ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ
NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG
NGHỆ
ĐỖ MAI THANH ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH
CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN PHÙ HỢP VỚI
THỰC TẾ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC
SĨ
ĐỖ MAI THANH
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH
CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN PHÙ HỢP VỚI
THỰC TẾ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ TẠI VIỆT NAM Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và Mạng máy tính
M
ã số: 60 48 15
LUẬN VĂN THẠC
SĨ
2.2. Nhận xét chung về hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến
16
CHƢƠNG 3: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC
TUYẾN CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI 17
3.1. Tình hình phát triển dịch vụ hành chính công điện tử của một số nƣớc 17
3.2. Khung giải pháp Chính phủ điện tử 19
3.2.1. Mô hình Khái niệm 19
3.2.2. Kiến trúc CGF 21
3.3. Web 2.0: Thúc đẩy ra đời chính phủ điện tử 2.0 24
3.3.1. Web 2.0 24
3.3.2. So sánh web 2.0 với web 1.0 26
3.4. Các công nghệ thúc đẩy web 2.0 28
3.3.1 XML (eXtensible Markup Language) 28
3.3.2. AJAX (Asynchronous JavaScript and XML) 29
3.3.3. Ứng dụng RIA (Rich Internet Application) 30
4
3.3.4. RSS (Really Simple Syndication) 31
3.3.5. SOAP (Simple Object Access Protocol) 31
3.3.6. MashUp 33
CHƢƠNG 4: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC
TUYẾN 35
4.1. Cơ sở lý thuyết xây dự mô hình 35
4.1.1. Mô đun hóa và các loại liên kết 35
4.1.2. Các chiến lƣợc trong quản lý quy trình nghiệp vụ 36
4.2. Các kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ 38
4.2.1. Mô hình hƣớng dịch vụ SOA 38
4.2.2. Web Service 50
4.2.3. An toàn, bảo mật Web Service 59
4.3. Đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công 60
5.4. Áp dụng mô hình dịch vụ hành chính công điện tử đề xuất để thiết kế hệ thống
dịch vụ hành chính công điện tử liên thông “Đăng ký thôi quốc tịch VN” 86
5.4.1. Lựa chọn chiến lƣợc quản lý phối hợp các tổ chức trong quy trình 86
5.4.2. Quy trình nghiệp vụ để xây dựng dịch vụ hành chính công liên thông 87
5.4.3. Các phân hệ phần mềm: 89
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 6
MỞ ĐẦU
Bảo đảm cung cấp dịch vụ hành chính công là một chức năng quan trọng của
nhà nƣớc. Trong bối cảnh công nghệ thông tin (CNTT) đang phát triển hết sức mạnh
mẽ, thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội, nhu cầu về cung cấp dịch vụ hành
chính công trực tuyến có hiệu quả là một nhiệm vụ quan trọng cần phải tập trung giải
quyết đƣợc đặt ra nhƣ một ƣu tiên quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã
hội bền vững và vì con ngƣời. Để có thể giải quyết nhiệm vụ xây dựng dịch vụ công
trực tuyến một cách hiệu quả, phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử của
Việt Nam và xu hƣớng phát triển cần phải có nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm
túc và toàn diện các mặt kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn triển khai liên quan tới hoạt
động cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến. Trong luận văn này, thực trạng xây
dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến gắn với nỗ lực phát triển chính phủ điện tử
của một số nƣớc trên thế giới sẽ đƣợc làm rõ. Cùng với đó, thông tin về thực trạng hạ
tầng CNTT, cải cách hành chính gắn với ứng dụng CNTT tại một số cơ quan nhà nƣớc
đƣợc thu thập, cho phép việc phân loại, đánh giá nhu cầu phát triển dịch vụ hành chính
công trực tuyến phục vụ ngƣời dân, doanh nghiệp đƣợc thực hiện. Căn cứ trên thông
tin bài học kinh nghiệm và các đánh giá thực trạng, các yêu cầu chung về hệ thống
thông tin để đảm bảo tính khả thi, phù hợp và giảm thiểu chi phí khi xây dựng dịch vụ
là việc các cơ quan chính phủ sử dụng công nghệ thông tin (như các mạng diện rộng,
Internet, và sử dụng công nghệ di động) có khả năng biến đổi những quan hệ với
người dân, các doanh nghiệp, và các tổ chức khác của chính phủ. Những công nghệ
đó có thể phục vụ những mục đích khác nhau: cung cấp dịch vụ chính phủ đến người
dân tốt hơn, cải thiện những tương tác với doanh nghiệp và giới công nghiệp, tăng
quyền cho người dân thông qua truy nhập đến thông tin, hoặc quản lý nhà nước hiệu
quả hơn.
1.1.2 Mô hình tƣơng tác của chính phủ điện tử
Việc cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, các tƣơng tác của chính phủ điện tử
đƣợc xác định trong mô hình chính phủ điện tử gồm các lĩnh vực sau:
8
- Chính phủ và ngƣời dân (G2C).
- Chính phủ và các doanh nghiệp (G2B).
- Giữa các cơ quan chính phủ các cấp với nhau và trong các cơ quan chính phủ
(G2G); và
- Giữa các cơ quan chính phủ với các cán bộ, công chức (G2G).
Đôi khi ngƣời ta cũng phân nhỏ các lĩnh vực trên thành: G2C (Chính phủ và
ngƣời dân) và C2G (Ngƣời dân và Chính phủ), G2B và B2G, G2G, G2E và E2G.
Chính phủ và người dân (G2C):
Nhóm các dịch vụ của chính phủ đến ngƣời dân bao gồm việc phổ biến thông
tin đến ngƣời dân, các dịch vụ cơ bản cho ngƣời dân, và các dịch vụ ngƣời dân thực
hiện cho các cơ quan chính phủ.
- Các thông tin phổ biến đến ngƣời dân là các thông tin về các cơ quan chính phủ,
thông tin về các qui định, chính sách, luật pháp, … giúp cho ngƣời dân hiểu biết tốt
hơn về cơ quan chính phủ và công việc của cơ quan, cũng nhƣ trợ giúp họ thực
hiện tốt các dịch vụ hành chính.
- Các dịch vụ mà chính phủ thƣờng cung cấp cho ngƣời dân là: Làm giấy khai
sinh/khai tử/hôn nhân, làm mới hoặc gia hạn các loại giấy phép (lái xe, đăng ký
quyền sở hữu nhà ở, …) , cũng nhƣ các dịch vụ trợ giúp ngƣời dân trong giáo dục,
Giữa các cơ quan chính phủ (G2G)
Các dịch vụ này có hai mức: ở mức trong nƣớc hoặc địa phƣơng và ở mức quốc
tế.
- Các dịch vụ tƣơng tác giữa chính quyền trung ƣơng và chính quyền địa phƣơng ở
các tỉnh, thành phố.
- Các dịch vụ tƣơng tác giữa các bộ, ban, ngành và các tổ chức của chính phủ, cũng
nhƣ giữa các cơ quan thuộc chính quyền địa phƣơng.
- Mở rộng hơn, các dịch vụ thực hiện các giao dịch giữa các chính phủ, và đƣợc sử
dụng nhƣ công cụ trong mối quan hệ quốc tế và ngoại giao.
Chính phủ đến các công chức (G2E)
Các cán bộ công chức chính phủ cũng là những ngƣời dân trong xã hội, nên các
dịch vụ cung cấp cho ngƣời dân (G2C) cũng thực hiện cho các công chức nhà nƣớc,
ngoài ra các cơ quan chính phủ còn cung cấp các dịch vụ chỉ dành cho các cán bộ công
chức chính phủ, nhƣ cung cấp việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, học từ xa (e-
learning), quản lý tri thức, cung cấp các thông tin về bảo hiểm, hƣu, mất sức, …
Một cách tổng quan, chúng ta có thể thấy lợi ích của Chính phủ điện tử nhƣ sau:
- Nhìn từ phía các cơ quan chính phủ: làm tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan
chính phủ, chính phủ trở nên minh bạch hơn.
- Nhìn từ phía ngƣời dân, doanh nghiệp: Ngƣời dân và doanh nghiệp đƣợc các cơ
quan chính phủ cung cấp thông tin, cung cấp dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn
bằng việc cung cấp thông tin, dịch vụ một cách trực tuyến. Một cách cụ thể, ngƣời
dân và doanh nghiệp ngày càng ít phải đến trực tiếp các cơ quan chính phủ.
10
- Ngƣời dân trở thành trung tâm trong quá trình các cơ quan chính phủ cung cấp
thông tin và dịch vụ. Nhờ các công cụ của thông tin và truyền thông, cơ quan chính
phủ nhanh chóng thu lƣợm đƣợc ý kiến của ngƣời dân và giúp ngƣời dân tham gia
dễ dàng hơn trong quá trình ra quyết định của chính phủ.
1.2. Dịch vụ hành chính công điện tử
Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi
Trong những năm gần đây hầu hết các nƣớc công nghiệp phát triển hàng đầu trên
thế giới đang theo đuổi chƣơng trình xây dựng một hệ thống CPĐT mạnh, nhằm đáp
ứng một cách tốt nhất nhu cầu ngày một tăng của xã hội, nâng cao năng lực và khả
năng thích ứng của chính phủ. CPĐT đóng góp mạnh mẽ vào quá trình cải cách chính
phủ theo hƣớng trong sạch, hiệu quả và toàn diện trên khắp toàn bộ hệ thống tổ chức
các cơ quan nhà nƣớc. CPĐT cũng cho phép các cơ quan nhà nƣớc có cơ hội nắm bắt
thông tin và công tác với nhau tốt hơn. Thông qua việc liên kết các quy trình nghiệp vụ
một cách hợp lý, nỗ lực giảm thiểu chi phí, đẩy mạnh nghiên cứu và đánh giá hoạt
động, hoạt động quản lý điều hành nhà nƣớc sẽ đƣợc nâng cao cả về chất lƣợng lẫn
thời gian xử lý.
Một trong những trọng tâm của CPĐT là phục vụ ngƣời dân một cách thuận tiện
nhất, tốn ít công sức và thời gian nhất có thể, thông qua hệ thống các dịch vụ hành
chính công trực tuyến. Ngay từ những đầu những năm 90 của thế kỷ trƣớc, khi sự phát
triển Internet đã phần nào chứng tỏ ƣu điểm của mình trong việc giảm thiểu chi phí
truyền thông và xử lý thông tin, định hƣớng về chuyển đổi hoạt động hành chính công
sang môi trƣờng trực tuyến đã bắt đầu đƣợc nhen nhóm. Trực tuyến hóa hoạt động
hành chính công giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý điều hành, đặc biệt là nỗ
lực kiểm soát chi phí thông qua các ứng dụng CNTT mang tính liên ngành, chia sẻ
thông tin và cung cấp nhiều hình thức tiếp cận dịch vụ hành chính công khác nhau
vƣợt qua giới hạn về thời gian và địa lý.
1.3. Hệ thống một cửa
Khái niệm “cơ chế một cửa” đƣợc hiểu nhƣ là cơ chế giải quyết công việc của
tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận
yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là “bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả” tại cơ quan hành chính nhà nước. Nhƣ vậy, dịch vụ hành chính công một cửa
là dịch vụ hành chính công đƣợc thực hiện giữa tổ chức, công dân với cơ quan hành
chính nhà nƣớc theo cơ chế một cửa. Cơ chế “một cửa” đƣợc thực hiện theo các
nguyên tắc sau:
- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
Ở cấp độ này, dịch vụ hành chính
công trực tuyến cho phép ngƣời dân
đƣợc sử dụng dịch vụ hành chính công
“một cửa”. Government Gateway thực
hiện việc phân phối và liên lạc giữa các
hệ thống của các cơ quan chức năng khác
nhau để cung cấp một dịch vụ hoàn chỉnh
cho ngƣời dân.
Để xây dựng đƣợc dịch vụ hành chính
công trực tuyến ở cấp độ này, một số
điều kiện đặt ra:
- Xây dựng đƣợc Government Gateway với các thành phần: Message Routing,
Identity Management, Aplication Integration.
13
- Các cơ quan nhà nƣớc đều đã thực
hiện giải quyết các quy trình nghiệp
vụ trên hệ thống ứng dụng.
- Các hệ thống ứng dụng có tính tƣơng
thích cao.
Hạn chế của dịch vụ ở cấp độ này là:
- Tính thuần nhất của quy trình thực
hiện dịch vụ hành chính công là vấn
đề khi mà mỗi cơ quan chức năng xử
lý trên hệ thống ứng dụng nghiệp vụ
riêng của tổ chức, gánh nặng về chất lƣợng dịch vụ hoàn toàn phụ thuộc vào
Government Gateway.
- Sự tƣơng tác giữa các hệ thống nghiệp vụ sẽ gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt
về kiến trúc và công nghệ.
- Khó khăn trong việc điều phối xử lý các yêu cầu.
- Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức giải quyết các công việc của
ngƣời dân;
- Cải cách tổ chức các bộ phận chức năng liên quan đến giải quyết công việc của
ngƣời dân;
- Cải cách cơ chế cung cấp dịch vụ;
- Hiện đại hóa trang thiết bị và công nghệ sử dụng trong giải quyết các công việc
của ngƣời dân;
- Tăng cƣờng trách nhiệm kiểm tra, giám sát của ngƣời dân đối với cơ quan hành
chính nhà nƣớc trong việc giải quyết công việc của dân.
2.1.2. Những hạn chế về cơ cấu tổ chức và cách thức tổ chức cung cấp dịch vụ
hành chính công
Tuy có một số kết quả nhất định, thực tế là vẫn còn nhiều điểm hạn chế trong
thực trạng công tác cung cấp dịch vụ hành chính công ở Việt Nam. Những điểm hạn
chế này chủ yếu nằm ở các mặt nội dung chủ trƣơng và nhận thức chƣa rõ ràng, thủ
tục hành chính chƣa công khai minh bạch, tổ chức và cơ chế hoạt động chƣa hiệu quả,
đội ngũ cán bộ công chức cung ứng dịch vụ công chƣa nắm rõ quy trình, điều kiện vật
chất còn thiếu, trong khi cơ chế kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm chƣa đủ mạnh.
Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ
hành chính công còn thiếu kiên quyết và chƣa đƣợc tập trung cao, kỷ luật, kỷ cƣơng
trong cải cách hành chính chƣa nghiêm; trách nhiệm và quyền hạn của ngƣời đứng đầu
chƣa đƣợc quy định rõ.
15
Thủ tục hành chính chƣa đƣợc công khai, minh bạch, quy trình xử lý thiếu rõ
ràng, không nhất quán. Ở nhiều trƣờng hợp, do tính pháp lý cần thiết còn thiếu, cần
phải tập hợp nhiều văn bản pháp quy khác nhau mới có thể xác định quy trình xử lý
cho một thủ tục hành chính. Theo số liệu thống kế của giai đoạn 1 đề án 30, tổng số
lƣợng thủ tục hành chính đã đƣợc thống kê thuộc phạm vi chức năng quản lý của bộ,
ngành, địa phƣơng là trên 5.000 thủ tục hành chính, với hơn 7.400 văn bản quy định và
81.194 biểu mẫu thống kê thủ tục hành chính. Một số dịch vụ công còn phải qua nhiều
tố phát triển, tích hợp trong tƣơng lai nên không có tính mở, mềm dẻo để có thể
thích nghi đƣợc với những thay đổi.
16
- Khả năng tích hợp, liên thông giữa các hệ thống trong trƣờng hợp kết hợp thành
dịch vụ hành chính công điện tử liên thông giữa các cơ quan liên quan rất hạn chế.
2.2. Nhận xét chung về hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến
Hình thức chủ yếu của giao dịch dịch vụ hành chính công hiện nay là thông qua
giao tiếp trực tiếp tại bộ phận tiếp dân ở các cơ quan nhà nƣớc tƣơng ứng. Mức độ sẵn
sàng và khả năng cung cấp dịch vụ trực tuyến rất khác nhau. Ở những đơn vị nằm
trong địa phƣơng có sự phát triển cao về kinh tế, xã hội, có thể thấy nhiều dịch vụ đã
đƣợc trực tuyến hóa với mức độ trực tuyến cao, trong khi ở những địa phƣơng có phát
triển thấp hơn về kinh tế xã hội, nhu cầu trực tuyến hóa và nhận thức của các bên liên
quan còn thấp cũng nhƣ hạ tầng cần thiết chƣa đảm bảo. Nỗ lực cải cách hành chính và
hiện đại hóa quy trình đảm bảo cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến cũng có
sự khác biệt rất rõ ràng. Khả năng xây dựng, tích hợp để cung cấp dịch vụ hành chính
công điên tử liên thông sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không sớm có những mô hình dịch
vụ hành chính công chuẩn phù hợp với thực tế của Việt Nam.
17
CHƢƠNG 3: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH
CÔNG TRỰC TUYẾN CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
3.1. Tình hình phát triển dịch vụ hành chính công điện tử của một số nƣớc
Ngày nay, ngay ở cả những nƣớc tiên tiến nhất, yêu cầu về dịch vụ hành chính
công trực tuyến không ngừng gia tăng hàng năm về các mặt nhƣ khả năng tiếp cận,
khả năng cung cấp, nhận thức dịch vụ cũng nhƣ chất lƣợng dịch vụ từ phía ngƣời dân.
Ngƣời dân và doanh nghiệp kỳ vọng chất lƣợng của dịch vụ do phía chính phủ cung
cấp sẽ bằng hoặc tốt hơn chất lƣợng dịch vụ do các doanh nghiệp thực hiện. Họ không
muốn tốn quá nhiều thời gian vào việc xếp hàng tại trụ sở các cơ quan, tổ chức nhà
chứng, đăng ký đóng nộp thuế và dịch vụ làm hộ chiếu. Thống kê của chính phủ Nhật
18
Bản cho cho thấy hàng năm có khoảng 20 triệu bản đăng kí đóng thuế, nộp thuế, ngoài
ra có khoảng 49 triệu bản thủ tục liên quan đến việc bảo hiểm xã hội, 5.8 triệu lƣợt
ngƣời đăng kí xin làm hộ chiếu. Tháng 1/2006, Ban chỉ đạo Chiến lƣợc CNTT xây
dựng kế hoạch 05 năm “Chiến lƣợc cải cách CNTT mới” nhằm mục đích cung cấp
dịch vụ công tốt hơn cho ngƣời dân. Mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu đạt 100% giao
dịch về dịch vụ bảo hiểm y tế đƣợc thực hiện trực tuyến. Chính phủ Nhật Bản nhận
thức rõ ràng xây dựng CPĐT phải gắn với cải cách hành chính. Tính hiệu quả và thành
công của các dịch vụ công (đặc biệt là dịch vụ hành chính công) trực tuyến phải gắn
liền với quy trình cải cách thủ tục hành chính một cách đồng bộ.
Ở Ai Cập, trong chƣơng trình hành động xã hội thông tin từ năm 2003, chính phủ
đặt mục tiêu đến năm 2008, Ai Cập có thể đƣa vào sử dụng các dịch vụ công có chất
lƣợng cao cho cộng đồng. Một trong những nguyên tắc cơ bản trong chƣơng trình này
đó là: dịch vụ cần phải lấy ngƣời dân làm trọng tâm với khẩu hiệu "government now
delivers" và định hƣớng xây dựng các dịch vụ hành chính công thông qua cơ chế một
cửa. Văn hóa quản lý quan hệ khách hàng cho chính phủ đƣợc coi trọng, trong đó
ngƣời dân đƣợc xem là khách hàng và các cơ quan chính phủ phải có nhiệm vụ thỏa
mãn các yêu cầu của ngƣời dân. Chính phủ Ai Cập nhận thức sự cần thiết phải xây
dựng một cổng thông tin chính phủ tích hợp thông tin và dịch vụ công để có thể phục
vụ ngƣời dân đƣợc tốt hơn trên cơ sở các hệ thống một cửa. Bắt đầu đƣợc xây dựng từ
năm 2004, đến năm 2007 khoảng 700 dịch vụ đã đƣợc tích hợp trên cổng thông tin
chính phủ.
Năm 2000, chính phủ Singapore đã đề ra kế hoạch hành động CPĐT lần 1, mục
đích nhằm định hƣớng cho hoạt động và đầu tƣ về CNTT đối với các dịch vụ công.
Mục tiêu của kế hoạch này là đƣa toàn bộ dịch vụ công trở thành dịch vụ công trực
tuyến. Kế hoạch này đƣợc đầu tƣ khoảng 01 tỷ USD, tập trung phục vụ tƣơng tác giữa
chính phủ và doanh nghiệp (G2B), chính phủ với công dân (G2C) và chính phủ với
ngƣời lao động (G2E). Kết quả là đến năm 2007, đã có khoảng 1.600 dịch vụ công
CNTT, có mục tiêu cụ thể, tập trung chủ yếu vào việc đơn giản hóa việc cung cấp dịch
vụ tới công dân và doanh nghiệp, đồng thời gián tiếp giảm bớt chi phí hành chính.
3.2. Khung giải pháp Chính phủ điện tử
Khung giải pháp Chính phủ điện tử của Microsoft (Microsoft Connected
Government Framework - CGF) là thiết kế giải pháp của Microsoft, dựa trên các
phƣơng pháp thực tiễn đƣợc đúc rút từ quá trình thực hiện các dự án xây dựng Chính
phủ điện tử tại một số quốc gia trên thế giới.
Mô hình CGF đƣợc xây dựng dựa trên việc đúc kết các kinh nghiệm từ việc triển
khai Trung tâm điều hành thông tin điện tử quốc gia của Anh quốc (UK Government
Gateway) cũng nhƣ các kinh nghiệm từ các dự án tƣơng tự trên thế giới (Ru-ma-ni, Ai
Cập, Cộng hòa Séc, Đài Loan, Bulgari, Slovakia)
3.2.1. Mô hình Khái niệm
Mô hình khái niệm (Conceptual Architecture) trình bày những quan điểm của
Microsoft đối với các khối chức năng chủ chốt (main subsystems) cho Khung giải
pháp Chính phủ điện tử. Mô hình này cũng giới thiệu các nhiệm vụ trọng tâm cùng với
những bộ phận cấu thành bên trong của từng khối chức năng này.
Sau đây là mô hình Khái niệm tổng quát:
20 Trong mô hình trên chúng ta thấy có những khối chức năng chủ chốt sau:
Delivery Channels (Kênh phân phối thông tin)
Hay còn gọi là các điểm truy cập vào hệ thống – Access Point: Khối chức năng
này cung cấp các điểm giao tiếp cho công dân, doanh nghiệp, các cơ quan và các công
chức nhà nƣớc để truy cập tới thông tin, dịch vụ thông tin (dịch vụ công) đƣợc sản
sinh bởi hệ các hệ thống thông tin chuyên ngành của chính phủ và các bộ, ngành.
Các kênh phân phối thông tin tới ngƣời dùng có thể là cổng thông tin, thiết bị di
động cầm tay, máy fax, hệ thống email, hệ thống tin nhắn tức thời (instant message)
hoặc hệ thống các ứng dụng chuyên ngành.
Portal Services (Cổng thông tin điện tử)
- Thực hiện các xử lý mang tính chất điều phối thông tin trong toàn hệ thống, ví dụ
nhƣ: Thực thi các dịch vụ định tuyến để chuyển dữ liệu tới hệ thống thông tin đích;
Tổ chức các tiến trình phối hợp xử lý thông tin (orchestrate the processes) giữa các
hệ thống thông tin để thực thi nghiệp vụ phối hợp xử lý giữa các tổ chức.
Value Added Services (Dịch vụ giá trị gia tăng)
Bao gồm các dịch vụ hệ thống khác nhằm tăng cƣờng năng lực của Trung tâm
điều hành. Những ví dụ về dịch vụ giá trị gia tăng này bao gồm: Hệ thống các dịch vụ
cung cấp trên mạng Internet (Hosted Agency Services) cho các cơ quan chủ sở hữu hệ
thống thông tin bên trong khi họ không đủ khả năng hoặc không muốn tự mình tổ chức
cung cấp các dịch vụ điện tử của họ (e-services) trên Internet; Hệ thống thông tin cộng
tác cho cán bộ của cơ quan chính quyền trên mạng Internet; Hệ thống thông tin quản lý
mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp.
3.2.2. Kiến trúc CGF
Kiến trúc CGF mức cao đƣợc thiết kế ở mô hình tƣơng tác (interactions) khác
nhau giữa Trung tâm điều hành với các hệ thống thông tin bên ngoài, đồng thời phần
này cũng nói rõ hơn vai trò quan trọng của dịch vụ thông điệp (Messaging Service)
trong Khung giải pháp CGF.
22 Cổng thông tin (Portals)
Sử dụng các dịch vụ định danh (identity service) và dich vụ an ninh (security
service) của Trung tâm điều hành để xác thực ngƣời sử dụng (authenticate users), hoặc
để gửi yêu cầu giao dịch của khách hàng (submit transactions) tới các hệ thống cung
cấp dịch vụ (tƣơng ứng) để xử lý. Việc gửi yêu cầu giao dịch tới hệ thống cung cấp
dịch vụ đƣợc thực hiện thông qua các dịch vụ chức năng của hệ thống dịch vụ thông
điệp.
Các hệ thống bên ngoài khác (other systems, other e-government gateways)
Những hệ thống bên ngoài này liên kết với Trung tâm điều hành để nhận hoặc
trả kết quả các giao dịch với các hệ thống thông tin khác hoặc để sử dụng các dịch vụ
- Trả kết quả giao dịch cho khách hàng từ nhà cung cấp dịch vụ. Có 2 cơ chế trả
kết quả: đồng bộ (synchronously) hoặc không đồng bộ (asynchronously). Sử
dụng cơ chế trả kết quả nào là phụ thuộc vào từng dịch vụ cụ thể.
- Lƣu trữ trung gian (tạm thời) các yêu cầu giao dịch hoặc kết quả giao dịch khi
mà những thông tin này tạm thời chƣa thể chuyển tới đích (tới khách hàng hoặc
tới nhà cung cấp dịch vụ).
- Kiểm tra quyền sử dụng dịch vụ của khách hàng.
- Tiếp nhận thông tin trả kết quả giao dịch từ nhà cung cấp dịch vụ.
- Chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng khi khách hàng liên tục hỏi kết quả
(polling).
- Thực thi các hành động bảo đảm an ninh dữ liệu cần thiết đối với các dữ liệu
trong quá trình thực thi giao dịch thông qua Trung tâm điều hành.
- Cung cấp cơ chế, công cụ cần thiết khác trong việc gửi tới khách hàng những
thông thông báo, thông tin cảnh báo.
- Cung cấp cơ chế, công cụ cần thiết khác trong việc bảo dƣỡng hoặc theo dõi sự
hoạt động của toàn hệ thống.
24
- Tổ chức qui trình nghiệp vụ để phối hợp xử lý yêu cầu giao dịch (orchestration
of business processes) giữa các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ cho khách
hàng.
Để có thể cung ứng đƣợc các chức năng cơ bản nêu trên, dịch vụ thông điệp cần
đƣợc xây dựng trên cơ sở các thành tố (components) cơ bản sau:
- Khối Dịch vụ về Danh bạ các dịch vụ điện tử (Service Directory): Cung cấp các
dịch vụ danh bạ sao cho các nhà cung cấp dịch vụ có thể công bố các dịch vụ
của mình cho khách hàng. Đồng thời, khách hàng có thể thông qua các dịch vụ
danh bạ này để tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ đã
đăng ký.
- Khối dịch vụ tiếp nhận các yêu cầu giao dịch (Transaction submission) từ khách
hàng, kiểm tra tính hợp lệ của các giao dịch và với tƣ cách là đại diện cho khách
Sau những năm 2000, khi số ngƣời sử dụng Internet tiến đến 1 tỷ và xã hội
ngày càng nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công nghệ thông tin nhƣ là công cụ cải
tiến các hoạt động, các mối liên hệ trong xã hội, bản chất cũng nhƣ sản phẩm của các
chƣơng trình ứng dụng công nghệ thông tin đang thay đổi nhanh chóng. Một xu
hƣớng, thƣờng đƣợc gọi là web 2.0, bắt đầu xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực từ trò
chơi, giải trí, truyền thông, bán lẻ, tin tức, giáo dục, chính phủ điện tử, Chỉ trong
một giai đoạn ngắn, đã bùng nổ việc xâm nhập của các ứng dụng có ứng dụng web 2.0
nhƣ Skype, MySpace, Wikipedia, và YouTube trong xã hội hiện đại (Theo Ad
Planner, tháng 4-2010, số người sử dụng của facebook có 540 triệu – xếp hạng 1,
youtube -490 triệu – xếp hạng2, wikipedia là 310 triệu - xếp hạng 4, amazon là 74
triệu – xếp hạng 22, myspace là 72 triệu – xếp hạng 26, đây là những website có nhiều
người sử dụng nhất trên thế giới). Xu hƣớng đó đã xác lập việc các công nghệ đƣợc sử
dụng mạnh mẽ khi các công nghệ đó tạo điều kiện dễ dàng cho mọi ngƣời kết nối với
nhau, trao đổi thông tin và cộng tác với nhau.
Web 2.0 thúc đẩy sự tham gia tích cực của ngƣời sử dụng vào quá trình cung
cấp và xử lý thông tin đã làm thay đổi cách thức con ngƣời sử dụng Internet, do vậy
web 2.0 đã làm thay đổi cách con ngƣời sử dụng Internet từ chỗ tập trung vào duyệt
các trang web và đọc tin sang cung cấp, trao đổi thông tin, từ đó làm thay đổi dần cách
nghĩ, cách làm của ngƣời sử dụng và nhƣ vậy đã tác động mạnh mẽ đến việc chính phủ
điện tử cung cấp thông tin và dịch vụ phục vụ ngƣời dân. Ngƣời dân của các nƣớc đã
tham gia tích cực vào quá trình ra quyết định của Chính phủ.
Với sự phát triển của Web 2.0, Web không còn là tập hợp các trang web tĩnh
(HTML) miêu tả thế giới nữa, ngày nay Web chính là thế giới - mọi thứ và mọi ngƣời
trên thế giới đang đóng vai một hình bóng thông tin trên web, web đã trở thành kho dữ
liệu vô giá, khi chúng ta nắm bắt đƣợc và xử lý thông minh dữ liệu đó, nó cung cấp
nhiều cơ hội và mang đến các trạng thái, tâm trạng liên quan lạ thƣờng cho con ngƣời
(Tim O'Reilly and John Battelle).
Web 2.0 là một thuật ngữ để chỉ những xu hƣớng phát triển công nghệ đƣợc
triển khai trong các năm gần đây. Theo tài liệu “What Is web 2.0, by Tim O‟Reilly”
thuật ngữ web 2.0 lần đầu tiên đƣợc xuất hiện vào năm 2004 khi Tim Oreily và Dale