TÌNH HÌNH BĂNG HUYẾT SAU SANH PHẢI TRUYỀN MÁU
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NAM NĂM 2012
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 500 ngàn phụ nữ chết
hàng năm liên quan đến thai nghén và sanh đẻ, 99% trường hợp xảy ra ở các
nước đang phát triển, trong số đó có 150.000 ca chết vì băng huyết sau sanh
(BHSS) chiếm 25% tử vong mẹ. BHSS có thể xảy ra ngay sau sanh hay trễ hơn,
có thể chảy máu ồ ạt, hay chảy máu kéo dài. Theo TS Vũ Thị Nhung
(TP.HCM): "Trong số khoảng 30.000 sản phụ sinh tại Bệnh viện Hùng Vương
mỗi năm, băng huyết sau sinh chiếm tỷ lệ từ 1,5%-2%, trong đó có 35% phải
truyền máu". Theo thống kê Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM): "Băng huyết sau sinh
là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, chiếm tỷ lệ từ 2%-10% tổng số
ca. Khảo sát trong nhiều năm liền tại Bệnh viện Từ Dũ, mỗi năm có ít nhất 100
trường hợp sản phụ bị băng huyết sau sinh trong tình trạng nặng".
Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng nam, BHSS chiếm tỉ lệ cao nhất trong 5
tai biến sản khoa, trong đó BHSS nặng vẫn thường là mối nguy hiểm đe dọa
đến tính mạng và sức khỏe sản phụ. Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tàì
“Tình hình BHSS phải truyền máu năm 2012 tại Bệnh viện Quảng Nam” với 2
mục tiêu:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của các ca BHSS nặng cần truyền máu.
2. Nghiên cứu các nguyên nhân gây BHSS và nhận xét các phương pháp xử
trí BHSS cần truyền máu.
II.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh: Tất cả các bệnh án của bệnh nhân được chẩn đoán
BHSS nặng có truyền máu tại bệnh viện Quảng Nam từ ngày 1/1/ 2012 đến
ngày 31/12/ 2012
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ: các bệnh về máu có sẵn từ trước, hồ sơ không đầy đủ
thông tin.
2.2 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu mô tả
2.3 Thu thập số liệu: dựa vào bảng thu thập chi tiết theo mẫu soạn sẵn để ghi
Bảng 6: Thời gian chuyển dạ
Nhận xét: Số phụ nữ BHSS có truyền máu đa số chuyển dạ <12h, trong đó
nhóm BHSS nhiều nhất lại là 2- 6h
Bảng 7: Sử dụng thuốc tăng go trong chuyển dạ
Tăng go Số ca Tỉ lệ
Misoprostol 11 12,6
oxytocin 43 49,4
Misoprostol+ oxytocin 2 5,2
Không dùng thuốc 31 35,6
Nhận xét: Nhóm có sử dụng thuốc chiếm tỉ lệ cao, trong đó nhóm chuyền tăng
go oxytocin chiếm 49,4%.
Bảng 8: Hình thức can thiệp trong chuyển dạ
Nhận xét: Đa số phụ nữ sinh thường 66,6% sau đó đến MLT.
Bảng 9: Trọng lượng thai khi sinh:
Trọng lượn(g) Số ca Tỉ lệ
< 2500g 07 8,0
2500- 3000 36 41,3
3100- 3400 23 26,4
3500- 4000 20 23
> 4000 1 1,1
Nhận xét: Tỉ lệ BHSS nằm ở nhóm mẹ sinh trẻ có cân nặng trong giới hạn bình
thường 2500- 3000g chiếm 41,3%.
3.3 Nguyên nhân băng huyết sau sinh
Bảng 10: Nguyên nhân băng huyết sau sinh
Nguyên nhân Số ca Tỉ lệ
Đờ tử cung 71 81,6
Chấn thương sinh dục 9 10,3
Bất thường nhau 6 6,9
Vỡ tử cung sau sinh 1 1,1
Bảng 14: Thời gian can thiệp ngoại khoa:
Thời gian Số ca Tỉ lệ
Ngay từ lúc vào viện 06 19,4
Sau đẻ cho đến 2h 08 25,8
Sau đẻ 2- 6h 12 38,7
Sau đẻ > 6h 05 16,1
Nhận xét: Thời gian can thiệp ngoại khoa đa số xảy ra trong 2- 6h đầu sau đẻ là
38,7%
Bảng 15: Các phương pháp can thiệp ngoại khoa:
Phương pháp Số ca Tỉ lệ
Khâu CTC 03 9,6
Khâu CTC+ âm đạo 01 3,3
Xẻ Hematome 05 16,1
Bảo tồn TC
- Thắt ĐMTC
- Khâu mũi Blynch
- Thắt ĐMhạ vị
02
06
04
6,4
19,3
12,9
Cắt tử cung 08 25,8
Cắt tử cung+ thắt A hạ vị 02 6,4
Mổ lần 2 sau cắt TC 02
Nhận xét: Trong những ca can thiệp ngoại khoa, tỉ lệ bảo tồn TC là 38,6%, cắt
TC là 32,2%, trong cắt TC có 2 ca phải mổ lại 2 lần vì chảy máu sau mổ.
Bảng 16: Nguyên nhân cắt Tử cung
Nguyên nhân Con so Con rạ
thống kê về BHSS trong sinh thường hay sinh mổ với RR= 0,8 (KTC 95% 0,4-
4,4). Sinh Forceps hay giác hút là một yếu tố nguy cơ của BHSS với OR= 1,66
(KTC 95% 1,06- 2,6). Sinh giác hút thất bại càng tăng yếu tố nguy cơ BHSS.Đa
số các ca BHSS có truyền máu có trọng lượng thai chiếm tỉ lệ tương đối bình
thường 2500-3000g chiếm tỉ lệ 41.3%. Như vậy, điều này cho thấy cần xem
xét, những can thiệp quá mức trong chuyển dạ làm cho một cuộc chuyển dạ
bình thường trở thành một cuộc chuyển dạ nguy cơ và hệ quả đưa đến cần phải
truyền máu trong BHSS. Chỉ có 4 ca có trọng lượng thai nhi ≥ 4000g, so với
kết quả của một số nghiên cứu đây là yếu tố nguy cơ cho BHSS với OR= 2,01
(KTC 95%1,93- 2,1). Tại một nghiên cứu ở Mỹ, thai 4000g- 4499g liên quan
với OR= 1,69 (KTC 95% 1,58- 1,82)
2. Trong nguyên nhân BHSS, Đờ tử cung chiếm hàng đầu trong BHSS có
truyền máu với tỉ lệ 81,6%, điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và
ngoài .Chấn thương sinh dục xếp hàng thứ 2 , trong số này có 03 ca rách CTC
phải khâu cầm máu, có 01 ca đờ TC thứ phát phải tiến hành cắt TC và 04 ca
hematome âm đạo phát hiện sau đẻ 4h phải xử trí phẫu thuật và truyền máu,
trong đó có 01 ca phải mở bụng để thắt Động mạch hạ vị. Như vậy, khi có chấn
thương sinh dục cần phát hiện sớm nhằm hạn chế mất máu ngay từ đầu có thể
giảm thiểu bệnh suất cần truyền máu cho bệnh nhân và các can thiệp nặng nề
tiếp theo sau đó như cắt TC hoặc thắt động mạch hạ vị. Các bất thường về nhau
bong và nhau sổ liên quan chủ yếu đến 04 ca nhau bong non, 02 ca nhau tiền
đạo, 03ca nhau bám chặt và 01 ca nhau cài răng lược. Trong các hồ sơ nghiên
cứu chúng tôi không ghi nhận các trường hợp sót rau gây BHSS, cũng có thể
các trường hợp đờ tử cung gây băng huyết đã bỏ qua ghi nhận này hoặc các
trường hợp sót rau phát hiện trên lâm sàng đã được xử trí sớm, không gây
BHSS và ảnh hưởng đến sản phụ phải truyền máu. Theo một số nghiên cứu ghi
nhận, BHSS liên quan đến sót rau xuất hiện với tỉ lệ 0,5-3% các cuộc chuyển dạ
và nó là nguyên nhân chiếm 10% trong các trường hợp BHSS. Nghiên cứu tại
Aberdeen trên 36000 thai phụ thấy rằng tỉ lệ BHSS ngã âm đạo ở nhóm sót
nhau là 21,3% trong khi ở nhóm chứng là 3,5%. Nghiên cứu cộng dồn ở Hà
ca BHSS có truyền máu. Tỉ lệ cắt TC trong những ca BHSS nặng phải can thiệp
ngoại khoa chiếm 32,2% và bảo tồn TC là 38,6%. Điều này cho thấy khoa Sản
có tiến bộ tương đối trong kỹ thuật bảo tồn TC ở ca BHSS nặng với việc ứng
dụng mũi B- Lynch cải tiến phối hợp với thắt ĐM hạ vị.
Lượng máu cần truyền ≤ 4 đơn vị chiếm khá cao 64,3%, số lượng máu
truyền thấp nhất là 1 đơn vị và số lượng máu truyền nhiều nhất là 35 đơn vị,
Trong các loại máu, đa số chuyền HC khối, sau đó máu toàn phần, máu tươi và
FFP. Điều này phù hợp với xu hướng chung hiện nay, thiếu yếu tố nào bù yếu tố đó.
V.KẾT LUẬN
1. Về đặc điểm lâm sàng của những ca BHSS phải truyền máu: Trong 87 ca
BHSS có truyền máu năm 2012, phụ nữ đa số ở lứa tuổi thuộc diện sinh đẻ 25-
34 chiếm 60,1%, con so tương đối phổ biến 49,4%, không có các yếu tố nguy
cơ 82,7%. Các yếu tố địa dư, nghề nghiệp khác biệt không có ý nghĩa thống kê(
p>0,05). Gần 50% có chuyền tăng go oxytocin trong chuyển dạ, sinh thường là
chủ yếu 66,6%, trọng lượng thai khi sinh đa số nằm trong chỉ số bình thường,
2500- 3000g là 41,3%,
2.Nguyên nhân BHSS có truyền máu do đờ TC là chủ yếu 81,6%, sau đó là
chấn thương sinh dục 10,3%, bất thường về nhau 6,9%, vỡ tử cung là 1,1%.Đa
số các trường hợp BHSS thành công với điều trị nội khoa 64%, phát hiện chủ
yếu trong 2 h đầu sau đẻ 68,9%, lượng máu mất 1000-1900ml là 51,7%.Có
31% can thiệp ngoại khoa, trong đó thời gian can thiệp ngoại khoa chủ yếu
trong 6h đầu sau đẻ, có 38,6% ca bảo tồn được tử cung.Lượng máu truyền
trong BHSS chủ yếu là hồng cầu khối và số đơn vị truyền máu trung bình trong
BHSS là , trong đó đa số từ 1- 4 đơn vị máu.
VI.KIẾN NGHỊ
- Cần theo dõi chuyển dạ qua biểu đồ để tránh những trường hợp can thiệp
không cần thiết nhằm giảm BHSS, không lạm dụng chuyền oxytocin trong
chuyển dạ và tuyệt đối không xử dụng Misoprostol để khởi phát chuyển dạ đối
với thai sống và thai trưởng thành.
-Đỡ đẻ đúng kỹ thuật, theo dõi và chăm sóc tốt sau sinh 2h đầu để phát hiện
Dương lần thứ IX, 2009
10. J Belghiti, G. Kayem, C. Dupont, R. Rudigoz, M-H Bouvier et F. Puech .
Khởi phát chuyển dạ bằng Oxytocin và Băng huyết sau sanh. Hội nghi Việt
Pháp Châu Á Thái Bình Dương lần thứ XII.
11 Nguyễn Đức Vy, Tình hình chảy máu sau đẻ tại Viện BVBMTSS trong 6
năm ( 1996- 2002), Tạp chí thông tin y học số 3 năm 2003, trang 36-39.
12- Phạm Huy Hiền Hào, Bạch Thu Cúc, BVPSTW Nghiên cứu tình hình chảy
máu sau đẻ tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2008- 2009. Hội nghị BCH
sản phụ khoa năm tháng 11 năm 2011.