Thiết kế hệ thống thông tin quản trị dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin dùng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ NGUYỄN HUY DŨNG
THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
DÙNG VỐN CÓ NGUỒN GỐC TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐỖ TRUNG TUẤN
Hà Nội, Năm 2011
MỤC LỤC
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT 2
DANH MỤC HÌNH VẼ 3
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 4
1.1. Quan niệm chung về đầu tư 4
1.2. Quan niệm chung về dự án và dự án đầu tư 5
1.2.1 Khái niệm dự án 5
1.2.2 Các đặc trưng của dự án 6
1.2.3 Dự án đầu tư 7
1.3. Sự cần thiết của nghiên cứu 9
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
1.5. Kết quả và ý nghĩa 11
1.6. Cấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG II: QUẢN TRỊ DỰ ÁN 14
2.1. Tổng quan về vòng đời dự án và quản trị dự án 14
2.1.1 Vòng đời dự án 14
2.1.2 Quản trị dự án 15
2.2. Lập dự án đầu tư 17
2.2.1 Lập dự án đầu tư ứng dụng CNTT 17

PHỤ LỤC 2 - TRIỂN KHAI DEMO PHẦN MỀM QUẢN LÝ DỰ ÁN 65
Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF Splitter.
A watermark is added at the end of each output PDF file.
To remove the watermark, you need to purchase the software from
/>
2BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Viết đầy đủ Viết tắt
Công nghệ thông tin CNTT
Quản lý dự án QLDA
Cơ sở dữ liệu CSDL
Active Directory AD
American National Standards Institute ANSI
Content Management System CMS
Enterprise Architecture EA
Extensible Markup Language XML
Federal Enterprise Architecture Framework FEAF
Institute of Electrical and Electronics Engineers IEEE
International Standard Organization ISO
Lightweight Directory Access Control LDAP
Public Key Infrastructure PKI
Project Management Information System PMIS
Project Management Institute PMI
Project Management Information System PMIS
Quality Management Plan QMP
Referrence Model for Open Distributed Processing RM-ODP
Really Simple Syndication RSS

Hình III.7: Mô hình tham chiếu nội dung giao dịch ở mức hệ thống 49
Hình III.8: Mô hình kiến trúc phần mềm 51
Hình III.9: Mô hình kiến trúc phần mềm 52
Hình III.10: Mô hình kiến trúc phần m
ềm 53
Hình III.11: Quản lý danh mục các dự án 55
Hình III.12: Quản lý danh mục các gói thầu và tiến độ thực hiện 56
Hình III.13: Theo dõi tiến độ thực hiện các công việc theo quy trình 56
Hình III.14: Theo dõi tiến độ thực hiện các công việc theo cán bộ thực hiện 56
Hình III.15: Biểu đồ Gantt cho các công việc thuộc từng gói thầu 57
Hình III.16: Biểu đồ Gantt cho các gói thầu thuộc từng dự án 57
4
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
Cho đến nay, lý thuyết về quản trị dự án nói chung đã được hình thành
một cách tương đối đầy đủ và phổ biến. Tuy nhiên, do CNTT là lĩnh mực mới, có
nhiều điểm đặc thù so với những lĩnh vực khác (ví dụ công nghệ thay đổi nhanh,
vòng đời sản phẩm ngắn…) nên khi áp dụng các lý thuyết đã có về quản trị dự án
vào dự án CNTT thì đều có những điểm hạn chế nhất
định.
Bên cạnh đó, đối với các dự án đầu tư ứng dụng CNTT dùng vốn có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, ngoài việc tuân theo những nguyên lý chung
đã được xác định trong các lý thuyết về quản trị dự án, còn phải tuân thủ các quy
định hiện hành của pháp luật Việt Nam, đặc biệt về vòng đời và quy trình triển
khai dự án.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tổng thể lý thuyết về quản trị dự án, sau đ
ó
nghiên cứu cụ thể những điểm đặc thù của dự án đầu tư ứng dụng CNTT dùng

theo chức
năng quản
l
ý
v

n
Phân loại
theo ngu

n
vốn
Phân loại
theo tính
chất đầu tư
Đầu tư trực
tiếp
Đầu tư gián
tiếp
Đầu tư
trong nước
Đầu tư
nước ngoài
Đầu tư ra
nước ngoài
Đầu tư theo
chiều rộng
Đầu tư theo
chiều sâu
vốn và người quản lý sử dụng vốn là một chủ thể. Đặc điểm của loại

1.2.1 Khái niệm dự án
Có nhiều khái niệm khác nhau về dự án, nhưng theo định nghĩa của PMI,
một cách chung nhất, dự án được hiểu là một tập hợp các hoạt động liên quan,

6
phụ thuộc lẫn nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu xác định với các
điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách trong một môi trường
không chắc chắn [8]. Trong phạm vi của luận văn, định nghĩa này được tham
chiếu như định nghĩa chuẩn.
1.2.2 Các đặc trưng của dự án
Một dự án nói chung được đặc trưng bởi 6 điể
m cơ bản là: tính mục tiêu,
tính thời hạn, tính hữu hạn về nguồn lực, tính đặc thù, tính xung đột và tính ngẫu
nhiên [2,3,4,5].
• Tính mục tiêu: Mục đích, hay còn gọi là mục tiêu của dự án, là kết quả
cuối cùng mà nhà đầu tư mong đợi. Một mặt, mỗi dự án đều phải có
một hoặc một số mục tiêu rõ ràng, hướng tới mục đích chung. Mặt
khác, để đạt được m
ục đích, người ta có thể phân chia kết quả mong
muốn thành các mục tiêu cụ thể cần đạt được trong từng giai đoạn của
dự án. Thông thường, người ta cố gắng lượng hóa các mục tiêu thành
ra các chỉ tiêu cụ thể để thuận tiện cho việc theo dõi và đánh giá dự án.
Do vậy, trong một dự án được thiết kế tốt, các mục tiêu cần được xác
lập trên cơ sở đảm bảo nguyên t
ắc: cụ thể, đo lường được, khả thi, cân
đối về nguồn lực và có thời hạn nhất định.

Khởi đầuTriển khai Kết thúc
Chậm
Nhanh

án khác về nguồn lực, đồng thời bản thân dự án cũng chứa đựng nhiều
mâu thuẫn giữa các bộ phận thực hiện dự án, giữ
a nhiệm vụ và nguồn
lực thực hiện.
• Tính đặc thù: Mỗi dự án đều có những yếu tố đặc thù so với những dự
án khác, không có dự án, dù là dự án xây dựng, dự án nghiên cứu phát
triển hay dự án CNTT nào là hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, mỗi dự án
đều phải được tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ, thiết kế kỹ thuật cụ thể. Việc
quản lý, khai thác và vận hành cũng có những đặ
c thù khác nhau.
• Tính ngẫu nhiên: Dự án thường luôn đi kèm với nhiều rủi ro, nhiều yếu
tố biến động khó lường, do quá trình thực hiện dự án kéo dài, đòi hỏi
nguồn vốn lớn, chịu sự tác động của môi trường kinh tế, xã hội, luật
pháp và các bên liên quan. Các rủi ro tiềm ẩn này có thể xuất hiện và
tác động đến mục tiêu và kết quả dự án. Hơn nữa, môi trường vận hành
dự án không ph
ải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai.
1.2.3 Dự án đầu tư
Theo Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu [1], dự án đầu tư là tập hợp các đề
xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ

8
thể, trong khoảng thời gian xác định. Nói cách khác, dự án đầu tư là một tập hợp
các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt các mục tiêu
xác định bằng việc tạo ra các kết quả xác định trong một thời gian xác định,
thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Để thực hiện được các mục tiêu
trên, cần có sự tác động có mục
đích vào hoạt động của dự án.
đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những
Chi phí
Thời gian
Kết quả
Yêu cầu về chi phí

Yêu cầu về thời gian
Yêu cầu về kết quả

Mục tiêu

9
phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Nói cách khác, quản lý dự
án là ngành khoa học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, tổ chức và quản
lý, giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án
hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt,
đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục
đích đề ra.
Như vậy, vớ
i cách định nghĩa này, khái niệm quản trị dự án bao trùm cả
khái niệm quản lý dự án và ngược lại, khái niệm quản lý dự án nằm trong phạm
vi của khái niệm quản trị dự án: quản lý dự án là một bộ phận của quản trị dự án,
được thực hiện trong giai đoạn thực hiện đầu tư, còn quản trị dự án bao trùm cả 3
giai đoạn đầu tư là: chuẩ
n bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư. Tuy
nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh hai khái niệm này không thực sự đồng nhất với
nhau, quản lý dự án không phải là một bộ phận hữu cơ của quản trị dự án mà tính
chất của 2 khái niệm khác nhau: quản trị mang tính lãnh đạo, còn quản lý mang
tính tổ chức thực hiện. Ở mức cụ thể h
ơn, quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ

đáng, tổ chức thực hiện và giám sát hiệu quả thực hiện, đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng, đủ về quy mô, cùng với quyết tâm cao của lãnh đạo, …
Tại Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong giai đoạn vừa qua hết sứ
c được
quan tâm. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT ở nước ta hiện đang gặp phải nhiều
trở ngại, có thể khái quát thành 2 nguyên nhân chính [28,29,30,31]:
Một là, CNTT là lĩnh vực công nghệ mới xuất hiện và có nhiều đặc điểm
riêng, mang tính đặc thù, khác với các lĩnh vực khác như:
• Phần cứng: Công nghệ phần cứng thay đổi nhanh chóng; Giá thiết bị
giảm mạnh theo thời gian.
• Phần mềm: Có nhiều lo
ại phần mềm khác nhau như: Phần mềm
thương mại, phổ biến (xử lý văn bản MS Word, bảng tính Excel); Phần
mềm chuyên ngành: tài chính, ngân hàng, các lĩnh vực quản lý nhà
nước; Phần mềm có bản quyền; Phần mềm nguồn mở.
• Hình thức đầu tư phần mềm: Mua sắm phần mềm đóng gói; Mua sắm
phần mềm theo đơn đặt hàng; Tự phát triển, hoặc nâng cấp, chỉ
nh sửa
phần mềm.
• Đặc thù khi triển khai: Tính rủi ro cao, khả năng thành công ngay lần
đầu thấp; Khối lượng hiệu chỉnh qua mỗi chu kỳ phát triển lớn; Chi phí
triển khai: nhân công, đào tạo chuyển giao công nghệ, tạo lập, duy trì
cơ sở dữ liệu, nhập số liệu.
Hai là, thiếu quy định về quản lý cũng như thiếu các kinh nghiệm cần thiết
để triển khai dự án đầu t
ư ứng dụng CNTT. Việc ban hành Luật CNTT đã tạo cơ
sở pháp lý cho việc ứng dụng CNTT, tạo điều kiện thuận lợi để từng bước phát
triển kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước,
đảm bảo an ninh, quốc phòng. Mặc dù vậy, các điều khoản trong Luật CNTT mới
chỉ đưa ra các quy định chung mà chưa quy định chi tiết cho vi

EA để đề xuất kiến trúc hệ thống thông tin quản trị dự án đầu t
ư ứng
dụng CNTT và triển khai demo thử nghiệm dựa trên phần mềm tự do
nguồn mở.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này giới hạn việc quản trị dự án đầu tư
ứng dụng CNTT sử dụng vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước, đầu tư theo hình
thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư trong nước.
1.5. Kết quả và ý nghĩa

Kết quả nghiên cứu của luận văn là việc hệ thống hóa lý thuyết về quản trị
dự án đầu tư ứng dụng CNTT dùng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và
trên cơ sở đó, đề xuất thiết kế hệ thống thông tin phục vụ việc quản trị dự án
nhằm minh họa cho việc áp dụng hệ thống lý thuyết trên vào thực tiễn quản trị
dự
án. Cụ thể:

12
- Lý thuyết về quản trị dự án: Bên cạnh việc tổng kết một cách tổng thể
các nghiên cứu hiện hành về quản trị dự án và quản lý dự án, luận văn này đóng
góp một số kết quả nghiên cứu, đề xuất mới nhằm quản trị dự án CNTT sử dụng
vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam một cách phù hợp và có hiệu quả.
- Đề xuất thiết k
ế hệ thống thông tin phục vụ quản trị dự án: Khảo sát chi
tiết, đánh giá về chức năng và mức độ phù hợp của các phần mềm quản trị dự án
hiện có trên thị trường, cả phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mở. Kết
hợp với hệ thống lý thuyết về quản trị dự án đã được tổng kết, lu
ận văn đề xuất
thiết kế hệ thống thông tin phục vụ quản trị dự án theo phương pháp luận kiến
trúc tổng thể EA. Trên cơ sở đó, dựa trên một vài phần mềm nguồn mở, một
phần mềm quản lý dự án với một số chức năng cơ bản được xây dựng để minh

cũng đề cập đến một số điểm đặc thù như: cơ cấu tổ chức, mô hình
quản trị dự án, kiểm soát và kết thúc dự án.
• Chương III - Thiết kế hệ thống thông tin: Tổng kết các yếu tố lý thuyết
cơ bản, trong đó có 2 mô hình kiến trúc tổng thể phổ biến là FEAF và
RM-ODP, đề xuất lược đồ tổng thể mô tả toàn bộ hệ th
ống và kiến trúc
tổng thể cho việc phát triển hệ thống thông tin quản trị dự án. Chương
III cũng khái quát hóa kết quả nghiên cứu ở Chương II thành 7 nhóm
đối tượng và 20 nhóm quy trình liên quan tới công tác quản trị dự án
ầu tư ứng dụng CNTT dùng vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước.
• Phần Kết luận: Tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu của luận văn và đề
xuất một số
nội dung nghiên cứu tiếp theo.
Ngoài ra, luận văn bao gồm 02 phụ lục: (1) trình bày kết quả khảo sát,
đánh giá 95 phần mềm quản lý dự án, bao gồm cả phần mềm thương mại và phần
mềm nguồn mở, trên 07 nhóm chức năng chính về quản lý dự án.
Thực hiện
dự án
Lập
dự án
Kết thúc
dự án
Xác đinh
mục tiêu
Xây dựng
kế hoạch
Theo dõi
kiểm soát
Đánh giá
Nghiệm thu

Hình II.1: Vòng đời dự án 15
• Khi chuyển đổi từ giai đoạn khởi động dự án sang giai đoạn lập dự án
thì nhiệm vụ trọng tâm là xác định mục tiêu.
• Khi chuyển đổi từ giai đoạn lập dự án sang giai đoạn thực hiện dự án
thì nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng kế hoạch.
• Khi chuyển đổi từ giai đoạn thực hiện dự án sang giai đoạn k
ết thúc dự
án thì nhiệm vụ trọng tâm là theo dõi, kiểm soát
• Khi chuyển đổi từ giai đoạn kết thúc dự án sang giai đoạn khởi động
dự án (mới) thì nhiệm vụ trọng tâm là đánh giá, nghiệm thu kết quả.
Căn cứ vào vòng đời dự án như trên, hầu hết các nghiên cứu về đầu tư
cũng như thực tiễn triển khai hoạt động đầu tư ở Vi

16
đóng góp chính cho lý thuyết quản lý dự án ở giai đoạn đầu là tìm ra 5 chức năng
của quản lý và lý thuyết quản lý theo khoa học [22], đặt cơ sở cho những kiến
thức cốt lõi liên quan đến quản lý dự án và quản lý chương trình vẫn còn nguyên
giá trị đến thời điểm hiện tại.
Vào những năm 1960, Viện Quản lý Dự án đã được thành lập ở Thụy
Điển để phụ
c vụ cho việc nghiên cứu kỹ nghệ quản lý dự án. Những tiền đề của
Viện Quản lý Dự án là những công cụ và kỹ thuật quản lý dự án được chia sẻ
bằng nhau giữa các ứng dụng phổ biến trong những dự án từ ngành công nghiệp
phần mềm cho tới ngành công nghiệp xây dựng. Trong năm 1981, Viện Quản lý
Dự án đã công bố lý thuyết hệ thống đầu tiên về vi
ệc quản lý dự án dưới hình
thức tập chuyên khảo Hướng dẫn về những kiến thức cốt lõi trong Quản lý dự án
[8], trong đó trình bày các tiêu chuẩn và nguyên tắc chỉ đạo về thực hành được sử
dụng rộng rãi trong toàn bộ giới quản lý dự án chuyên nghiệp.
Quản trị dự án
Lập dự án Quản lý dự án
Kiểm soát dự án
Kết thúc dự án
Quản lý
nguồn lực
Quản lý
kế hoạch
Quản lý
chất lượng
Quản lý
rủi ro
Phạm vi nghiên cứu


thúc đẩy lớn, lại chỉ có quy mô vốn rất khiêm tốn, dưới mức 20 tỷ đồng (nếu là
dự án tích h
ợp bao gồm cả phần cứng và phần mềm) hoặc dưới mức 3 tỷ đồng
(nếu chỉ đơn thuần là dự án phần mềm).
Do vậy, nếu áp dụng các quy định hiện hành cho dự án đầu tư xây dựng
hoặc đầu tư cơ sở hạ tầng (thường ở quy mô hàng nghìn tỷ đồng) thì quá trình
đầu tư phải chuẩn bị rất phức tạp (do quy mô vốn), qua nhiều khâu, th
ủ tục thẩm
định, phê duyệt và hoàn toàn không phù hợp. Các dự án đầu tư ứng dụng CNTT
dùng vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước trước hết được phân loại thành các
nhóm khác nhau và áp dụng quy định lập dự án đặc thù khác nhau. Tùy theo tính
chất của dự án và quy mô đầu tư, dự án đầu tư ứng dụng CNTT dùng vốn có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước được phân loại thành các nhóm: dự án quan
trọng quốc gia, nhóm A, nhóm B và nhóm C, trong đó:
• Dự án đầ
u tư ứng dụng CNTT quan trọng quốc gia là các dự án được
thực hiện theo Nghị quyết của Quốc hội.
• Dự án đầu tư ứng dụng CNTT nhóm A là các dự án nhằm thiết lập
mới, mở rộng hoặc nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, phần mềm và cơ sở dữ
liệu có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng hoặc các dự án ứng dụng
CNTT nhằ
m thiết lập mới, mở rộng hoặc nâng cấp hạ tầng kỹ thuật,
phần mềm và cơ sở dữ liệu phục vụ phát triển ngành, lãnh thổ có tổng
mức vốn đầu tư trên 100 tỷ đồng.

18
• Dự án đầu tư ứng dụng CNTT nhóm B là các dự án nhằm thiết lập
mới, mở rộng hoặc nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, phần mềm và cơ sở dữ
liệu phụ vụ phát triển ngành, lãnh thổ có tổng mức vốn đầu tư trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng.

việc đánh giá khả năng thực hiện một mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế,
cần phải cân đối nhiều mục tiêu khác nhau chứ không chỉ xem xét đơn thuần chỉ
một mục tiêu.
Vì vậy, quá trình ra quyết định lựa chọn dự án đầu tư mang tính chất của
một quá trình ra quyết định đa mục tiêu: là quá trình ra quyết định để lựa chọn
mộ
t trong các phương án sao cho trong cùng một lúc có thể thỏa mãn nhiều mục
tiêu khác nhau với mức độ càng cao càng tốt.
Nghiên cứu này đề xuất khung quá trình ra quyết định đa mục tiêu được
tiến hành qua 2 bước như sau:
Bước 1: Phát hiện ra các phương án không bị trội dùng phương pháp mô
hình phân cực. Phương pháp mô hình phân cực giúp phát hiện ra các phương án
không bị trội, được minh họa ở Hình II.4. Qua đó, có thể thấy B là phương án bị
trội và có thể loại bỏ ngay từ
đầu. Phương án A và phương án C có những điểm
trội nên chưa thể kết luận là chọn phương án nào (sẽ được xử lý tiếp ở Bước 2).
Phương pháp này này có ưu điểm là sử dụng ít thông tin ban đầu, vì vậy, được sử
dụng trong việc nhận định sơ bộ ban đầu.

C X X X X 8

• Phương pháp hiệu quả và chi phí: Từ phương pháp hiệu quả và chi phí
cho một phương án cụ thể, vẽ đường ranh giới hiệu quả, loại bỏ các
phương án bị trội và tiến hành lựa chọn như minh họa ở Hình II.5.
• Từ các điểm
01 7
, , ,AA A trên hình II-5, có thể thấy các điểm
257
,,AAA
đều bị trội (
2
A bị trội bởi
3
A ,
5
A bị trội bởi
4
A ,
7
A bị trội bởi
6
A ). Do
đó, có thể loại bỏ các phương án này ngay từ đầu. Miền ở dưới các
phương án trội là miền khơng chấp nhận. Các dự án nằm trên đường
nối liền (đường ranh giới hiệu quả) là phương án khơng bị trộ. Nếu có
số vốn là K thì sẽ chọn phương án
3
A vì với chi phí K, dự án đạt hiệu
quả cao nhất.

A
0
A
1
A
2
A
3
A
4
A
5
A
6
A
7
Miền không chấp nhận
K
F

21
2.3. Tổ chức quản lý dự án
Sau khi đã lựa chọn, lập, thẩm định và phê duyệt dự án để thực hiện, vấn
đề đặt ra tiếp theo là thiết kế mô hình tổ chức quản lý dự án và phát triển đội ngũ
nhân sự quản lý dự án sao cho phù hợp.
2.3.1 Mô hình quản lý dự án
Lý thuyết về quản lý dự án chỉ ra nhiều loại mô hình quản lý dự án khác
nhau một cách tương đối linh hoạt và đa dạng. Tuy nhiên, tổ chức quản lý d
ự án
đầu tư ứng dụng CNTT tại Việt Nam là một thực thể mang tính chất pháp lý (một

chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án có thể trở thành mô hình chìa
khóa trao tay. Theo đó, nhà quản lý không chỉ là đại diện toàn quyền
của chủ đầu tư mà còn là chủ dự án.
2.3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý dự án
Bên cạ
nh mô hình tổ chức, nhiều loại cơ cấu tổ chức khác nhau được sử
dụng để quản lý dự án, lần lượt là: cơ cấu tổ chức theo chức năng, cơ cấu tổ chức
theo dự án và cơ cấu tổ chức theo dạng ma trận.
2.3.2.1 Cơ cấu tổ chức theo chức năng
Nhà quản trị có thể chia một dự án thành các công việc khác nhau và chỉ
định các bộ
phận chức năng thích hợp khác nhau để quản lý. Trên cơ sở đó, dự án
được thực hiện và điều hành thông qua sự phân cấp quản lý.
Đặc điểm nổi bật của cơ cấu tổ chức theo chức năng là phân cấp quản trị
nên mang tính chuyên môn hóa cao, khai thác triệt để nhân tài, nhưng khó quản
trị và hợp tác. Hình thức tổ chức này có những ưu điểm như sau:
• D
ự án được chia thành từng lĩnh vực chức năng và giao cho một bộ
phận (Phòng/Ban) chức năng đảm nhận do đó đạt được tính chuyên
nghiệp cao, tập hợp được nhân tài chuyên môn trong lĩnh vực này.
• Linh hoạt trong sử dụng nguồn lực. Nhân sự về lĩnh vực chuyên môn
nào đó mà dự án cần có thể được lựa chọn từ những bộ phận chức
năng tương ứng.
Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức theo chức năng cũng có những nhược điểm như
sau:
• Các thành viên của nhóm dự án được chọn từ các bộ phận chức năng
khác nhau nên giám đốc dự án phải nhất trí trong việc điều hành với
lãnh đạo của các bộ phận chức năng, khi hai bên có xung đột về nhu
cầu nhân lực thường sẽ dẫn đến tình huống rất khó điề
u hành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status