2
KHẢO SÁT SỰ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA TRỰC KHUẨN MỦ XANH
TRÊN IN VITRO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NAM
TRONG 33 THÁNG (TỪ THÁNG 01/2007- THÁNG 10/2009)
KTV Trần Thị Kim Loan
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) bình thường ít có ở ngoại cảnh.
Chúng thường cộng sinh trên da hoặc niêm mạc của vật chủ. Đôi khi tìm thấy trong
môi trường Bệnh viện (nước, giường bệnh ) Chúng chỉ gây bệnh khi có điều kiện,
như: gây nhiễm khuẩn huyết, viêm đường tiết niệu, viêm phúc mạc, viêm phổi, nhiễm
khuẩn vết thương mà điều kiện vệ sinh kém hoặc sử dụng các dụng cụ trong điều kiện
không vô trùng.
Ngày nay, trực khuẩn mủ xanh là một trong những nguyên nhân chính gây nhiễm
khuẩn bệnh viện. Việc nhiễm P. aeruginosa ngày càng trở nên quan trọng là do chúng
đề kháng cao với ngoại cảnh, hóa chất và đề kháng rất mạnh đối với kháng sinh.
Vì vậy trên lâm sàng, nhiễm trùng do trực khuẩn mủ xanh gây ra điều trị kém
đáp ứng và sử dụng nhiều loại kháng sinh mạnh dẫn đến kết quả hạn chế, tốn kém.
Về mặt sinh học, việc đánh giá tác nhân gây bệnh dựa vào kết quả nuôi cấy mọc
trực khuẩn mủ xanh khi bệnh phẩm lấy đúng qui cách.
Đề tài này được chúng tôi tiến hành với các mục tiêu:
1. Đánh giá sự kháng kháng sinh của trực khuẩn mủ xanh.
2. Thực hiện chức năng cần thiết của một khoa vi sinh bệnh viện tuyến tỉnh như
Bộ Y tế đã đề cập trong qui chế kiểm tra bệnh viện.
3. Hỗ trợ lâm sàng lựa chọn kháng sinh và điều trị bệnh nhân trong những
trường hợp nghi ngờ tác nhân gây bệnh là trực khuẩn mủ xanh. Cùng với khoa chống
nhiễm khuẩn hạn chế nhiễm trùng bệnh viện do trực khuẩn mủ xanh gây ra.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng nghiên cứu:
Tất cả các mẫu bệnh phẩm nuôi cấy đúng qui cách có mọc trực khuẩn mủ xanh
từ tháng 01/2007 đến 10/2009.
- Pyorubin: màu đỏ sẫm.
- Pyomelanin: màu nâu đen.
Dựa vào kháng nguyên O, người ta chia trực khuẩn mủ xanh làm 12 nhóm
Trực khuẩn mủ xanh:
Ưa khí tuyệt đối, tạo thành váng trên mặt canh thang.
Oxydaza (+).
Chuyển hóa Glucose theo con đường Oxy hóa.
Lactose (-).
Simmocitrat (+).
Indol (-).
Lysin decarboxylase (-).
Làm lỏng geatin. 4
2. Chất liệu và phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu.
Trực khuẩn mủ xanh được phân lập xác định theo kỹ thuật nuôi cấy thường
qui của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Kỹ thuật kháng sinh đồ: theo phương pháp của ông Kirby Bauer.
Môi trường nuôi cấy và tem đặt kháng sinh của hãng BIORAD (Pháp), một
số ít của hãng Nam Khoa.
3. Kỹ thuật thu thập và xử lí số liệu:
Dùng phương pháp thống kê thông thường.
III. KẾT QUẢ:
Thời gian : 33 tháng (từ 01/2007 đến 10/2009)
Gồm : 230 trường hợp.
1. Về mặt sinh học:
Bảng 1: Số loại vi khuẩn trên một mẫu bệnh phẩm:
Số loại vi
Số mẫu có
TKMX
230
Tổng số mẫu
XN
72023
Tỷ lệ ( % )
0,32%
Biểu đồ 2:
6
2. Tình hình nhạy cảm kháng sinh của trực khuẩn mủ xanh tại BVĐK
Quảng Nam (Từ 01/2007 – 10/2009):
2.1 KHẢO SÁT SỰ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA 230 TRƯỜNG HỢP VỚI
CÁC LOẠI KHÁNG SINH ĐÃ ĐẶT TẠI BỆNH VIỆN ĐK QNAM
4
Ceftazidime
230
28
21
181
5
Ceftriaxone
230
56
31
143
6
Cephalecine
230
6
11
213
7
Ciprofloxaxine
200
55
9
136
8
Clarythromycine
192
5
5
182
14
Imipenem
150
148
1
1
7
2.2 TỶ LỆ NHẠY CẢM KHÁNG SINH ĐÃ ĐẶT CỦA TRỰC KHUẨN MỦ
XANH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NAM
(TỪ 01/2007-10/2009)
STT
Tên kháng sinh
Tỷ lệ (%)
Nhạy cảm
Tỷ lệ (%)
Giới hạn
Tỷ lệ (%)
Đề kháng
1
Amikacine
28,26
8,26
63,48
2
Amo + A.
clavulanic
10,00
2,60
94,79
9
Co- trimoxazol
1,56
2,60
95,83
10
Gentamycine
17,83
9,13
73,04
11
A. nalidixic
14,78
10,87
74,35
12
Nofloxacine
23,44
13,54
63,02
13
Ofloxacine
20,31
13,02
66,67
14
Imipenem
98,67
90%
73,04%
Nofloxacine
95%
63,02%
Biểu đồ 3: Bảng 4: Phân chia theo nguồn gốc nhiễm khuẩn:
Nguồn gốc
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Nhiễm khuẩn ngoại khoa
92
40,00
Nhiễm khuẩn hô hấp
66
28.70
Nhiễm khuẩn huyết
23
10,00
Nhiễm khuẩn tiết niệu
49
Với kết quả trên cho ta nghĩ đến tình trạng sử dụng kháng sinh của Bênh viện Đa
khoa Quảng Nam và cảnh báo tình trạng lạm dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm
trùng .
10
Từ mức độ phân tích trên cho ta thấy hiện nay trực khuẩn mủ xanh nhạy cảm cao
với Imipenem, còn nhạy với Amikacine, Cifrofloxacin, Ceftriaxone nhưng
đề kháng rất cao đối với Cephalecine, Co- trimoxazol, Clarithromycin…
V. BIỆN PHÁP CAN THIỆP:
Qua 33 tháng khảo sát về sự kháng kháng sinh của trực khuẩn mủ xanh chúng ta rút ra
được một số ý kiến sau:
Những năm gần đây cùng với sự phát triển của đất nước hội nhập thế giới và các nước
trong khu vực, nhiều loại kháng sinh mới đã được đưa vào và sử dụng tại nước ta nói
chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng. Bên cạnh đó với mức độ quá tải người bệnh như
hiện nay, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý, không hiệu quả đã gây tốn kém lãng
phí không cần thiết, và nhất là nhanh chóng đưa tỉ lệ đề kháng kháng sinh tăng cao,
đặc biệt là đối với khiễm khuẩn Bệnh viện.
Lạm dụng kháng sinh cho những trường hợp có thể không cần điều trị kháng sinh là
một vấn đề y khoa nghiêm trọng. Việc chỉ định kháng sinh tức thì cho người bệnh có
một nhiễm khuẩn thông thường để làm hài lòng người bệnh là không cần thiết, mà
thay vào đó là giải thích rõ ràng về tình trạng bệnh và về nhu cầu y khoa cho người
bệnh là cần thiết hơn.
Chiến lược kiểm soát đề kháng kháng sinh gồm cả các biện pháp tiếp cận toàn diện
về chính sách, giáo dục và cả những chương trình thông tin thống nhất, hạn chế danh
mục thuốc dùng trong Bệnh viện và chọn lựa các kháng sinh có tiềm năng đề kháng
thấp.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vi sinh vật y học.
2. Tài liệu tập huấn kiểm soát nhiễm khuẩn năm 2009. –Bệnh viện Trung Ương
Huế