NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT ĐẶT MESH TIỀN PHÚC MẠC
ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN (TEP)
Nguyễn Tải
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị bẹn là một bệnh lý ngoại khoa thường gặp ở các cơ sở phẫu thuật và có nhiều
phương pháp phẫu thuật điều trị bệnh này. Tỉ lệ tái phát là một yếu tố quyết định cho việc chọn lựa
phương pháp phẫu thuật. Đặt mảnh ghép qua mổ mở cho tỉ lệ tái phát thấp. Từ khi phẫu thuật cắt túi
mật nội soi ra đời, cho đến nay phẫu thuật nội soi đã dần dần thay thế phẫu thuật mở trong nhiều
loại phẫu thuật.
Phẫu thuật phục hồi thành bụng qua nội soi được thử nghiệm từ năm 1982 bởi Ger, đến năm
1989 được Bogajavalenski thực hiện trên người. Sau đó phẫu thuật này được các phẫu thuật viên
thực hiện ngày càng nhiều và có nhiều cải tiến về kỹ thuật. Hiện còn hai phương pháp mổ qua ngả
nội soi là: phương pháp xuyên ổ bụng vào khoang tiền phúc mạc (TAPP: Transabdominal
preperitoneal repair) và phương pháp ngoài phúc mạc (TEP: Total extraperitoneal repair. Phương
pháp đầu có bất lợi là phải vào ổ bụng nên cần gây mê và có thể gây dính tạng về sau. Phương pháp
ngoài phúc mạc giống như phương pháp mổ mở ngả tiền phúc mạc, nên phương pháp này cũng mổ
được dưới gây tê vùng. Từ thực tế trên, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ứng
dụng kỹ thuật đặt mesh tiền phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (TEP)” với mục tiêu: “Đánh giá
kết quả phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn ”.
II. ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu từ tháng 6/2012 đến hết tháng 3/2013 đối với bệnh nhân
thoát vị bẹn được chọn lựa tại Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Đây là khảo sát tiến cứu, bệnh nhân được lựa chọn theo một số tiêu chuẩn đề ra, được phẫu
thuật tái tạo thành bụng qua nội soi, theo dõi sau mổ. Các chi tiết được ghi nhận theo một mẫu bệnh
án thống nhất.
2.2.1. Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân:
- Các bệnh nhân nam, trên 20 tuổi
- Thoát vị bẹn một bên hoặc hai bên, thoát vị lần đầu .
Tuổi trung bình là 51 ± 6,5 tuổi.
Bảng 2: Vị trí thoát vị bẹn
Vị trí thoát vị Số lượng %
Trái 10 41,6
Phải 14 58,4
Hai bên 0 0
Tổng cộng 24 100
Bảng 3: Loại thoát vị bẹn
100% bệnh nhân của chúng tôi là thoát vị bẹn gián tiếp.
Bảng 4: Thời gian mổ.
Thời gian mổ trung bình là 75 phút ±25 phút
Bảng 5: Kích thước mảnh ghép.
Chúng tôi dùng mảnh ghép 15x15cm.
Bảng 6:
Chúng tôi có 2 trường hợp chuyển mổ mở đặt Mesh theo kỹ thuật Lichtenstein. Một
trường hợp do trong quá trình mổ bị thủng phúc mạc lỗ lớn làm xẹp phẫu trương, trường hợp
còn lại do thoát vị cầm tù, sau khi bộc lộ túi thoát vị, chúng tôi mở túi và thử kéo lên nhưng thất
bại.
Bảng 7: Tai biến, biến chứng.
Không có biến chứng nặng. Có 2 trường hợp đau kéo dài sau mổ, đau đến ngày thứ 6 và thứ
7 của phẫu thuật.
Bảng 8: Thời gian nằm bệnh viện, thời gian trở lại sinh hoạt và làm việc.
Thời gian trở lại sinh hoạt bình thường là 4-5 ngày
Thời gian nằm viện trung bình là 7±2,5 ngày
IV. BÀN LUẬN
Sự phát triển của phẫu thuật nội soi trong điều trị thoát vị bẹn cũng giống như trong phẫu
thuật mở, đầu tiên là nút chận, miếng vá nhỏ, đến nay là mảnh ghép lớn - điều này làm tỉ lệ tái phát
giảm đi rõ rệt. Phẫu thuật nội soi cũng có nhiều biến đổi. Đầu tiên là phương pháp đặt mảnh ghép
trong phúc mạc (IPOM: Intraperitoneal onlay mesh repair): phương pháp này có thời gian mổ nhanh
nhưng có bất lợi là gây dính tạng và rò ruột với tỉ lệ khá cao (25%). Sau đó là phương pháp xuyên
chúng tôi sử dụng mảnh ghép lớn). Một yếu tố để ngừa tái phát là mảnh ghép phải che phủ toàn bộ
lỗ cơ lược, vì vậy cần phải phẫu tích toàn bộ lỗ cơ lược: bộc lộ dây chằng lược, dải chậu mu, mặt
sau thành bụng trước, phải tách túi thoát vị và phúc mạc ra khỏi mạch máu tinh hoàn và thành bụng
sau. Mảnh ghép khi trải ra phải phẳng, không được gấp và bờ dưới phải áp sát thành bụng sau. Một
số tác giả cho thấy sử dụng mảnh ghép lớn thời gian mổ nhanh hơn so với mảnh ghép nhỏ. Chúng
tôi nhận thấy nên sử dụng mảnh ghép lớn vì điều này làm rút ngắn thời gian mổ và giảm tỉ lệ tái
phát. Trong nhóm nghiên cứu chúng tôi không thấy tái phát, nhưng điều này cần phải theo dõi lâu
dài ít nhất là 3-5 năm.
V. KẾT LUẬN
Phẫu thuật đặt mảnh ghép qua ngã nội soi ngoài phúc mạc trong điều trị thoát vị bẹn dưới
gây tê tủy sống và gây mê an toàn và hiệu quả, có tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tái phát thấp, thời gian
nằm bệnh viện ngắn, thời gian trở lại sinh hoạt và trở lại làm việc sớm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Beets GL, Geldere DV, Baeten CGMI, Go PMNYH.(1996) Long-term results of giant prosthetic
reinforcement of the visceral sac for complex recurrent inguinal hernia. Br J Surg, 83: 203-206.
2. Begin GF.(1993) Cure cœlioscopique des hernies de l’aine par voie preperitoneale. J Cœlio-Chir,
7: 23-28.
3. Benchetrit S, Brault JA.(1994) Intérêt du trocart à ballonnet PDB dans les hernioplasties sous
cœlioscopie voie totalement extra-péritonéale. J Cœlio-Chir, 11: 42-45.
4. Bendavid R.(1998) Complications of groin hernia surgery. Surg Clin North Am, 78(6): 1089-
1103.