ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN GDCD CẤP THPT - Pdf 25

ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN GDCD CẤP THPT
1
Tháng 01 năm 2010
I VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH DẠY HỌC MÔN GDCD.
1. Về nội dung dạy học.
Nhiều giáo viên (GV) đã nghiên cứu những điểm mới của chương trình sách giáo
khoa (SGK) mới nên đã đảm bảo nội dung dạy học theo yêu cầu của chương trình
môn GDCD cấp THPT. Tuy nhiên, cũng còn khá nhiều GV chưa quán triệt yêu cầu
dạy học theo chuẩn chương trình nên chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu về nội dung
dạy học ở từng bài.
2. Về đổi mới phương pháp dạy học (PPDH).
GV đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới PPDH. Tuy nhiên, số giờ thực sự đổi
mới PPDH chưa nhiều, hiện tượng lệ thuộc vào SGK, sách GV, dạy chay còn phổ
biến. Việc rèn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ và hành vi của học sinh chưa đạt được
yêu cầu của chương trình.
3. Về sử dụng thiết bị dạy học.
Nhìn chung GV đã sử dụng khá hiệu quả các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
tối thiểu (theo danh mục thiết bị dạy học mà Bộ GD&ĐT đã ban hành). Tuy nhiên,
nhiều trường chưa coi trọng việc tự làm thiết bị, đồ dùng dạy học. Việc áp dụng công
nghệ thông tin vào dạy học bước đầu đã được thực hiện nhưng còn nhiều lúng túng,
hiệu quả chưa cao.
4. Về đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả học tập của học sinh.
Nhiều GV đã cố gắng đổi mới KTĐG kết quả học tập của học sinh. Tuy nhiên, còn
phổ biến hiện tượng kiểm tra nặng về tái hiện kiến thức, chưa chú ý đến yêu cầu HS
vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề, tình huống thực tế. Việc kết hợp
câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan trong KTĐG ở nhiều nơi chưa hợp lí.
5. Về đội ngũ giáo viên.
- Hiện nay, vẫn còn tình trạng bố trí GV môn khác dạy môn GDCD. Công tác đào

cộng đồng, Tổ quốc, nhân loại và với môi trường tự nhiên.
b) Nội dung chương trình, SGK lớp 11.
- CD với kinh tế : cung cấp cho học sinh những hiểu biết tối thiểu về nội dung
một số phạm trù kinh tế như: hàng hoá, thị trường, tiền tệ… và nội dung 1 số QL kinh
tế cơ bản như: QL giá trị, QL cạnh tranh, QL cung - cầu; và 1 số vấn đề về kinh tế
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, việc thực hiện nền KT nhiều thành phần và vai trò
quản lý KT của Nhà nước; rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng những kiến thức
đã học vào cuộc sống phù hợp với lứa tuổi, ý thức và trách nhiệm rèn luyện để góp
phần phát triển kinh tế gia đình và đất nước.
- CD với các vấn đề CT-XH : cung cấp cho HS những hiểu biết phổ thông về
CNXH, Nhà nước XHCN nhưng chủ yếu gắn liền với thực tế xây dựng CNXH ở
nước ta; chú trọng GD cho HS một số chính sách của Nhà nước như : CS dân số và
việc làm; tài nguyên và bảo vệ môi trường; giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ, văn hoá, quốc phòng và an ninh; đối ngoại. giúp HS xác định cách thực hiện và
thái độ tôn trọng những chính sách đó của Đảng và Nhà nước.
c) Nội dung chương trình, SGK lớp 12.
* Cấu trúc theo 02 mạch nội dung :
3
- Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước và
nhân loại.
- Quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Một điểm mới : chương trình, SGK lớp 12 quán triệt được quan điểm hợp tác,
hội nhập cùng phát triển với thế giới và khu vực của Đảng, Nhà nước ta qua chủ đề :
Pháp luật với hòa bình và sự phát triển, tiến bộ của nhân loại.
2 Thực hiện dạy học môn GDCD theo chuẩn chương trình.
2.1. Khái niệm chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ môn GDCD
Chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ môn GDCD là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về
kiến thức, kỹ năng, thái độ của môn GDCD mà HS cần phải có và có thể đạt được sau
mỗi chủ đề / giai đoạn học tập.
2.2. Tầm quan trọng của chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ môn GDCD.

mình.
* Về kỹ năng :
- Biết tự nhận thức về bản thân đối chiếu với các yêu cầu đạo đức xã hội.
Học sinh biết cách tự nhận thức về bản thân (về tiềm năng, mặt mạnh, mặt yếu,
tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen ) trên cơ sở đối chiếu với các yêu cầu đạo đức
xã hội.
- Biết đặt mục tiêu phấn đấu rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân theo các giá trị đạo
đức xã hội.
Học sinh nói hoặc viết ra mục tiêu phấn đấu rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân theo
các giá trị đạo đức xã hội.
* Về thái độ :
- Coi trọng việc tu dưỡng và tự hoàn thiện bản thân.
Học sinh luôn chú ý đến việc tu dưỡng và tự hoàn thiện bản thân.
- Tự trọng, tự tin vào khả năng phát triển của bản thân; đồng thời biết tôn trọng,
thừa nhận và học hỏi những điểm tốt của người khác.
Học sinh tin vào bản thân, coi trọng, giữ gìn và phát triển khả năng của bản thân.
3 Những điểm mới chỉnh sửa trong SGK môn GDCD cấp THPT.
LỚP 10
Bài Trang Dòng Đã in trong SGK 2008 Sửa lại là
7 43 1 tốc độ rơi của các vật nặng,
nhẹ đều bằng nhau.
các vật nặng, nhẹ đều rơi
nhanh như nhau.
9 55 16,17 Truyện Kiều của Nguyễn Du Bỏ
Bài Trang Dòng Đã in trong SGK 2008 Sửa lại là
15 103 12-15 Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và yếu tố vật
chất nhân tạo
Chuyển thành chữ không
nghiêng

công dân không tự phát sinh
hay chấm dứt
Các quyền và nghĩa vụ
của công dân không tự
phát sinh, thay đổi hay
chấm dứt
2 19 14-15 tự giác thực hiện đúng đắn
quyền và nghĩa vụ của mình
theo Hiến pháp và pháp luật.
tự giác thực hiện đúng
đắn quyền và nghĩa vụ
của mình theo pháp luật.
2 23 5 Vi phạm kỉ luật là vi phạm
pháp luật xâm phạm các quan
hệ lao động,
Vi phạm kỉ luật là hành vi
vi phạm pháp luật xâm
phạm các quan hệ lao
động,
3 28 16-17 công dân được hưởng quyền
và nghĩa vụ như nhau,
công dân được hưởng
quyền và có nghĩa vụ như
6
nhau,
Bài Trang Dòng Đã in trong SGK 2008 Sửa lại là
5 46 14-15 không phân biệt dân tộc, tôn
giáo
không phân biệt giữa các
dân tộc

không quá bốn năm và
giảm 50% số thuế phải
nộp tối đa không quá chín
năm tiếp theo”.
9 100 5-6 đều có các quy định về bảo
vệ môi trường như một
nguyên tắc cơ bản trong từng
lĩnh vực họat động.
đều có các quy định liên
quan đến bảo vệ môi
trường.
9 102 9-10 có các quy phạm về bảo đảm
quốc phòng, bảo vệ an ninh
quốc gia như một nguyên tắc
họat động của Nhà nước.
có các quy phạm liên
quan đến bảo đảm quốc
phòng và bảo vệ an ninh
quốc gia.
107 Bài tập
2
2. Theo Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp năm 2003, cơ
sở kinh doanh đầu tư xây
dựng dây chuyền sản xuất
mới, mở rộng quy mô, đổi
mới công nghệ, cải thiện môi
trường sinh thái, nâng cao
Theo Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp năm 2008,

- Nghị định của Chính phủ ;
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC;
- Thông tư của Chánh án TANDTC và của Viện trưởng VKSNDTC ;
- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ;
- Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước ;
- Nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với CQTW của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể ;
- Thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC ; giữa
Bộ trưởng, Thủ trưởng CQ ngang Bộ với Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng
VKSNDTC ; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng CQ ngang Bộ ;
- Nghị quyết của HĐND các cấp ;
- Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp.
5 Vai trò của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
(Bài 1, GDCD lớp 12)
Pháp luật nước ta thể hiện vai trò cơ bản sau :
5.1. Pháp luật thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước
8
Pháp luật quy định quyền tự do kinh doanh của công dân trong hoạt động sản
xuất kinh doanh (Ví dụ: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp)  kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội
 phát triển kinh tế đất nước.
5.2. Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội
Pháp luật quy định về bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, cấm mọi
hành vi gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội  Giữ vững an ninh chính
trị và trật tự, an toàn xã hội.
5.3. Pháp luật là phương tiện bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm công bằng xã hội
- Pháp luật là phương tiện bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN :
+ Thực hiện quyền bầu cứ, ứng cử.

Vì vậy đòi hỏi thầy cô giáo có kiến thức rộng nhiều lĩnh vực, đặc biệt cần có kiến
thức xã hội, có nghệ thuật dạy học - giáo dục và có tâm hồn trong sáng.
IV ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN GDCD
* Phương pháp dạy học là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng. Có nhiều quan niệm,
quan điểm khác nhau về PPDH. Ở đây, PPDH được hiểu là cách thức, là con đường
hoạt động chung giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS), trong những điều kiện dạy
học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
* PPDH có ba cấp độ :
a. Quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy
tính tích cực của HS,…
Đó là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự
kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những
điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS
trong quá trình dạy học
b. Phương pháp dạy học cụ thể. Ví dụ: phương pháp đóng vai, thảo luận, thảo
luận, xử lí tình huống, trò chơi, …
Ở cấp độ này khái niệm PPDH được hiểu với nghĩa hẹp, là những hình thức, cách
thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học
c. Kĩ thuật dạy học. Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt
câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật ổ bi, kĩ thuật mảnh ghép,
kĩ thuật phản hồi tích cực,
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình
huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của
PPDH.
1 Thế nào là đổi mới PPDH ?
- Mục đích của đổi mới PPDH là nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
- Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH một cách tích cực và hiệu quả, phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm HS và đặc điểm
của từng lớp học, môn học.

môn GDCD đang được bước đầu thực hiện nhưng còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.
- Về quản lý chỉ đạo : nhiều cấp quản lý chưa thực sự quan tâm đến môn GDCD,
vẫn còn coi đó là môn phụ nên chưa tạo điều kiện về bố trí giáo viên và các điều kiện
cần thiết khác để giáo viên GDCD nâng cao chất lượng dạy học.
* Nguyên nhân :
- Một số GV ngại đổi mới vì không muốn mất nhiều thời gian, công sức đầu tư cho
soạn giảng;
11
- Nhận thức của đa số GV về đổi mới PPDH chưa đầy đủ. Ví dụ :
+ Cho rằng đổi mới PPDH là loại bỏ hoàn toàn các PPDH truyền thống và chỉ sử
dụng PPDH hiện đại;
+ Đồng nghĩa việc đổi mới PPDH với đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, vì
vậy, cho rằng phải có đầy đủ phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại thì mới đổi mới
được PPDH
- Đa số GV có ý thức đổi mới PPDH nhưng việc sử dụng các phương pháp, kỹ
thuật dạy học còn chưa nhuần nhuyễn, còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao.
4 Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD
4.1. Một số quan điểm về đổi mới PPDH môn GDCD
- Đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS phải phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của HS.
- Dạy học GDCD thông qua các hoạt động của HS. Các hoạt động dạy học phải
được GV thiết kế đan xen nhau một cách hợp lí trong tiết học, để vừa bảo đảm thực
hiện được mục tiêu bài học, vừa gây được hứng thú học tập cho HS.
- Đổi mới PPDH môn GDCD theo quan điểm hợp tác.
Trong dạy học môn GDCD, GV cần tạo cơ hội cho HS được hợp tác với GV và
với nhau trong lớp, trong nhóm nhỏ.
- Dạy học GDCD phải gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh.
- Dạy học GDCD phải kết hợp giữa PPDH và phương pháp giáo dục đạo đức, giữa
các PPDH hiện đại và PPDH truyền thống.
- Dạy học GDCD phải chú trọng sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học.

bài, căn cứ vào trình độ nhận thức của HS và năng lực sở trường của GV ; căn cứ vào
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường mà lựa chọn và sử dụng phối hợp các
PPDH hợp lí.
5.1.2. Một số PPDH tích cực.
* Phương pháp thảo luận nhóm.
- Qua trao đổi nhóm, HS được chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải
quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học ; học hỏi lẫn nhau ; cùng nhau
hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung.
- Nên dùng PP thảo luận nhóm khi cần sự chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến
của HV để giải quyết các vấn đề có liên quan đến ND bài học ; hoặc cùng nhau hợp
tác giải quyết những nhiệm vụ chung.
* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (NCTHĐH).
- Nghiên cứu trường hợp điển hình là PPDH sử dụng một câu chuyện có thật hoặc
chuyện được viết nhằm tạo ra một trường hợp “thật” để minh chứng cho một vấn đề
hay một loạt vấn đề. Đôi khi NCTHĐH có thể được thực hiện trên video hay một
băng cassette mà không phải trên văn bản viết.
- Trường hợp điển hình phải tương đối phức tạp ; có thể dài hay ngắn, tuỳ từng
nội dung vấn đề song phải phù hợp với chủ đề bài dạy, phù hợp với trình độ HS và
thời lượng cho phép. Có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển
hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu 1 trường hợp khác nhau.
* Phương pháp giải quyết vấn đề.
13
- Giải quyết vấn đề là xem xét, phân tích những vấn đề / tình huống cụ thể thường
gặp phải trong đời sống hàng ngày và xác định cách giải quyết, xử lí vấn đề / tình
huống đó một cách có hiệu quả.
- Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu
sau : phù hợp với chủ đề bài học và trình độ nhận thức của HS ; vấn đề/ tình huống
phải gần gũi với cuộc sống thực của HS, phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải
quyết gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề ; vấn đề/
tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả kênh chữ

chung của tất cả HS.
14
* Kĩ thuật "bể cá".
Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS
ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở
vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc thảo luận thì đưa ra những
nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận (Bảng câu hỏi cho những người
quan sát).
* Kĩ thuật XYZ.
Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm.
X là số người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là số phút dành cho
mỗi người. Sau khi thu thập ý kiến xong thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.
* Kĩ thuật "ổ bi".
Kỹ thuật "ổ bi" là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia
thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối
diện nhau. Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng
ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác.
Sau vài phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều
kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.
* Tranh luận ủng hộ – phản đối.
- Đây là một kỹ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có
chứa đựng xung đột. Những ý kiến khác nhau và những ý kiến đối lập được đưa ra
tranh luận nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Mục tiêu của tranh luận không phải là nhằm "đánh bại" ý kiến đối lập mà nhằm
xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau.
* Kĩ thuật "3 lần 3".
- Kỹ thuật "3 lần 3" là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự
tham gia tích cực của HS.
- Cách làm như sau : HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó
(nội dung buổi thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận ). Mỗi người cần viết ra:

nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, PPDH, về
những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và của ngành.
4 Đánh giá kết quả học tập.
4.1. Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả
năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình
hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho
bản thân HS để họ học tập ngày càng tiến bộ hơn.
Gồm 3 công đoạn chủ yếu :
+ Thu thập thông tin ;
+ Phân tích thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của kết quả học
tập ;
+ Ra quyết định sư phạm.
4.2. Căn cứ vào mục đích đánh giá mà phân chia thành 3 loại :
- Đánh giá chẩn đoán : được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định
nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến kết quả học tập cho giai đoạn đó (kiểm
tra chất lượng đầu năm đế đánh giá chất lượng đầu vào).
- Đánh giá quá trình : được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp
thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp theo (nội dung nào nên
dạy và cách tiếp cận nào nên sử dụng,…) của quá trình dạy học đó (kiểm tra thường
xuyên, định kỳ : miệng, 15’, 45’).
16
- Đánh giá tổng kết : được tiến hành tại cuối mỗi giai đoạn học tập, nhằm tổng kết
thành tích học tập của học sinh một cách có hệ thống (KT học kỳ, KT cuối năm).
Ví dụ: đầu lớp 10 người ta sử dụng đánh giá chẩn đoán thông qua hình thức kiểm
tra chất lượng đầu năm nhằm đánh giá chất lượng đầu vào và dự kiến thành tích học
tập của học sinh cuối năm học; sử dụng đánh giá quá trình thông qua hình thức kiểm
tra thường xuyên, định kì (miệng, 15 phút, 45 phút,…) nhằm đánh giá kết quả học tập
tại từng thời điểm của năm học, từ đó ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học sinh theo định hướng đạt được mục tiêu đã định ban
đầu; sử dụng đánh giá tổng kết thông qua hình thức kiểm tra học kì, cuối năm nhằm

móc.
* Hậu quả : làm triệt tiêu hứng thú học tập của các em, thậm chí giảm cả niềm tin
vào tri thức. Học sinh tích cực đổi mới phương pháp học tập không được điểm cao,
người học thụ động lại có điểm tốt.
7 Định hướng đổi mới KTĐG kết quả học tập trong môn GDCD.
7.1. Yêu cầu chung :
- Phải đảm bảo thực hiện đúng và đủ các tiết KT viết, KTHK như trong phân phối
chương trình;
- Việc kiểm tra phải góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phương pháp học tập
cho HS.
- Việc kiểm tra phải bao quát được chương trình, bảo đảm tính khách quan,
nghiêm túc, trung thực.
- Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học để xây dựng đề
kiểm tra;
- Phải có sự phân hoá mức độ cho các loại đối tượng học sinh khác nhau nhằm
khuyến khích HS phấn đấu vươn lên. Đề kiểm tra phải phù hợp với số đông HS (đại
trà) và dành một số nội dung cho HS khá, HS giỏi (khoảng 25% tổng số điểm).
- Đổi mới công cụ kiểm tra, cụ thể là đổi mới các hình thức đề kiểm tra, kết hợp
giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và hình thức quan sát hoạt động thực
hành. GV phải nhận xét và sửa lỗi khi chấm bài kiểm tra nhằm giúp HS nhận thức
những hạn chế cần khắc phục. Bản thân GV, qua thống kê bài chấm cũng rút ra những
hạn chế cần khắc phục.
- Phối hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá.
7.2. Các hình thức và loại bài kiểm tra trong dạy học môn GDCD trường THPT
7.2.1. Các hình thức kiểm tra.
Các hình thức kiểm tra thông thường vẫn dùng là : Kiểm tra thường xuyên, kiểm
tra định kì, kiểm tra tổng kết.
7.2.2. Các loại bài kiểm tra.
Các loại bài kiểm tra thông thường vẫn dùng là : Kiểm tra miệng, 15 phút, KT 1
tiết giữa học kì, KT 1 tiết cuối học kì

đã được thay đổi hoặc mở rộng ít nhiều so với kiến thức đã học. Để trả lời câu hỏi
dạng này học sinh không chỉ dùng trí nhớ kiểu thuộc lòng mà chủ yếu dùng trí nhớ
lôgíc, biết phân tích, lý giải và có thể khái quát (ở mức độ đơn giản) để tự rút ra kết
luận trả lời câu hỏi trắc nghiệm hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích, biết dùng ngôn
ngữ riêng để diễn đạt, trong câu tự luận.
- Vận dụng bậc thấp : Là mức độ yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học ở một
cấp đọ cao hơn “thông hiểu” và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đã
được trình bày giống với bài giảng của GV hoặc trong SGK, hoặc có thể từ nội dung
bài học liên hệ lấy ví dụ từ thực tế.
19
- Vận dụng bậc cao : HS có thể sử dụng các khái niệm để giải quyết các vấn đề
mới, không giống với những điều đã được học hoặc trình bày trong SGK nhưng phù
hợp khi được giải quyết với kĩ năng và kiến thức được giảng dạy ở mức độ nhận thức
này. Đây là những vấn đề giống với các tình huống HS sẽ gặp phải ngoài xã hội.
CÂU HỎI TỰ LUẬN.
a) Câu hỏi tự luận bao gồm :
a) Câu hỏi tự luận nhận biết;
b) Câu hỏi tự luận thông hiểu;
c) Câu hỏi tự luận mức độ vận dụng bậc thấp;
d) Câu hỏi tự luận mức độ vận dụng bậc cao.
b) Ưu điểm và nhược điểm của câu hỏi tự luận.
- Ưu điểm:
+ Ít mất thời gian khi ra đề kiểm tra.
+ Nếu sử dụng một cách hợp lí, câu hỏi tự luận có thể đánh giá được các cấp
độ tư duy ở mức độ cao và khả năng viết của học sinh.
+ Giúp GV dễ nhận thấy nhược điểm, hạn chế trong nhận thức, thái độ cũng
như trong tư duy của HS để kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.
- Nhược điểm :
+ Câu hỏi tự luận thường chỉ kiểm tra được nội dung đã học trong một phạm
vi hẹp và HS mất nhiều thời gian để trả lời cho một câu hỏi;

quả đánh giá càng có độ tin cậy cao ; hình thức câu hỏi đa dạng sẽ tránh được sự
nhàm chán đồng thời tạo hứng thú, khích lệ học sinh tập trung làm bài.
7.2.5. Yêu cầu của đáp án (đối với câu hỏi tự luận):
- Đối với dạng “đề mở”, giáo viên cần tôn trọng cách giải quyết vấn đề, cách
diễn đạt của học sinh;
- Không bắt buộc học sinh phải trả lời giống hoàn toàn đáp án mà chỉ cần đảm
bảo đúng và đủ ý;
- Nếu câu hỏi có yêu cầu học sinh phải trình bày ví dụ thì trong đáp án phải
chuẩn bị sẵn nhiều ví dụ.

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status