NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT ĐẶT MESH TIỀN PHÚC MẠC ĐIỀU
TRỊ THOÁT VỊ BẸN (TEP)
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị bẹn là một bệnh lý ngoại khoa thường gặp ở các cơ sở phẫu thuật
()
và có nhiều
phương pháp phẫu thuật điều trị bệnh này. Tỉ lệ tái phát là một yếu tố quyết định cho việc
chọn lựa phương pháp phẫu thuật. Đặt mảnh ghép qua mổ mở cho tỉ lệ tái phát thấp
(,,)
. Từ khi
phẫu thuật cắt túi mật nội soi ra đời, cho đến nay phẫu thuật nội soi đã dần dần thay thế phẫu
thuật mở trong nhiều loại phẫu thuật
(17)
.
Phẫu thuật phục hồi thành bụng qua nội soi được thử nghiệm từ năm 1982 bởi Ger, đến năm
1989 được Bogajavalenski thực hiện trên người. Sau đó phẫu thuật này được các phẫu thuật
viên thực hiện ngày càng nhiều và có nhiều cải tiến về kỹ thuật
(,,,)
.
Hiện còn hai phương pháp mổ qua ngả nội soi là: phương pháp xuyên ổ bụng vào khoang
tiền phúc mạc (TAPP: Transabdominal preperitoneal repair) và phương pháp ngoài phúc mạc
(TEP: Total extraperitoneal repair)
()
. Phương pháp đầu có bất lợi là phải vào ổ bụng nên cần
gây mê và có thể gây dính tạng về sau
()
. Phương pháp ngoài phúc mạc giống như phương
pháp mổ mở ngả tiền phúc mạc, nên phương pháp này cũng mổ được dưới gây tê vùng
()
. Từ
thực tế trên, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ
ngoài gián tiếp.
Hố bẹn giữa: Nằm giữa động mạch thượng vị dưới và thừng động mạch rốn, là nơi xảy ra
thoát vị bẹn trực tiếp.
Hố bẹn trong: Nằm giữa thừng động mạch rốn và dây treo bàng quang, là nơi xảy ra thoát
vị bẹn chéo trong, rất hiếm gặp.
2.2 Nguyên nhân và sinh lý bệnh
Cho đến nay, nguyên nhân tại sao chỉ có một số người bị thoát vị bẹn, đối với thoát vị
bẹn thể trực tiếp, vẫn chưa được biết rõ. Riêng đối với thoát vị bẹn thể gián tiếp, tồn tại
ống phúc tinh mạc được xem là nguyên nhân chủ đạo. Mặc dù, trong một số không ít
trường hợp, không có thoát vị bẹn dù tồn tại ống phúc tinh mạc. Nhiều nghiên cứu đã cố
gắng tìm hiểu đáp ứng của vòng bẹn trong đối với sự gia tăng áp lực trong ổ phúc mạc.
Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, lỗ bẹn sâu có tác dụng như một cấu trúc dạng van, có
vai trò ngăn cản không cho các tạng chui qua lỗ bẹn sâu khi có tăng áp lực đột ngột như
khi ho, rặn Trong thoát vị bẹn gián tiếp, chức năng này bị suy yếu hay hầu như mất
hẳn.
Đối với thoát vị bẹn trực tiếp, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các biến loạn về chuyển hóa và
sinh hóa đóng vai trò quan trọng trong hình thành mà đặc biệt là khả năng tái phát. Trong
đó nổi bật là vai trò của các sợi collagen. Ở các bệnh nhân bị thoát vị bẹn trực tiếp,
người ta ghi nhận sự giảm tạo collagen, giảm hàm lượng collagen và giảm trọng lượng
các sợi collagen. Tuy nhiên bản chất của quá trình này vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ.
2.3 Phân loại thoát vị bẹn
Theo vị trí giải phẫu
Thoát vị bẹn chéo ngoài: Đa số là thoát vị bẩm sinh, tạng chui ra ngoài qua hố bẹn
ngoài, vào ống phúc tinh mạc để xuống bìu. Túi thoát vị nằm trong bao xơ thừng tinh.
Thoát vị bẹn trực tiếp: Đa số là thoát vị mắc phải, tạng chui ra ngoài đi qua hố bẹn giữa.
Túi thoát vị nằm ngoài bao xơ thừng tinh.
Thoát vị bẹn chéo trong: tạng chui ra ở hố bẹn trong, rất hiếm gặp.
Theo nguyên nhân
Thoát vị bẩm sinh: Do tồn tại ống phúc tinh mạc, là thoát vị chéo ngoài và thường gặp ở
trẻ em.
thì dùng bàn tay bên đó: Ngón trỏ ở nếp bụng-mu thấp, ngón giữa theo nếp bẹn còn ngón
nhẫn ở hõm bầu dục ở đáy tam giác Scarpa. Rồi bảo bệnh nhân ho mạnh: Nếu cảm giác
chạm ở ngón trỏ là thoát vị bẹn trực tiếp, nếu ở ngón giữa là thoát vị bẹn gián tiếp còn
nếu ở ngón nhẫn là thoát vị đùi.
Ngoài ra còn có một số nghiệm pháp khác như nghiệm pháp lăn thừng tinh của
Ladd (rolling test), dấu hiệu cọ xát của lụa
Soi đèn : Soi bằng đèn bấm, trong phòng tối. Soi từng bên bìu và so sánh với bên đối
diện. Trong trường hợp tràn dịch màng tinh hoàn, tràn dịch ống Nuck hay nang nước
thừng tinh, nang ống Nuck thì có hiện tượng thấu sáng. Trong trường hợp thoát vị bẹn thì
giảm sáng so với bên đối diện.
Siêu âm : Nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò của siêu âm trong chẩn đoán thoát vị. Siêu
âm cho thấy hình ảnh của các quai ruột hay mạc nối bên trong khối phồng. Đôi khi siêu
âm còn cho phép đo được đường kính lỗ bẹn sâu.
Nội soi ổ bụng : Cho phép thấy được lỗ bẹn sâu rộng, tạng thoát vị chui qua lỗ bẹn sâu.
2.5 Chẩn đoán phân biệt
Tràn dịch màng tinh hoàn : - Da bìu căng.
- Lỗ bẹn nông không rộng.
- Không sờ được tạng trong túi thoát vị.
- Soi đèn.
- Siêu âm.
Nang nước thừng tinh
Dãn tĩnh mạch thừng tinh : Sờ cảm giác như búi giun.
2.6 Phân biệt thoát vị bẹn trực tiếp và gián tiếp
Tuổi.
Tiền sử, bệnh sử.
Nghiệm pháp “chạm ngón”
2.7 Phân biệt thoát vị bẹn nghẹt với xoắn tinh hoàn
Nếu là xoắn tinh hoàn thì: - Tiền sử không có thoát vị bẹn.
- Da bìu có thể nề đỏ.
- Tinh hoàn bên bị xoắn lên cao hơn bình thường.
- Đặt tấm nhân tạo (Prothèse).
- Mổ nội soi trước phúc mạc hay trong phúc mạc.
3. ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu từ tháng 6/2012 đến hết tháng 9/2013 đối với bệnh nhân
thoát vị bẹn được chọn lựa tại Khoa ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng
Nam.
3.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu.
Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân
-Bệnh nhân nam, tuổi ≥ 18
-Thoát vị bẹn một bên hoặc hai bên, thoát vị lần đầu .
Tiêu chuẩn loại trừ
- Thoát vị bẹn nghẹt.
-Có tiền sử phẫu thuật ở khoang tiền phúc mạc vùng chậu như: đặt mảnh ghép để tái
tạo thành bụng, lấy sỏi niệu quản đoạn chậu…
-Có bệnh lý nội khoa phức tạp: suy tim, bệnh lý mạch vành, bệnh lý hô hấp, xơ gan,
rối loạn đông máu, tăng nhãn áp…
-Có tiền sử nhiễm trùng toàn thân hoặc khu trú vùng chậu mới xảy ra, tiền sử xạ trị
vào vùng chậu.
Kỹ thuật
Bệnh nhân được vô cảm bằng gây mê hoặc gây tê tủy sống.
Phương pháp ngoài phúc mạc
Rạch da 10mm dưới rốn, rạch lá trước bao cơ thẳng bụng phía bên thoát vị, vào trocar 10
(phía sau cơ và phía trước lá sau bao cơ thẳng bụng). Bơm khí CO
2
, áp lực tối đa 12mmHg.
Sử dụng kính soi phẫu tích về phía xương mu, phía bên thoát vị. Vào tiếp 2 trocar 5mm. Phẫu
tích bộc lộ dây chằng lược, thành bụng trước, dải chậu mu. Túi thoát vị trực tiếp thì đẩy lại
vào xoang phúc mạc; túi thoát vị gián tiếp nhỏ thì cắt trọn; túi thoát vị gián tiếp to thì cắt
ngang ở lỗ bẹn sâu, để hở đầu xa. Phẫu tích phúc mạc ra khỏi bó mạch tinh hoàn, ống dẫn
của phẫu thuật.
4.8 Thời gian nằm bệnh viện, thời gian trở lại sinh hoạt và làm việc.
Thời gian trở lại sinh hoạt bình thường là 4-5 ngày
Thời gian nằm viện trung bình là 7±2,5 ngày
5. BÀN LUẬN
Sự phát triển của phẫu thuật nội soi trong điều trị thoát vị bẹn cũng giống như trong phẫu
thuật mở, đầu tiên là nút chận, miếng vá nhỏ, đến nay là mảnh ghép lớn - điều này làm tỉ lệ
tái phát giảm đi rõ rệt. Phẫu thuật nội soi cũng có nhiều biến đổi. Đầu tiên là phương pháp đặt
mảnh ghép trong phúc mạc (IPOM: Intraperitoneal onlay mesh repair): phương pháp này có
thời gian mổ nhanh nhưng có bất lợi là gây dính tạng và rò ruột với tỉ lệ khá cao (25%)
()
. Sau
đó là phương pháp xuyên bụng vào khoang tiền phúc mạc (TAPP): phương pháp này đặt
mảnh ghép ở khoang tiền phúc mạc, nhưng khác với mổ mở ngả sau là tiếp cận khoang tiền
phúc mạc từ trong xoang phúc mạc (nghĩa là phải vào xoang phúc mạc, sau đó rạch lá phúc
mạc thành, phẫu tích khoang tiền phúc mạc, đặt mảnh ghép và khâu lại lá phúc mạc), điều
này làm kéo dài thời gian mổ vì phải khâu lại lá phúc mạc và có bất lợi là có thể gây dính
tạng trong xoang phúc mạc, nhưng với kết quả tốt, tỉ lệ tai biến và biến chứng thấp nên phẫu
thuật được thực hiện rất nhiều
(,,)
. Đến nay là phương pháp ngoài phúc mạc (TEP): phương
pháp này hoàn toàn giống với mổ mở ngả sau, nên tránh được biến chứng của đường rạch
phúc mạc hoặc của mảnh ghép trong xoang phúc mạc
(,)
.
Qua tổng kết chúng tôi nhận thấy bệnh nhân trở lại sinh hoạt bình thường vào ngày thứ 4
- 5, không có đau mạn tính, không có teo tinh hoàn, và không có tái phát với thời gian
theo dõi còn ngắn. Điều này cho thấy phẫu thuật đặt mảnh ghép qua ngả nội soi ngoài
phúc mạc dưới gây tê tủy sống và gây mê có tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tái phát thấp, bệnh
nhân ít đau, thời gian nằm bệnh viện ngắn, thời gian trở lại sinh hoạt và trở lại làm việc
ghép phải che phủ toàn bộ lỗ cơ lược, vì vậy cần phải phẫu tích toàn bộ lỗ cơ lược: bộc lộ
dây chằng lược, dải chậu mu, mặt sau thành bụng trước, phải tách túi thoát vị và phúc mạc ra
khỏi mạch máu tinh hoàn và thành bụng sau. Mảnh ghép khi trải ra phải phẳng, không được
gấp và bờ dưới phải áp sát thành bụng sau. Một số tác giả cho thấy sử dụng mảnh ghép lớn
thời gian mổ nhanh hơn so với mảnh ghép nhỏ. Chúng tôi nhận thấy nên sử dụng mảnh ghép
lớn vì điều này làm rút ngắn thời gian mổ và giảm tỉ lệ tái phát. Trong nhóm nghiên cứu
chúng tôi không thấy tái phát, nhưng điều này cần phải theo dõi lâu dài ít nhất là 3-5 năm.
6. KẾT LUẬN
Phẫu thuật đặt mảnh ghép qua ngả nội soi ngoài phúc mạc trong điều trị thoát vị bẹn an toàn
và hiệu quả, có tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tái phát thấp, thời gian nằm bệnh viện ngắn, thời gian
trở lại sinh hoạt và trở lại làm việc sớm.
PHỤ LỤC
Hình ảnh minh họa 3 trocart đường giữa
Bệnh nhân chuyển mổ mở do thoát vị cầm tù
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Beets GL, Geldere DV, Baeten CGMI, Go PMNYH.(1996) Long-term results of
giant prosthetic reinforcement of the visceral sac for complex recurrent inguinal hernia.
Br J Surg, 83: 203-206.
2. Begin GF.(1993) Cure cœlioscopique des hernies de l’aine par voie preperitoneale. J
Cœlio-Chir, 7: 23-28.
3. Benchetrit S, Brault JA.(1994) Intérêt du trocart à ballonnet PDB dans les
hernioplasties sous cœlioscopie voie totalement extra-péritonéale. J Cœlio-Chir, 11: 42-
45.
4. Bendavid R.(1998) Complications of groin hernia surgery. Surg Clin North Am,
78(6): 1089-1103.
5. Champault G.(1994) Chirurgie laparoscopique des hernies de l’aine, la voie extra-
péritonéale. Chirurgie, 131(8-9): 333-341.
6. Chiofalo R, Holzinger F, Klaiber C.(2001) Total endoscopic preperitoneal mesh
1224 consecutive cases. Surg Endosc, 15(1): 50-4.
20. Stoppa R.(1992) Laparoscopie et chirurgie herniaire. Chirurgie, 118: 585-587.
21. Van der Hem JA, Hamming JP, Meeuwis JD, Oostvogel HJ.(2001) Totally
extraperitoneal endoscopic repair of recurrent inguinal hernia. Br J Surg, 88(6): 884-6.