Nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển cho nghề lưới vây xa bờ tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 26


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN XUÂN ĐỒNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH
VỤ HẬU CẦN TRÊN BIỂN CHO NGHỀ LƯỚI VÂY XA BỜ
TẠI THỊ XÃ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

……………………………

2. ThS. Nguyễn Trọng Thảo

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC

TS. Hoàng Văn Tính Khánh Hòa – 2014 iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu
tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sát thực tế trên các tàu dịch vụ và tàu khai
thác hải sản bằng nghề lưới vây xa bờ của bà con ngư dân thị xã Sầm Sơn khai thác ở
khu vực Vịnh Bắc Bộ và khu vực biển Trung Bộ. Tất cả số liệu sử dụng trong luận văn
đều do tác giả và đồng nghiệp trực tiếp khảo sát thu thập trong các chuyến điều tra
thực địa ở địa phương bằng hình thức phỏng vấn chủ tàu tại bờ và trên biển, giai đoạn
2013-2014. Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương
pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy.
Số liệu trong luận văn và kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng

tài liệu liên quan phục vụ cho việc thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới kỹ sư Nguyễn Duy Tiến, kỹ sư Nguyễn Thị Thu Cúc,
kỹ sư Lê Duy Hùng là những người đã cùng tôi tham gia các đợt điều tra khảo sát,
phỏng vấn các chủ tàu khai thác, chủ tàu dịch vụ và các doanh nghiệp thu mua sơ chế,
chế biến các sản phẩm thủy sản tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo
Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản, Quý thầy trong Viện đã truyền đạt
kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 9 năm 2014

Tác giả
Nguyễn Xuân Đồng

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33 iv
3.1. Hiện trạng tàu thuyền khai thác và hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá thị xã Sầm
Sơn, tỉnh Thanh Hóa 33
3.1.1. Thực trạng tàu thuyền khai thác 33
3.1.1.1. Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản 33
3.1.1.2. Đặc điểm tàu thuyền nghề lưới vây khai thác xa bờ thị xã Sầm Sơn 34
3.1.1.3. Ngư trường và mùa vụ khai thác 34
3.1.1.4. Cách thức bảo quản 35
3.1.2. Hiện trạng hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá thị xã Sầm Sơn 35
3.1.2.1. Vị trí địa lý 35
3.1.2.2. Cơ sở cảng cá, bến cá 35
3.1.2.3. Cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá 36
3.1.2.4. Hiện trạng cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá khu vực khu vực
thị xã Sầm Sơn 36
3.1.3. Hiện trạng các mô hình tổ chức sản xuất, dịch vụ hậu cần của nghề lưới vây xa
bờ thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa 38
3.1.3.1. Hiện trạng các mô hình dịch vụ hậu cần dạng truyền thống của nghề lưới vây
xa bờ thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa 38
3.1.3.2. Hiện trạng các mô hình dịch vụ hậu cần dạng luân phiên vận chuyển sản phẩm
về bờ của nghề lưới vây xa bờ thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa 43
3.1.3.3. Hiện trạng các mô hình dịch vụ hậu cần thu mua trên biển dạng tàu mẹ - tàu
con của nghề lưới vây xa bờ thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa. 47
3.1.3.4. Hiện trạng các mô hình dịch vụ hậu cần thu mua trên biển dạng thu mua đơn
lẻ của nghề lưới vây xa bờ thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa 55
3.2. Đánh giá về ưu, nhược điểm của các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển nghề lưới
vây xa bờ tại thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa 59
3.2.1. Ưu nhược điểm của các tàu khai thác nghề vây tham gia trong các mô hình dịch

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1. Kết luận 82
2. Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Phụ lục I: Hiện trạng cơ tàu cấu tàu thuyền, nghề nghiệp và sản phẩm nghề cá tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2013 86 vi
Phụ lục II: Cơ cầu tàu thuyền và nghề khai thác tính đến tháng 12 năm 2013 tỉnh thanh
Hóa 87
Phụ lục III: Năng suất khai thác của các tàu nghề vây khai thác xa bờ thị xã Sầm Sơn
88
Phụ lục IV: Vốn đầu tư của các tàu nghề vây khai thác xa bờ thị xã Sầm Sơn 90
Phụ lục V: Vốn đầu tư của các tàu dịch vụ nghề vây thị xã Sầm Sơn 92
Phụ lục VI: Danh sách các tàu trong các mô hình dịch vụ hậu cần 93
Phụ lục VII: Biểu mẫu điều tra 98
Phụ lục IIX: Một số hình ảnh hoạt động của nghề lưới vây thị xã Sầm Sơn 107
14 H
Chiều cao mạn
15 KT Khai thác
18 L
Chiều dài vỏ tàu lớn nhất
19 LTTP
Lương thực – thực phẩm
20 LN
Lợi nhuận
21 SEAFDEC
Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á
22 TB
Trung bình
23 TCSX
Tổ chức sản xuất
24 TC Tàu con
25 TM
Tàu mẹ
26 VĐT
Vốn đầu tư
27 MH Mô hình

Bảng 3.11: Thu nhập trung bình của thuyền viên trong mô hình luân phiên 47
Bảng 3.12: Số mô hình, số mẫu điều tra và thông số cơ bản của tàu trong mô hình dạng
tàu mẹ - tàu con 48
Bảng 3.13. Vốn đầu tư của đội tàu tàu dịch vụ, tàu khai thác tham gia trong các mô
hình tàu mẹ - tàu con 48
Bảng 3.14: Sản lượng thu mua trung bình của các tàu mẹ 52
Bảng 3.15. Năng suất khai thác trung bình của các đội tàu nghề lưới vây mô hình tàu
mẹ - tàu con 52
Bảng 3.16: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các đội tàu nghề lưới vây trong mô hình
tàu mẹ - tàu con 53
Bảng 3.17: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các đội tàu mẹ trong mô hình tàu mẹ -
tàu con 53
Bảng 3.18: Thu nhập trung bình của thuyền viên trong mô hình tàu mẹ - tàu con 54 ix
Bảng 3.19: Số mô hình, số mẫu điều tra và thông số cơ bản của tàu dịch vụ trong mô
hình dạng tàu dịch vụ đơn lẻ 55
Bảng 3.20. Vốn đầu tư của đội tàu tàu dịch vụ tham gia trong mô hình dịch vụ đơn lẻ
56
Bảng 3.21: Sản lượng thu mua trung bình của các tàu dịch vụ đơn lẻ 57
Bảng 3.22: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các đội tàu mẹ trong mô hình dịch vụ
đơn lẻ 58
Bảng 3.23: Thu nhập trung bình của thuyền viên trong mô hình dịch vụ đơn lẻ .59
Bảng 3.24: Bảng so sánh lợi ích của đội tàu khai thác tham gia mô hình tàu mẹ - tàu
con, dạng mô hình luân phiên và mô hình đơn lẻ 60
Bảng 3.25. Bảng so sánh lợi ích của đội tàu dịch vụ tham gia mô hình tàu mẹ - tàu con
và mô hình đơn lẻ 64
Bảng 3.26: Khả năng chứa và bảo quản sản phẩm của dịch vụ theo kích thước vỏ tàu…
70

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ phương pháp điều tra thu mẫu 27
Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của mô hình tàu mẹ - tàu con 78
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình hoạt động của tàu mẹ 79
Hình 3.3: Sơ đồ quy trình hoạt động của tàu con 79
Hình 3.4: Sơ đồ quy trình thu sản phẩm và cung ứng nguyên vật liệu 89
Hình 3.5: Dịch vụ hậu cần tại cảng Lạch Hới phường Quảng Tiến thị xã Sầm Sơn . 107
Hình 3.6: Tàu nghề lưới vây xa bờ lắp đặt và hội thảo máy dò ngang CH250 tại Quảng
Tiến thị xã Sầm Sơn 108
Hình 3.7: Cấu tạo và kỹ thuật thả chà trong nghề lưới vây xa bờ thị xã Sầm Sơn 109
Hình 3.8: Một số tín hiệu cá bắt gặp trên máy dò ngang khi thu lưới 110
Hình 3.9: Một số hình ảnh thả và thu lưới vây 111
Hình 3.10: Một số hình ảnh thu, xếp lưới và bảo quản cá trên tàu lưới vây 112 1
MỞ ĐẦU
Sự phát triển lớn mạnh của ngành thủy sản có phần đóng góp to lớn của nghề
khai thác. Số lượng tàu tham gia hoạt động khai thác hải sản liên tục tăng trong những
năm qua, phần lớn tàu cá có qui mô khai thác nhỏ, ven bờ, trình độ công nghệ khai
thác ở mức thấp. Áp lực khai thác lên vùng nước ven bờ liên tục gia tăng đã làm huỷ
hoại nghiêm trọng nguồn lợi hải sản, môi trường, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở
vùng nước này. Chính vì vậy, vươn khơi khai thác hải sản xa bờ đã và đang là mục
tiêu phát triển cho nghề cá nước ta. Tuy nhiên, việc phát triển các nghề khai thác ồ ạt

tiết, an ninh trên biển đang có nhiều diễn biến phức tạp, gần đây nhất là các tàu đánh

2
cá và tàu ngư chính của Trung Quốc hiện diện nhiều ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, đã tạo
ra tâm lý không yên tâm sản xuất của ngư dân. Hiện tại, việc xây dựng mô hình dịch
vụ hậu cần cho nghề khai thác cá xa bờ đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn và Chính phủ rất quan tâm, điều này đã được thể hiện rõ trong mục tiêu của chiến
lược phát triển thủy sản đến năm 2020. Cạnh đó, hiệu quả kinh tế của các tàu khai thác
xa bờ ngày càng giảm sút do một số nguyên nhân như: nguồn lợi suy giảm, cạnh tranh
ngư trường khốc liệt, chi phí sản xuất tăng cao (80 - 120 triệu đồng/tàu/chuyến), giá
sản phẩm tăng chậm, chất lượng sản phẩm kém do phải khai thác dài ngày, dẫn đến
nguy cơ các tàu khai thác ở vùng biển xa bờ, đặc biệt là nghề lưới vây phải ngừng sản
xuất là rất lớn.
Từ các nguyên nhân trên buộc các tàu khai thác hải sản xa bờ của tỉnh Thanh
Hóa phải đi khai thác ở vùng biển xa bờ hơn, chuyến biển phải kéo dài hơn mới đủ sản
lượng và đủ chi phí dẫn đến chất lượng sản phẩm bị giảm, không bán được giá cao,
kéo theo lợi nhuận cũng bị giảm sút. Trước tình hình đó cần thiết phải tổ chức lại sản
xuất cho các tàu khai thác hải sản xa bờ, nhất là nghề lưới vây xa bờ tại thị xã Sầm
Sơn Thanh Hóa. Hướng tổ chức lại sản xuất là tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả của các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển theo định hướng của quyết định
375/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2013 Quyết định về việc phê duyệt đề án tổ chức
lại sản xuất trong khai thác hải sản trong đó:
- Tổ chức lại dịch vụ hậu cần trên bờ, nhất là khâu thu mua, bảo quản và tiêu
thụ sản phẩm theo hướng: phát triển các Hợp tác xã, tổ hợp tác kinh doanh thủy sản và
dịch vụ hậu cần, tạo mối liên kết chia sẻ lợi ích giữa ngư dân khai thác với tổ chức
doanh nghiệp thu mua, cung cấp dịch vụ tại cảng cá, bến cá, bảo đảm tiêu thụ sản
phẩm ổn định, nâng cao giá trị sản phẩm và nâng cao lợi nhuận cho ngư dân khai thác.

thu mua thường chỉ mua một số loài hải sản nhất định; chưa có sự liên kết hay mối
ràng buộc giữa tàu thu mua và tàu khai thác dẫn đến hiệu quả hoạt động của đội tàu
thu mua kém (do lượng sản phẩm thu mua được ở mỗi tàu khai thác ít, phải di chuyển
nhiều mới thu mua được đủ lượng sản phẩm về bờ ). Mặt khác hiệu quả hoạt động
của các tàu khai thác cũng không cao do bị ép giá khi bán sản phẩm trên biển; vẫn phải
về bờ sớm do tàu thu mua không mua hết sản phẩm cũng như không cung cấp được
nguyên, nhiên liệu và lương thực, thực phẩm cho tàu tiếp tục bám biển. Cạnh đó, chất
lượng sản phẩm thủy sản khai thác được vẫn không đảm bảo do vẫn phải bảo quản dài
ngày trên biển, không đáp ứng với điều kiện của cơ chế thị trường, vì vậy mà vẫn bị
các chủ nậu, doanh nghiệp ép giá.
Vấn đề đặt ra hiện tại là làm sao có được mô hình tổ chức sản xuất, dịch vụ hậu
cần trên biển phù hợp với điều kiện nghề lưới vây khai thác xa bờ tại địa phương, làm
tăng hiệu quả hoạt động của các đội tàu này. Tức là các nhà quản lý phải trả lời được
các câu hỏi: số lượng tàu trong mỗi mô hình bao nhiêu chiếc là phù hợp (cả tàu khai
thác và tàu dịch vụ trên biển)? Qui trình hoạt động, phương thức vận chuyển, tiêu thụ
sản phẩm sau khai thác như thế nào là đồng bộ? Cách tổ chức liên kết trong chuỗi giá
trị sản phẩm giữa tàu dịch vụ hậu cần và tàu đánh bắt của ngư dân như thế nào để
mang tính bền vững? Cơ cấu tổ chức như thế nào thì chặt chẽ và có tính khoa học? An
toàn, an ninh của các tàu khi hoạt động trên biển như thế nào là tốt? Đây đang là vấn
đề được nhiều ngư dân, chủ nậu, doanh nghiệp chế biến và các nhà quản lý nghề cá ở
Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung rất quan tâm.
Xuất phát từ các vấn đề trên, cần thiết phải thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực
trạng và đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần trên biển cho nghề lưới vây xa bờ tại thị xã
Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
 Mục tiêu của đề tài
Đưa ra mô hình tổ chức sản xuất, dịch vụ hậu cần trên biển cho nghề lưới vây
xa bờ tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá hiệu quả, an toàn và bền vững.

lưới vây xa bờ của thị xã Sầm Sơn, Thanh Hoá.
- Kết quả nghiên cứu
+ Thực trạng tàu thuyền nghề lưới vây và các mô hình dịch vụ hậu cần cho
nghề lưới vây khai thác xa bờ tại thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hoá.

5
+ Đánh giá về ưu, nhược điểm của các mô hình dịch vụ hậu cần trên biển nghề
lưới vây xa bờ tại thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.
+ Đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần phù hợp với điều kiện của nghề lưới vây xa
bờ của thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hoá.
+ Kết luận và kiến nghị


Mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá của các nước trong khu vực và trên thế giới
đã phát triển mạnh ở cả qui mô lẫn phạm vi hoạt động. Tuy nhiên, hiện nay hình thức
tổ chức sản xuất, dịch vụ hậu cần của các đội tàu trên thế giới vẫn tồn tại dưới 2 dạng
mô hình chính như sau: Mô hình công nghiệp (tàu lớn) và mô hình hợp tác xã hoặc tổ
đội (tàu qui mô nhỏ).
Mô hình công nghiệp được áp dụng cho các tàu cá công nghiệp. Các tàu này tự
đánh bắt, tự chế biến và bảo quản luôn trên tàu. Khi nào đủ sản lượng cần thiết thì mới
vận chuyển sản phẩm về bờ và bán cá ở các cảng theo hình thức bán đấu giá.
Mô hình hợp tác xã/tổ đội được áp dụng cho tàu cá qui mô nhỏ. Ngư dân tham
gia vào Hợp tác xã (hay tổ đội) tuy nhiên tài sản, tàu thuyền, ngư cụ, vẫn thuộc
quyền sở hữu riêng. Hợp tác xã (hay tổ đội) có nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm và
cung cấp các các vật tư, nguyên nhiên vật liệu, nhu yếu phẩm theo nhu cầu của ngư
dân. Việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nhiên liệu, lương thực, nước ngọt cho các tàu
khai thác có thể do các tàu trong tổ tự đảm nhiệm hoặc do các tàu dịch vụ thu mua cỡ
lớn thực hiện [20].
Một số mô hình tổ chức sản xuất, dịch vụ hậu cần của các nước trong khu
vực và trên thế giới:
- Trung Quốc: Tại Trung Quốc các mô hình dịch vụ khai thác hải sản trên biển
phát triển rất mạnh. Đội tàu nghề lưới vây khai thác xa bờ ở quốc gia này hoạt động
theo mô hình tổ chức sản xuất, dịch vụ hậu cần theo dạng mô hình tàu mẹ - tàu con.
Phương pháp tổ chức khai thác của mô hình này như sau: Mỗi tàu dịch vụ liên kết với
7 đến 10 tàu khai thác vừa làm nhiệm vụ thu mua sản phẩm của các tàu khai thác vừa
làm nhiệm vụ cung ứng các vật tư, nhu yếu phẩm ngay ngoài biển, các tàu dịch vụ thu
mua sản phẩm và sơ chế, chế biến luôn ngoài biển. Tàu dịch vụ ưu tiên thu mua và

7
cung ứng các vật tư nhu yếu phẩm cho các tàu khai thác trong mô hình, trường hợp

hình thức đấu giá song giá cả vần do các tập đoàn, doanh nghiệp khống chế quyết
định.
- Thái Lan: Hoạt động của các đội tàu khai thác thủy sản bằng nghề lưới vây
xa bờ là sau khi khai thác sẽ bán sản phẩm cho tàu thu mua và tàu thu mua sẽ thu mua
sản phẩm của các tàu khai thác đồng thời cung cấp nhiên liệu, lương thực thực phẩm

8
cho các tàu khai thác theo nhu cầu. Đội tàu thu mua sẽ mua tất cả các sản phẩm của
các tàu khai thác được ở gần khu vực mà tàu này hoạt động. Đội tàu thu mua thường
được đầu tư hệ thống bảo quản sản phẩm rất hiện đại để đảm bảo chất lượng sản phẩm
luôn đạt tiêu chuẩn, tàu thường có chiều dài từ 30 - 50m. Các tàu thu mua và tàu khai
thác thường tự liên kết với nhau một cách tự nguyện trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
theo cơ chế thị trường, Chính Phủ chỉ quản lý thông qua hoạt động cấp giấy phép [22].
Về ưu điểm: Mô hình tổ chức dịch vụ hậu cần hoạt động theo cơ chế thị trường,
thuận mua vừa bán không ràng buộc nhau; đã hỗ trợ cho ngư dân bám biển dài ngày
thông qua việc cung ứng nguyên, nhiên vật liệu đầy đủ, hỗ trợ vấn đề an ninh, cứu hộ
cứu nạn trên biển.
Nhược điểm: Giá cả thu mua sản phẩm, cũng như các vật tư nhu yếu phẩm do
các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế quyết định và chỉ thu mua những sản phẩm lựa
chọn đã được khách hàng đặt trước nên chưa tạo được sự đồng thuận vẫn xảy ra tình
trạng ngư dân trong thời gian đầu khai thác bán sản phẩm cho tàu thu mua, thời gian
gần cuối chuyến biển tàu hành trình đưa sản phẩm về đất liền bán.
- Malaysia: Nghề lưới vây khai thác xa bờ ở vùng biển nhiệt đới cũng được tổ
chức sản xuất, dịch vụ hậu cần trên biển dưới hình thức tàu mẹ - tàu con. Các tàu nghề
lưới vây sau khi khai thác sẽ chuyển sản phẩm cho tàu mẹ và nhận nhiên liệu, vật tư từ
tàu mẹ để tiếp tục đánh bắt, cứ khoảng 10 - 15 ngày thì tàu mẹ vận chuyển sản phẩm
về bờ một lần và lấy nhiên liệu, vật tư ra cho các tàu con, các tàu mẹ được đầu tư với

+ Mặc dù tàu khai thác của các nước đã có sự phát triển hiện đại nhưng vẫn có
sự khác nhau giữa tàu dịch vụ và tàu khai thác về kích thước đã gây khó khăn cho việc
cập tàu, vận chuyển sản phẩm từ tàu khai thác sang tàu dịch vụ và chuyển nhu yếu
phẩm từ tàu dịch vụ sang tàu khai thác.
+ Quy trình hoạt động, tiêu thụ sản phẩm sau khai thác chưa có sự đồng thuận
giữa tàu khai thác và tàu dịch vụ hận cần.
+ Một số mô hình dịch vụ hậu cần trên biển thu mua theo hình thức chọn lọc
nên chưa phát huy được hết các thế mạnh của mô hình cũng như chưa thể giúp cho
ngư dân có thể tăng thời gian bám biển một cách tối đa.
+ Các đội tàu dịch vụ thường ép giá sản phẩm nên một số đội tàu khai thác xa
bờ vẫn sử dụng biện pháp vào bờ để bán sản phẩm.
1.2. Nghiên cứu trong nước
Việt Nam có lãnh thổ kéo dài trên 10 vĩ độ, ở vùng nhiệt đới gió mùa, bên bờ
biển Đông. Diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta khoảng 1.000.000 km2
với trên 3.000 đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở ven bờ tây bắc vịnh Bắc Bộ (Quảng
Ninh-Hải Phòng) và ở hai quần đảo ngoài khơi là Trường Sa và Hoàng Sa. Nhiều đảo
có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế biển - đảo và dịch vụ hậu cần cho các hoạt
động đánh cá biển xa. Cùng với dải bờ biển kéo dài trên 3.260 km (không kể bờ các
đảo) đã tạo ra cho đất nước ta tính đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, về các hệ sinh
thái và nguồn lợi thuỷ sinh vật biển.
Theo thống kê của Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tính đến tháng
12 năm 2013 cả nước có khoảng 124.568 tàu cá [1]. Trong đó, tàu công suất lớn hơn
90 cv là 26.284 chiếc, chiếm 21.1% tổng số tàu thuyền cả nước. Điều này thể hiện
rằng nghề khai thác hải sản nước ta mang nặng tính chất của nghề cá qui mô nhỏ, ngư
trường hoạt động chủ yếu là vùng ven bờ và vùng lộng.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, tỉnh Thanh Hóa là tỉnh từ lâu có thế mạnh
về khai thác hải sản và là một trong những ngư trường trọng điểm của khu vực

nghiêm trọng, có thể bị giảm tới 40-70%. Đây là một tổn thất sau thu hoạch, một sự
lãng phí lớn, vì vậy cần nghiên cứu mô hình dịch vụ hậu cần sao cho có thể đưa được
sản phẩm khai thác được về bờ dưới 7 ngày sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn.
- Tính bền vững và an toàn, an ninh trên biển chưa cao: Các mô hình tổ chức
sản xuất hiện nay còn xảy ra nhiều mâu thuẫn, chưa tìm được tiếng nói chung giữa các
tàu khai thác, tàu dịch vụ và các cơ sở thu mua trên đất liền. Tình hình hoạt động trên
biển của các tàu khai thác, dịch vụ hậu cần luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro như: Lốc, bão, tai
nạn, cạnh tranh với các tàu khai thác trong nước và các nước trong khu vực vì thế việc
xây dựng mô hình phù hợp cho các thành viên tham gia trong mô hình sẽ tạo ra sự liên

11
kết, gắn bó, hỗ trợ giúp nhau đối mặt với các rủi ro; tăng cường sự hiện diện của tàu cá
Việt Nam trên các vùng biển của tổ quốc là rất cần thiết.
Đứng trước tình hình đó các tàu khai thác đã hợp tác với nhau để thành lập các
tổ, nhóm khai thác trong cùng một nghề, cùng một ngư trường, với mục đích ban đầu
là giảm thiểu rủi ro, hỗ trợ nhau trong tìm kiếm ngư trường và khôi phục sản xuất khi
bị thất thu, giảm chi phí sản xuất khi giá xăng dầu gia tăng. Việc thành lập các tổ đội
khai thác một cách tự phát là những bước đi đầu tiên có tính tất yếu khách quan trong
xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần trên biển để từng bước ổn định tổ chức sản xuất,
nhằm tiến tới mục tiêu phát triển khai thác có hiệu quả, bền vững, an toàn và bảo vệ
nguồn lợi.
Mặt khác, việc xây dựng mô hình tổ chức sản xuất để khép kín quá trình từ khai
thác đến dịch vụ thu mua và chế biến tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng chất lượng
sản phẩm bị suy giảm do bảo quản quá lâu trên biển; xây dựng mô hình để giảm chi
phí sản xuất do giảm được chi phí chạy về bờ để bán cá của các tàu khai thác và chạy
ra ngư trường; tăng được thời gian bám biển, nên sản lượng khai thác tăng; các tàu
tham gia trong mô hình có thể chia sẻ các thông tin về ngư trường, thông tin về tình

Đứng trước tình hình đó ngày 08 tháng 10 năm 1983, Bộ trưởng Bộ thủy sản đã
ra Quyết định số 562 - TS/QĐ về ban hành quy ước của tập đoàn sản xuất như sau [4]:
+ Trong tập đoàn: Công cụ, thuyền lưới, tiền vốn do tập đoàn viên đóng góp vào
vẫn thuộc quyền sở hữu của tư nhân và được quy thành cổ phần. Căn cứ vào kết quả sản
xuất kinh doanh, tập đoàn viên được ăn chia theo lao động và ăn chia theo cổ phần đã
góp sau khi đã trích lập quỹ.
+ Tập đoàn sản xuất được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tôn
trọng quyền làm chủ tập thể của tập đoàn viên, bảo đảm lợi ích của tập đoàn viên, của
tập thể và của nhà nước.
Như vậy, nhìn chung giai đoạn này nghề cá đã hình thành nhiều tập đoàn, hợp tác
xã, tổ sản xuất và đã có những thời điểm phát triển rất tốt. Tuy nhiên, do quan hệ sở hữu
chung, tình trạng tham nhũng của chung, đã làm cho mất lòng tin của ngư dân và dẫn
đến tình trạng giải thể.
- Giai đoạn từ năm 1996 đến nay.
Trong giai đoạn này tổ chức sản xuất trong khai thác thuỷ sản có nhiều thay đổi.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản để thực thi trong quản lý nghề cá,
trong đó có các văn bản quan trọng chỉ đạo sự phát triển của nghề cá như:
Luật Hợp tác xã năm 1996 [5];
Chương trình khai thác hải sản xa bờ năm 1997;
Luật Thủy sản 2003 [6];
Quyết định số: 289/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính
phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc tiểu số, hộ thuộc diện
chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân [7];
Quyết định số: 89/2003/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2003 về việc xử lý nợ vay
đối với vốn tín dụng đầu tư phát triển để đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ
đánh bắt hải sản xa bờ;
Nghị định số: 66/2005/NĐ-CP ngày tháng năm 2005 về đảm bảo an toàn cho
người và phương tiện khai thác trên các vùng biển Việt Nam;
Chỉ thị số: 03/2006/CT-BTS ngày 27 tháng 3 năm 2006 về việc tăng cường quản
lý hoạt động khai thác trên các vùng biển;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status