nhà.Khi đó thị trường địa ốc phát triển rất nhanh,giá cả tăng lên nhanh
chóng .Những nhà đầu cơ cả sành sỏi lẫn cừu non thi nhau nhảy vào
thị trường này và góp phần làm tăng độ nóng của nó.Năm 2005, tại
Mỹ, giá nhà đất đã tăng ở mức trung bình 12,5 %, tăng đến 20% tại
một số bang như California, Nevada, Hawaii, Maryland, Washington
DC và tăng ở mức độ khủng khiếp tới 35% tại Palm Beach, Florida.
Trong 5 năm qua từ năm 2001 đến năm 2006,tại California, đã có 500
nghìn giấy phép kinh doanh bất động sản được cấp.Bong bóng nhà đất
được thổi phồng lên nhanh chóng.Người dân có nhà để ở ,ngân hàng
có khoản lợi nhuận kếch xù ,các nhà đầu cơ kiếm lời cao, tất cả đều
tốt đẹp.
Nhưng tất cả đều được dựa trên nhu cầu ảo của thị trường do
đầu cơ. Thực chất cuộc sống của những người đi mua nhà kiểu cầm cố
tài sản này không thực sự thuận lợi.Khi mà lãi suất vay nợ dưới chuẩn
cao ,họ không có khả năng trả nợ.Ngân hàng phải siết nợ và cuối cùng
phải thu hồi để phát mại. Công ty RealtyTrac, chuyên theo dõi về các
vụ siết nợ của ngân hàng, đã thống kê được 1,5 triệu căn nhà đã bị vào
diện này trong năm 2007, gấp 2 lần so với năm 2006.
Những nhà đầu cơ sành sỏi ,khi nhận thấy những dấu hiệu đủ để đổ vỡ
của bong bóng đã vội thoát nhanh ra khỏi thị trường còn lại đám đông những
nhà đầu cơ cừu non say máu làm giàu vật lộn với cơn xoáy tụt giá của thị

chính của Việt nam sẽ không chịu nhiều tác động từ cuộc khủng
hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng.
Thứ hai,Việt Nam chưa có công ty nào niêm yết trên thị trường
chứng khoán Mỹ, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư Mỹ trong doanh nghiệp
Việt Nam cũng như dòng tiền nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nhà
đầu tư Mỹ, đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam là không
nhiều.Giá trị danh mục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào chứng
khoán Việt Nam chỉ khoảng 7-8 tỷ USD. Mối lo ngại khối này rút vốn
khỏi Việt Nam cũng là thiếu cơ sở vì nếu nhà đầu tư nước ngoài rút ra
khỏi Việt Nam thì họ cũng chưa có sự lựa chọn đầu tư nào khả thi
hơn, trong khi ở Việt Nam tất cả các yếu tố kinh tế vĩ mô đều đang có
chiều hướng tốt so với các quốc gia khác đang phải chịu ảnh hưởng
khá lớn từ cuộc hủng hoảng.
Tuy nhiên,thực tế diễn ra có đúng như nhận định trên mặt lý
thuyết?Chúng ta hãy cùng điểm lại thực trạng thị trường chứng
khoán Việt Nam trong khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
1.Chỉ số trên thị trường chứng khoán
Vn-Index sụt giảm 70% giá trị, trong khi đó chỉ số Hastc-Index
xuống dưới 100 điểm
Các chỉ số: Nếu như hai năm 2006-2007, thị trường chứng khoán
Việt Nam phát triển bong bóng với tốc độ nhất nhì thế giới thì sang
năm 2008 cũng đứng đầu về tốc độ suy giảm.
VN-Index mở đầu phiên giao dịch năm 2008 đạt 921,07 điểm, tính
đến ngày 29/12/2008, Vn-Index đang ở mức 308 điểm, bằng 1/3 so
với đầu năm. Các giả định được đưa ra VN-Index sẽ dao động quanh
mức 450 điểm, song hầu hết đều quá lạc quan, Vn-Index đã có lúc rơi
xuống 286,85 điểm vào ngày 10/12.
Trong khi đó, mức thấp nhất của Hastc-Index trong năm nay là 97,61
điểm vào ngày 27/11/2008. Trước đó, vào ngày 28/10, chỉ số này đã
có lúc xuống 98,87 điểm xong ngay lập tức các nhà đầu tư mua vào

đồng/cp.
Lượng cổ phiếu niêm yết tăng lên nhưng do thị giá của các cổ phiếu
giảm đáng kể nên đã làm cho giá trị vốn hóa của thị trường giảm
mạnh.Tỉ lệ vốn hoá: Cuối năm 2007, vốn hóa thị trường chiếm 40%
GDP (30 tỷ USD). Nhiều ý kiến lạc quan cho rằng, cuối năm 2008,
vốn hóa thị trường sẽ đạt khoảng 35 – 40 tỷ USD (60% GDP). Tuy
nhiên thực tế cho thấy, hết năm 2008, giá trị vốn hóa thị trường hiện
chỉ còn 13 tỷ USD, tương đương 17% GDP.
Tính theo giá đóng cửa ngày 31/12/2008, giá trị thị trường của tất cả
các cổ phiếu đang niêm yết là hơn 225.300 tỷ đồng, trong khi đó, một
năm trước, con số này là 494.400 tỷ đồng (tương ứng giảm 54%).
3. Tình hình mua bán của nhà đầu tư trên thị trường chứng
khoán
Trong 3 tháng, khối nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ròng cổ
phiếu và trái phiếu trên cả hai sàn Hà Nội và Tp.HCM. Nếu trước
đây, việc khối ngoại luôn đi ngược thị trường (mua vào khi thị trường
giảm và bán ra khi thị trường tăng) sẽ góp phần cân bằng lại thị
trường thì nay, khối ngoại liên tục bán ra bất kể thị trường tăng hay
giảm.
Trước tình hình thế giới lâm vào khủng hoảng chung, giá các cổ
phiếu tại chính quốc trở nên rẻ hơn so với thị trường Việt Nam, các tổ
chức nước ngoài có xu hướng bảo toàn vốn và rút về nước.
Tính riêng 3 tháng cuối năm, khối ngoại bán ròng hơn1.730 tỷ đồng
cổ phiếu và hơn 27.000 tỷ đồng trái phiếu. Trong đó dồn dập nhất vào
tháng 10, khối ngoại liên tục bán ra trái phiếu với giá trị bán ròng lên
tới 1.000 tỷ đồng/phiên.
Tổng cộng hai sàn, nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ 2,69 tỷ USD
tiền cổ phiếu.
Lo sợ một đợt rút vốn ồ ạt của khối ngoại, giới đầu tư trong nước cũng
…hành động theo khối ngoại và liên tục bán ra cổ phiếu khiến VN-

ngành và thiếu sự tham gia của các tổ chức quần chúng.
Bên cạnh đó là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu,
giá lương thực, sắt thép trên thế giới. Có người cho rằng, có dầu
thô xuất khẩu, có lương thực xuất khẩu, thì Việt Nam sẽ có lợi trong
cuộc khủng hoảng trên thế giới này, chứ đâu bị tác động tiêu cực?
Đúng là Việt Nam xuất khẩu dầu thô, nhưng lại nhập khẩu xăng dầu
với kim ngạch lớn hơn; còn giá lương thực thế giới tăng sẽ kéo giá
lương thực ở trong nước lên theo.
Sức cộng hưởng của các yếu tố trong và ngoài nước đã làm cho tình
hình lạm phát trở nên nghiêm trọng.Điều tất yếu là cung tín dụng tiếp
tục tăng trên 50%, lạm phát tăng vọt lên 25%, nhập siêu vượt quá mức
an toàn Chỉ số lạm phát ra ngày 25 hàng tháng cho thấy CPI tháng 4
tăng 2.2% so với tháng 3, và tăng 21.42% so với cùng kỳ năm 2007,
mức cao nhất trong hơn một thập kỷ gần đây. Thâm hụt thương mại
của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm đã lên tới 11,1 tỷ USD, gấp 4 lần
so với cùng kỳ năm ngoái, do nhập khẩu tăng 71%, thị trường chứng
khoán sụt giảm kỷ lục.
Từ tháng 3-2008, Chính phủ đã đột ngột đổi chiều nhằm ưu tiên
mục tiêu kiềm chế lạm phát. Lãi suất cơ bản được nâng lên, dự trữ bắt
buộc với lãi suất rất thấp được áp đặt, tín phiếu bắt buộc được phân
bổ, biện pháp hạn chế tín dụng “hà khắc” được áp đặt lên các ngân
hàng thương mại, cắt giảm đầu tư Tất cả biện pháp này gây ra gánh
nặng lớn cho các ngân hàng thương mại cũng như doanh nghiệp nhỏ
và vừa.Các quan hệ thị trường bị thu hẹp rõ rệt bởi sự can thiệp hành
chính, đặc biệt là các quyết định về tăng, giảm thuế nhập khẩu, về hạn
ngạch, về giá xăng dầu liên tục được đưa ra (có thời kỳ đạt tốc độ
bình quân sáu quyết định lớn, nhỏ một tuần).
8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát được đề ra và ưu
tiên thực hiện: trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu là thực hiện
chính sách thắt chặt tiền tệ.Những biện pháp thắt chặt quá mạnh đã

mua. Sở dĩ có hiện tượng này là do phần nhiều các nhà đầu tư Việt
Nam chưa chuẩn bị kiến thức và bản lĩnh cũng như kinh nghiệm
cần thiết để tham gia mua bán chứng khoán, mặt khác môi trường
thông tin chưa thật sự đảm bảo cho thông tin đến với tất cả các nhà
đầu tư cùng một lúc và chuẩn xác. Việc đầu tư theo đám đông đã gây
khó khăn trong việc hoạch định chính sách và điều tiết thị trường của
cơ quan quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho các hành vi làm giá,
giao dịch nội gián, tung tin đồn thất thiệt…để trục lợi. Tâm lý mua
bán theo đám đông lại trở nên nặng nề hơn khi nền kinh tế bị lạm
phát. Mỗi khi các thông tin về việc tăng giá xăng dầu, NHNN tăng lãi
suất cơ bản hoặc chỉ số giá tiêu dùng được công bố đều nhận được
phản ứng tức thời từ TTCK.
Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài được xem là
nhân tố dẫn dắt thị trường. Động thái mua vào hoặc bán ra của họ
cũng sẽ làm cho giá chứng khoán tăng hoặc giảm theo. Nhưng từ
cuối tháng 9/2008 đến nay, rất nhiều thông tin tốt về nền kinh tế được
phát đi như lãi suất cơ bản và giá xăng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu
dùng giảm đáng kể đã không nhận được những phản ứng tích cực
nào từ thị trường và chỉ số chứng khoán cả 2 sàn Thành phố Hồ Chí
Minh và Hà Nội đều giảm. Điều đó cho thấy nhà đầu tư Việt Nam đã
không còn quan tâm đến các thông tin tốt từ nền kinh tế trong nước
nữa. Cái mà họ quan tâm là diễn biến tình hình giao dịch ở các
TTCK Mỹ, Anh, Nhật Bản…thế nào và sẽ có hành vi đầu tư tương
tự.
Vậy là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm
lý đầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam: từ đầu tư theo nhà đầu tư
nước ngoài ở trong nước sang đầu tư theo các “nhà đầu tư ngoài
nước”. Tâm lý này trở thành một rào cản không nhỏ cho các nỗ lực
của Chính phủ nhằm vực dậy TTCK. Nhiều chuyên gia đã chỉ ra rằng,
khi thị trường tài chính có biến động mạnh ở một hoặc nhiều nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status