mo dun 19. dạy học với công nghệ thông tin cho học sinh trung học cơ sở - Pdf 25

MÔ ĐUN 19- DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1. Thời gian bồi dưỡng: Tháng 02 năm 2015
2. Nội dung tự bồi dưỡng: Dạy học với công nghệ thông tin.
3. Hình thức bồi dưỡng: Tự học
4. Kết quả đạt được:
Qua thời gian tự học, tôi đã tiếp thu nắm bắt được những kiến thức sau:
I/ Đặt vấn đề
Bất kỳ ai trong chúng ta cũng thấy vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của
ứng dụng CNTT trong dạy học điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn
giáo dục trong và ngoài nước những năm qua, nó cho thấy việc ứng dụng
công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy và học tập là xu thế tất yếu của
giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT là một chủ đề lớn được
UNESCO đưa ra thành chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay
đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của
CNTT. Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động
mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ
thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Trong những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới
phương pháp dạy học và quản lý giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ.
Chúng ta đều thấy rõ và khẳng định công nghệ thông tin đóng vai trò quan
trọng trong việc hỗ trợ công tác giảng dạy, quản lý học sinh. Nhiều đơn vị
trường học cũng đã triển khai ứng dụng thành công các chương trình phần
mềm phục vụ giáo viên và học sinh như quản lý điểm, đồ dùng dạy học, thư
viện, các phần mềm ứng dụng cho dạy học các bộ môn, Tuy nhiên làm thế
nào để việc ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao đang là vấn đề
được ngành giáo dục quan tâm.
Ngày 2 tháng 8 năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số
4987/BGDĐT-CNTT về hướng dẫn việc triển khai nhiệm vụ công nghệ thông
tin (CNTT) cho năm học 2012- 2013 bao gồm 15 nhiệm vụ trong đó nhiệm vụ
thứ 6 là “ Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy và học” trong

chủ yếu sau:
+ Tính cần thiết
+ Tính chính xác
+ Độ tin cậy
+ Tính thời sự
Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra
những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định. Trong
lĩnh vực quản lý, các thông tin mới là các quyết định quản lý.
1.2. Công nghệ thông tin và truyền thông.
Công nghệ thông tin (CNTT) (Information Technology - viết tắt là IT) là
một ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin. khái niệm
CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993
về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam như sau: “Công nghệ thông tin
là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật
hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và
tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”.
Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang
người khác bằng các ký hiệu, tín hiệu có ý nghĩa thông qua các kênh truyền
tin.
Công nghệ thông tin và truyền thông có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Công nghệ thông tin và truyền thông
đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong kinh tế xã hội nói chung
và giáo dục nói riêng.
2.Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học
2.1. Vai trò đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
CNTT có vai trong quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước
- Công nghệ thông tin và truyền thông làm cho kho tri thức của nhân loại
giàu lên nhanh chóng, con người tiếp cận với lượng tri thức đó nhanh hơn, dễ

Khía cạnh kinh tế: Toàn cầu hóa hầu như được dùng để chỉ các tác động của
thương mại nói chung và tự do thương mại nói riêng. Các tổ chức quốc gia sẽ
mất dần quyền lực. Quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương
như WTO. Các tổ chức này sẽ mở rộng việc tự do đối với các giao dịch
thương mại và thông qua các hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc nâng cao hàng
rào thuế quan để điều chỉnh thương mại quốc tế.
Khía cạnh văn hóa: Toàn cầu hóa sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở
mức độ cá nhân hay dân tộc. Một sự đa dạng cho cá nhân do họ được tiếp xúc
với các nền văn hóa và văn minh khác nhau. Toàn cầu hóa giúp con người
hiểu hơn về thế giới và thách thức ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các
nguồn thông tin, việc phổ thông hóa hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng
hơn với giáo dục và văn hóa. Một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh
hưởng của các dòng chảy thương mai và văn hóa mạnh.
Công nghệ thông tin và truyền thông làm tăng cường các mối quan hệ giao
tiếp và trao đổi văn hóa trong các cộng đồng dân tộc và trên toàn cầu. Chính
điều đó đã làm cho tính “toàn cầu hóa” về văn hóa diễn ra hết sức nhanh
chóng. Mọi người trên thế giới có thể nhanh chóng nhận được những thông
tin về những thành tựu văn hóa, nghệ thuật, khoa học, thể thao, có thể làm
quen với những trình diễn nghệ thuật, văn hóa thể thao tinh hoa từ mọi miền,
của mọi cộng đồng dân tộc trên toàn thế giới. Do đó các dân tộc có nhiều cơ
hội hiểu biết nhau hơn, thông cảm với nhau hơn để cùng chung sống với
nhau.
Công nghệ thông tin và truyền thông thúc đẩy quá trình dân chủ hóa xã hội.
Mọi người dân đều có thể dễ dàng truy cập thông tin, thông tin đến với mọi
người, không thể bưng bít thông tin. Công nghệ thông tin và truyền thông
cũng giúp Nhà nước, các cơ quan quản lý có khả năng nhanh chóng tiếp cận
và xử lý thông tin để đưa ra các quyết định hợp lý. Tất cả những yếu tố đó tạo
điều kiện để tăng cường tính dân chủ của hệ thống chính trị xã hội.
2.3. Vai trò đối với việc quản lý xã hội
Xã hội càng phát triển các mối quan hệ ngày càng nhiều, độ phức tạp càng

3.Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
3.1.Trong văn bản chỉ đạo, Bộ Giáo dục đã đề cập việc ứng dụng CNTT
trong đổi mới phương pháp dạy và học như sau :
a) “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới
phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng
môn học thay vì học trong môn tin học. Giáo viên các bộ môn chủ động tự
soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng
CNTT” (Theo Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng
Chính phủ).
b) Các giáo viên cần tích cực, chủ động tham khảo và sử dụng các phần
mềm ứng dụng tích hợp vào các môn học trên website để
cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi học tập;
c) Khuyến khích giáo viên chủ động tự soạn giáo án, bài giảng và tài liệu
giảng dạy để ứng dụng CNTT trong các môn học;
d) Không dùng thuật ngữ “giáo án điện tử” cho các bài trình chiếu
powerpoint. Tham khảo mẫu giáo án đã được đưa lên mạng giáo dục.
3.2.Ứng dụng CNTT trong dạy và học là việc ứng dụng những thành tựu của
CNTT một cách phù hợp và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Như vậy, Ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu
theo nghĩa đơn giản là dùng máy tính vào các công việc như biên soạn rồi
trình chiếu bài giảng điện tử ở trên lớp. Ứng dụng CNTT phải được hiểu là
một giải pháp trong mọi hoạt động liên quan đến đào tạo; liên quan đến công
việc của người làm công tác giáo dục; liên quan đến hoạt động nghiên cứu,
soạn giảng; lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học
tâp… Và cao hơn, với E-Learning, hoạt động dạy và học ngày nay được diễn
ra mọi lúc, mọi nơi. Trên lớp, ở nhà, ngay tại góc học tập của mình học sinh
vẫn có thể nghe thầy cô giảng, vẫn được giao bài và được hướng dẫn làm bài
tập, vẫn có thể nộp bài và trình bày ý kiến của mình…
Nhận thức được điều đó, việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp
dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao

3.5.1. Ứng dụng trong soạn thảo giáo án.
Một trong những ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học là soạn
thảo giáo án bằng MS Office hay Open Office. Ngoài ra, tùy theo đặc thù
môn học giáo viên có thể biết một số phần mềm bổ trợ:
- Các loại tự điển, phần mềm học tiếng Anh, Tiếng Pháp
- Soạn thảo bản trình chiếu điện tử thông dụng và đơn giản nhất hiện nay mà
giáo viên thường dùng là MS PowerPoint,Open Office Impress , Mindjet
MindManager, FreeMind hay một số phần mềm sau:
- Adobe Photoshop
- Macromedia Flash
- Violet
- Adobe Pressenter, Lecture Maker để soạn bài giảng điện tử theo chuẩn E-
Learning
Nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả nhờ ứng dụng CNTT mang lại,
một số trường, sở giáo dục và đào tạo đã yêu cầu, động viên, khuyến khích
giáo viên soạn giáo án bằng máy vi tính, sử dụng bản trình chiếu điện tử trong
dạy học, điều mà cách đây chưa lâu được xem là không cho phép.
3.5.2. Ứng dụng trong thực hiện bài giảng
Một trong các yếu tố để đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất
lượng dạy học là phương tiện dạy học qua việc sử dụng những phương tiện
dạy học hiện đại: Máy chiếu projector, smart board (bảng thông minh), mạng
nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web…
3.5.3. Ứng dụng trong khai thác dữ liệu
Trong thời đại Công nghệ thông tin phát triển mạnh hiện nay, thông tin trên
internet đã trở thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vực đối
với mọi người nếu biết cách khai thác nó.
Để khai thác được các thông tin trên Internet, ta phải sử dụng các công cụ
tìm kiếm: google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Đối với giáo viên,
ngoài việc tìm kiếm các thông tin trên internet thông thường, cần biết khai
thác từ các nguồn từ điển mở, thư viện bài giảng…

3.6. Một số lưu ý khi đưa ứng dụng CNTT vào bài giảng.
- Giáo viên cần cân nhắc và lựa chọn kĩ các tiết dạy có hoặc không sử dụng
công nghệ thông tin sao cho phát huy được một cách tối đa, hiệu quả và đảm
bảo mục tiêt bài học.
- Không lạm dụng các hiệu ứng trình chiếu phức tạp, nhiều hiệu ứng trình
chiếu khác nhau trong một slide .
- Cùng với các hiệu ứng, giáo viên cũng nên chọn những hình nền đơn giản,
sáng và phù hợp với bài dạy để thể hiện nội dung một cách rõ ràng.
- Lựa chọn các câu chữ ngắn gọn, súc tích và tường minh, thể hiện rõ nội
dung để chiếu lên màn hình.
- Tránh lạm dụng các tư liệu vào bài giảng, biến tiết học thành buổi xem
tranh ảnh,phim tư liệu
- Nên kết hợp công cụ trình chiếu với ghi bảng.
III. Kết luận.
Việc ứng dụng CNTT vào DH góp phần đổi mới phương pháp dạy học là
một công việc khó khăn, lâu dài, đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất
và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát
triển CNTT trong dạy học có hiệu quả cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật
chất của các cấp, sự chỉ đạo đồng bộ của ngành, của mỗi nhà trường và đặc
biệt là sự nỗ lực học hỏi, rút kinh nghiệm của bản thân mỗi GV.
Chúng ta đều nhận thức rõ vai trò của CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống và hơn ai hết chúng ta cũng nhận thức rõ lợi ích của việc ứng dụng
CNTT trong giảng dạy và học tập. Vì vậy, ứng dụng thành công hay không,
có mang lại lợi ích như mong muốn hay không chỉ còn là sự quyết tâm và
phương pháp tổ chức của trường bên cạnh sự nỗ lực của từng Giáo viên.
5. Nội dung bản thân vận dụng vào thực tế.
Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề cốt tử để nâng cao chất
lượng dạy học. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải
cách giáo dục ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông
tin và truyền thông nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là một công

CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai phương pháp tích cực
chứ không phải là điều kiện đủ của phương pháp này. Không lạm dụng công
nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạy học. Để một giờ
học có ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy tính tích cực của học sinh thì
điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính
đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên sử dụng.
6. Một số đề xuất.
Qua việc ứng dụng và trãi nghiệm việc ứng dụng CNTT vào dạy học tôi thấy:
- Giáo viên cần mạnh dạn, không ngại khó, tự thiết kế và sử dụng bài giảng
điện tử của mình sẽ giúp cho giáo viên rèn luyện được nhiều kỹ năng và phối
hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác.
- Khi thiết kế Bài giảng điện tử cần chuẩn bị trước kịch bản, tư liệu (Vedeo,
hình ảnh, bản đồ, ….), chọn giải pháp cho sử dụng công nghệ, sau đó mới bắt
tay vào soạn giảng. Nếu sử dụng MS PowerPiont làm công cụ chính cần lưu ý
về Font chữ, màu chữ (Xanh(đen)- trắng, vàng/đỏ) và hiệu ứng thích hợp
(hiệu ứng đơn giản, nhẹ nhàng tránh gây mất tập trung vào nội dung bài
giảng).
- Nội dung bài giảng điện tử cần cô động, xúc tích, hình ảnh, các mô phỏng
cần xác định chủ đề (trong 1 slide không nên có nhiều hình hay nhiều chữ),
những nội dung học sinh ghi bài cần có qui ước (có thể dùng khung hay màu
nền) sẽ khắc phục được việc ghi bài của học sinh; Nội dung bài giảng chứa
nhiều liên kết nhất là liên kết đến hệ thống câu hỏi để khắc phục những tình
huống sư phạm phát sinh (như nhắc lại kiến thức, dàn bài, hết giờ, … các liên
kết này có thể đặt trong slide chủ), cần khai thác thế mạnh của CNTT trong
kiểm tra đánh giá và kiểm chứng kết quả. (Cũng cố bài cần hướng đến các câu
hỏi mang tính vận dụng hay các hình thức trắc nghiệm);
- Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá
trình dạy học và sự phát triển của học sinh, công nghệ mô phỏng nếu không
phản ánh đúng nội dung, giá trị nghệ thuật và thực tế thì không nên sử dụng,
chuẩn kiến thức ở mức độ vận dụng cần kết hợp bảng và sử dụng các phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status