Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ THỊ MAI HOA

CĂN CỨ LY HÔN VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN THEO
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


1.1. Khái niệm căn cứ ly hôn và các trƣờng hợp ly hôn 10
1.1.1. Khái niệm ly hôn 10
1.1.2. Khái niệm căn cứ ly hôn 14
1.1.3. Khái niệm các trường hợp ly hôn 16
1.2. Căn cứ ly hôn và các trƣờng hợp ly hôn qua các giai đoạn
phát triển 18
1.2.1. Thời kỳ Nhà nước phong kiến 18
1.2.2. Thời kỳ Pháp thuộc 23
1.2.3. Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám đến nay 26
1.2.3.1. Giai đoạn 1945 - 1975 25
1.2.3.2. Giai đoạn 1975 đến nay 32
1.3. Khái quát một số nét về căn cứ ly hôn và các trƣờng hợp ly
hôn theo pháp luật một số nƣớc trên thế giới 36
1.3.1. Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật
Thái Lan 37
1.3.2. Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật
của Pháp 39
1.3.3. Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật
Nhật Bản 41
1.3.4. Vấn đề ly thân theo quy định pháp luật một số nước trên
thế giới 42
1.4. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về căn cứ ly hôn
và các trƣờng hợp ly hôn 43

CHƢƠNG 2. NỘI DUNG CĂN CỨ LY HÔN VÀ CÁC TRƢỜNG
HỢP LY HÔN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC
TRẠNG LY HÔN 46 4
5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1. BLDS: Bộ luật dân sự
2. CHLB: Cộng hoà liên bang
3. DLBK: Dân luật Bắc kỳ
4. DLGY: Dân luật giản yếu
5. HĐTP: Hội đồng Thẩm phán
6. HLTK: Hộ luật Trung Kỳ
7. HN & GĐ: Hôn nhân và gia đình
8. TAND: Toà án nhân dân
9. TANDTC: Toà án nhân dân tối cao
10. VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
11. VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
12. XHCN: Xã hội chủ nghĩa


bình thường của con trẻ và trong nhiều trường hợp không đủ điều kiện để đảm
bảo đời sống tinh thần và vật chất cho chúng.
Việc thiết lập gia đình bắt đầu bằng hôn nhân và hôn nhân đã trở thành
hiện tượng xã hội mang tính tất yếu khách quan. Nếu kết hôn là hiện tượng xã
hội bình thường thì ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân, nhưng lại không
thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã tan vỡ. Ly hôn được coi là biện pháp
giải phóng cá nhân khỏi quan hệ vợ chồng để họ thoát khỏi những xung đột
khi hôn nhân đã thực sự tan vỡ, đây cũng là biện pháp nhằm loại bỏ các quan
hệ hôn nhân không còn sức sống, không còn lành mạnh để góp phần củng cố
các quan hệ gia đình trên cơ sở vững chắc hơn.
Hậu quả của ly hôn không chỉ là việc chấm dứt các quan hệ nhân thân,
tình cảm giữa vợ và chồng mà còn làm phát sinh hàng loạt các vấn đề về tài
sản, về con cái, về cấp dưỡng… tất cả những vấn đề đó đều có tác động và
phần nào ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội; do đó, nếu không có sự điều chỉnh
một cách chính xác, hợp tình, hợp lý của các chế định pháp luật, mà cụ thể là 7
luật HN & GĐ thì tình trạng ly hôn như hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến sự ổn
định và phát triển chung của xã hội.
Hơn nữa, ly hôn còn là một vấn đề xã hội và thời đại, việc nghiên cứu
nó ở mọi lúc, mọi khía cạnh luôn là cần thiết, nhất là ngày nay, do những điều
kiện kinh tế, xã hội, người ta đề cao cá nhân, đề cao cái cá thể thì ly hôn lại
càng nổi lên như một vấn đề đáng được quan tâm.
Luật HN & GĐ năm 2000 có hiệu lực từ ngày 1/1/2001, đã quy định:
“Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Toà án
quyết định cho ly hôn. Trong trường hợp vợ chồng của người bị Toà án tuyên
bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”( Điều 89). Tuy nhiên,
việc áp dụng trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc. Việc đi

- Làm rõ về mặt lý luận các căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo
Luật HN & GĐ năm 2000 cũng như tìm hiểu những quy định này theo tiến
trình phát triển của lịch sử, đưa ra được bức tranh toàn cảnh về căn cứ ly hôn
và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ Việt Nam;
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn và các trường hợp
ly hôn và nhu cầu hoàn thiện pháp luật cũng như hoạt động xét xử của Toà án;
- Góp phần nâng cao nhận thức lý luận và kinh nghiệm xét xử các vụ án ly
hôn của đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Toà án.
2. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
2.1. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề về căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn như
khái niệm: “căn cứ ly hôn”, căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn qua các
giai đoạn lịch sử, so sánh với căn cứ ly hôn của một số nước trên thế giới;
- Nghiên cứu những quy định của Luật HN & GĐ năm 2000 về căn cứ
ly hôn và các trường hợp ly hôn 9
- Nghiên cứu thực tiễn giải quyết ly hôn của TAND từ đó đưa ra những
kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về căn cứ ly hôn và các trường
hợp ly hôn.
2.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Xác định và phân tích căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo
pháp luật Việt Nam kể từ khi có pháp luật thành văn, có so sánh với pháp luật
một số nước trên thế giới;
- Đánh giá và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án ly hôn của TAND.
IV. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài: “Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo Luật HN & GĐ
năm 2000” được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận duy vật biện chứng,

trình tự do pháp luật quy định. Sự liên kết giữa hai vợ chồng ở mỗi chế độ
hôn nhân khác nhau là khác nhau và điều này cũng tác động đến ly hôn. Ly
hôn bị tác động bởi kinh tế - xã hội, văn hoá, đạo đức, tôn giáo đặc biệt là
pháp luật bởi pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của giai cấp thống trị
nói khác đi là của Nhà nước Tuy nhiên ly hôn là một vấn đề mang tính xã
hội nên khi điều chỉnh chúng ngoài những yếu tố kể trên, pháp luật muốn điều
chỉnh được còn phải xem xét những yếu tố thuộc về tâm sinh lý con người.
Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, tôn giáo ảnh hưởng đến pháp luật
và cũng ảnh hưởng đến tâm sinh lý con người. Như vậy, có thể nói khi quy
định ly hôn và những căn cứ cho ly hôn mà nhà làm luật lựa chọn phụ thuộc
rất nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá, đạo đức và chịu ảnh hưởng
của yếu tố tâm sinh lý con người.
Dưới chế độ phong kiến, pháp luật và tục lệ có nhiều quy phạm mang
tính luân lý, Nho giáo đặc biệt là quy phạm về HN & GĐ. Theo đó, người phụ
nữ phải sống theo thuyết tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử
tòng tử). Cuộc đời người phụ nữ gắn với công việc gia đình, với chồng con
trên cơ sở địa vị thấp hèn và nhẫn nhục, bị chi phối bởi nguyên tắc “phu 11
xướng, phụ tuỳ”, người chồng là chúa tể trong gia đình, người vợ chỉ là công
cụ biết nói thuộc sở hữu của người chồng. Do lễ giáo phong kiến không có sự
bình đẳng giữa nam và nữ nên nhiều phụ nữ mặc dù không còn tình cảm với
chồng và cuộc sống chung chỉ mang lại đau khổ cho họ mà họ vẫn không
được phép ly hôn.
Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa và thời kỳ đầu sau Cách mạng tư sản, do
tác động của tư tưởng Cách mạng tư sản là tự do và bình đẳng nên pháp luật
nói chung và các quy định pháp luật trong lĩnh vực ly hôn nói riêng cũng
không nằm ngoài xu hướng đó. Các nhà luật gia tư sản cho rằng tự do ly hôn
phải được thừa nhận như một quyền pháp định. Trong thời kỳ này những

tăng nhanh. Hầu như trung bình cứ hai đôi kết hôn thì một đôi đưa nhau ra toà
ly hôn… Nếu như ly hôn dựa vào lỗi là giai đoạn đầu, ly hôn dựa vào thực
trạng của cuộc hôn nhân là bước tiếp theo thì ly hôn dựa vào ý chí tự nguyện
của các bên trong quan hệ vợ chồng được coi là bước phát triển cao nhất,
dường như đó là một xu hướng phát triển tất yếu khi giá trị của gia đình
không còn quan trọng trong điều kiện phát triển kinh tế hiện đại với sự ra đời
và hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn hoá cao và sự đóng góp của
nhiều thiết chế xã hội hỗ trợ gia đình như giáo dục, y tế, dịch vụ nội trợ, dịch
vụ giải trí… đã thay thế dần những chức năng mà trước đây chỉ gia đình mới
đảm nhiệm được và pháp luật phải điều chỉnh phù hợp với xu hướng đó. Điều
này sẽ được làm rõ hơn ở phần khái quát một số nét về căn cứ ly hôn và các
trường hợp ly hôn của pháp luật một số nước trên thế giới trình bày ở phần
sau.
Trong chế độ xã hội, khi pháp luật là ý chí của số đông trong xã hội, quy
định về ly hôn đã phản ánh đúng bản chất của vấn đề. Nếu như hôn nhân là sự
kết tinh của tình yêu và sự đồng thuận của hai bên nam nữ thì ly hôn là một
lối thoát khi cuộc hôn nhân mà họ đã chọn là thực sự sai lầm. Cũng do tác
động của những yếu tố kể trên, quan niệm về ly hôn trong xã hội XHCN dựa
vào thực trạng của hôn nhân. Đó là tính không thể tồn tại, tự hôn nhân đã đổ 13
vỡ rồi, pháp luật không hàn gắn lại mà chỉ công nhận sự đổ vỡ đó. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, hôn nhân trong đó có ly hôn là hiện tượng
xã hội mang tính giai cấp sâu sắc. Thông thường thì hôn nhân là sự liên kết
suốt đời giữa vợ và chồng, bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân
chính của hai bên nam và nữ nhằm gắn bó và thoả mãn những tình cảm trong
đời sống gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Tuy nhiên, tính
chất suốt đời của hôn nhân vẫn có những trường hợp ngoại lệ, tức là sau khi
kết hôn, trong thời gian chung sống giữa vợ và chồng phát sinh những mâu

hoặc cả hai vợ chồng dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định nhằm
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa vợ, chồng”.
1.1.2. Khái niệm căn cứ ly hôn
Quan điểm của nhà nước ta là cho phép vợ chồng có quyền được tự do ly
hôn, nhưng như vậy không có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện theo nguyện
vọng của vợ chồng. Giải quyết ly hôn một mặt phải bảo đảm lợi ích của vợ
chồng mặt khác là lợi ích của con cái, của các thành viên khác trong gia đình
và lợi ích xã hội, do đó Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn bằng cách xác
định những điều kiện cần và đủ để cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng
trước pháp luật.
Nghiên cứu Luật HN & GĐ và Luật dân sự của một số nước trên thế giới
cũng như trong khu vực về vấn đề ly hôn và căn cứ để cho ly hôn, thì thấy
mỗi quốc gia có quan điểm về vấn đề ly hôn có khác nhau, do vậy cũng có
những quy định khác nhau về căn cứ ly hôn.
Pháp luật của nhiều nước quy định giải quyết ly hôn là dựa vào lỗi của
vợ chồng. Nhà nước tư sản coi hôn nhân như hợp đồng dân sự nên việc chấm
dứt hôn nhân cũng như chất dứt hợp đồng là dựa vào lỗi của các bên… Giải
quyết vấn đề ly hôn ở các nước này là dựa vào hình thức của quan hệ hôn
nhân, do vậy việc xét xử của Toà án là việc làm hết sức rập khuân, máy móc.
Nhà nước XHCN có quan điểm giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất
của quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan mà hoàn toàn 15
không do ý chí chủ quan của cán bộ Toà án hay của các đương sự và do đó,
giải quyết không dựa vào lỗi của vợ chồng. Trên quan điểm giải quyết “ly hôn
chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã
“chết”, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải
sự tuỳ tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tuỳ tiện của những cá nhân,
mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết

của hôn nhân không đạt được.
Với các phân tích trên cơ sở các quy định của pháp luật nước ta, có thể
hiểu: “Căn cứ ly hôn là những yếu tố để xác định đúng tình trạng tan vỡ thực
sự về tình cảm, đời sống vợ chồng, mục đích của hôn nhân từ đó Toà án cho
phép vợ chồng ly hôn”.
1.1.3. Khái niệm các trường hợp ly hôn
Pháp luật cho phép và dự liệu các trường hợp mà vợ chồng có thể lựa
chọn để yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết cuộc hôn nhân
của mình bằng giải pháp cuối cùng là ly hôn. Các trường hợp ly hôn khác với
các căn cứ ly hôn. Căn cứ ly hôn là những điều kiện mà pháp luật quy định để
xác định tình trạng của cuộc hôn nhân còn tồn tại hay không tồn tại và dựa
vào các điều kiện đó để Toà án cho phép vợ chồng ly hôn hay hoà giải mong
họ đoàn tụ. Còn các trường hợp ly hôn là cách thức mà các bên có thể lựa
chọn theo quy định của pháp luật để yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình.
Do trình độ và kỹ thuật lập pháp, pháp luật thời kỳ nhà nước phong kiến
coi các căn cứ ly hôn cũng là những trường hợp ly hôn. Những trường hợp ly
hôn ở đây là những sự việc, duyên cớ cụ thể mà dựa vào đó đương sự có thể
yêu cầu ly hôn. Có những duyên cớ mà đương sự phải bắt buộc ly dị (ly hôn
bắt buộc), có những duyên cớ mà hai vợ chồng có thể thuận tình ly hôn và có
những duyên cớ mà việc ly hôn chỉ áp dụng đối với người chồng mà không có
quyền yêu cầu của người vợ (rẫy vợ). Những trường hợp ly hôn ở đây mang
tính áp đặt chứ không phải là cách thức lựa chọn của đương sự, vì nó xuất
phát từ tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng. Suy 17
cho cùng phân biệt các trường hợp ly hôn ở đây cũng là để minh chứng rõ
hơn ý đồ của nhà làm luật khi bảo vệ lễ giáo phong kiến.
Pháp luật một số nước trên thế giới cũng quy định lồng ghép các trường
hợp ly hôn trong các căn cứ ly hôn. Với căn cứ ly hôn nào thì được phép

Từ thế kỷ XV, dưới ảnh hưởng của Nho giáo thì đạo tề gia là cơ sở của
đạo trị quốc. Các mối quan hệ cha con, vợ chồng, anh em là ba trong số các
mối quan hệ cơ bản của xã hội. Với sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức và sau
này là Luật Gia Long, pháp luật HN & GĐ đã bắt đầu đề cập về ly hôn một
cách khá rõ nét.
Người Việt Nam, về đạo lý luôn luôn mong muốn cuộc hôn nhân lâu dài,
bền vững. Tuy nhiên, pháp luật phong kiến cũng thừa nhận việc chấm dứt hôn
nhân do những nguyên nhân khác nhau.
Trong cổ luật Việt nam, các căn cứ ly hôn thường được biết tới dưới tên
gọi “duyên cớ ly hôn” hay “các trường hợp ly hôn”.
Các duyên cớ ly hôn thời kỳ này thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Nho giáo,
nghĩa là chúng được qui định dựa trên sự bất bình đẳng giữa vợ chồng và
nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi gia đình, gia tộc hơn là quyền lợi cá nhân
nên chúng được chia làm ba loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình.
* Rẫy vợ:
Rẫy vợ là việc người chồng được đơn phương bỏ vợ ngoài tầm kiểm soát
của tất cả các thiết chế xã hội. Điều 310 Bộ luật Hồng Đức qui định, nếu
người vợ phạm phải một trong các điều “thất xuất” thì chồng phải bỏ vợ,
không bỏ sẽ bị tội biếm. Tuy Bộ luật Hồng Đức không thống kê rõ các trường
hợp nào được coi là “thất xuất”, nhưng Hồng Đức thiện chính thư (Đoạn 161)
và Bộ luật Gia Long (Điều 108) đã nêu rõ, đó là bảy trường hợp sau: không
có con, dâm đãng, không thờ bố mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và
bị ác tật. 19
Trong quan niệm của xã hội Việt Nam truyền thống, việc hôn nhân
không đơn thuần là việc hai cá nhân tạo lập một gia đình mà hơn thế, nó là
việc của hai bên gia tộc. Đối với cộng đồng gia tộc, mục đích của hôn nhân là
để duy trì dòng dõi và thờ phụng tổ tiên. Trong hoàn cảnh ấy, việc không có

nhiên, “tam bất khứ ” sẽ không có hiệu lực nếu người vợ phạm phải tội thông
gian. Như vậy, “rẫy vợ” không phải là căn cứ để người vợ xin ly hôn. Điều
này thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng.
* Ly hôn bắt buộc:
Ngoài các trường hợp “thất xuất”, cổ luật Việt Nam còn qui định khi
việc kết hôn vi phạm các điều kiện thiết yếu của hôn nhân thì vợ chồng bị
buộc phải ly dị. Luật không qui định bằng cách thống kê đâu là các điều kiện
thiết yếu của hôn nhân cũng như quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ chồng, mà
luật chỉ can thiệp khi có sự vi phạm các điều kiện hay nghĩa vụ này. Và ly hôn
bắt buộc được coi như một “hình phạt ” cho sự vi phạm ấy. Ví dụ, về sự vi
phạm nghĩa vụ chung sống giữa hai vợ chồng, Điều 308 Bộ luật Hồng Đức
qui định: “Chồng bỏ lửng vợ trong 5 tháng thì mất vợ”. Điều 108 lệ Gia Long
cũng qui định: “Nếu người chồng mất tích hoặc bỏ trốn ba năm không về, thì
người vợ được trình quan xin phép cải giá và nhà vợ không phải hoàn lại đồ
sính lễ ”. Quy định này thể hiện quyền yêu cầu ly hôn của người vợ. Trường
hợp này người vợ được trình quan sở tại và xã quan làm chứng và thực hiện
quyền li dị của mình. Quyền yêu cầu li dị của vợ còn được ghi nhận ở Điều
333 Bộ luật Hồng Đức: “Nếu con rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ
vợ, đem việc thưa quan sẽ cho ly dị”. Điều này chứng tỏ địa vị của người
chồng không làm mất năng lực pháp lý của người vợ. Người vợ được coi là
ngang hàng với người chồng. Ly hôn bắt buộc cũng áp dụng khi vợ chồng vi
phạm nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau (Điều 308 Bộ luật Hồng Đức), hay trong
trường hợp kết hôn giả mạo, lừa dối; mất trật tự thê thiếp; mệnh phụ vi phạm
quy định để tang; cưới người cùng họ, cùng tôn ti, trong thân thuộc; kết hôn
không môn đăng hộ đối v.v. Đặc biệt, Điều 108 Bộ luật Gia Long qui định khi 21
vợ chồng phạm phải điều “nghĩa tuyệt” thì buộc phải ly hôn. “Nghĩa tuyệt” có
thể do lỗi của vợ (vợ mưu sát chồng), hoặc lỗi của chồng (chồng bán vợ làm

trong các điều kiện thiết yếu của hôn nhân hay vi phạm các nghĩa vụ giữa vợ
chồng. Điều quan trọng là, một khi những điều kiện của các căn cứ ly hôn nói
trên hội đủ, các đương sự được phép đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân của
mình vì các duyên cớ ly hôn nói trên đặt trên cơ sở trật tự thiên nhiên đoàn
thể vợ chồng chỉ có thể giao hoà với thiên nhiên khi liên hệ giữa hai vợ chồng
được phát khởi bằng tình yêu, kết chặt bằng nghĩa vụ và duy trì bằng lễ giáo.
Mất một trong ba điều kiện này, trật tự thiên nhiên không còn nữa và đoàn thể
vợ chồng sẽ mất căn bản. Quan niệm này đã giải thích rõ các quy định trong
luật về duyên cớ ly hôn: trường hợp thất xuất bắt nguồn ở lễ giáo; trường hợp
thuận tình ly hôn căn cứ vào sự thiếu tình thương yêu giữa hai vợ chồng và
trường hợp ly hôn bắt buộc là sự tuyệt nghĩa phu phụ [15, tr. 91]
Thứ hai, trong xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ ảnh hưởng đậm nét
bởi tư tưởng Nho giáo, nếu như việc kết lập hôn nhân chính là vì lợi ích gia
đình, thì khi huỷ bỏ hôn nhân, cũng là do các quyền lợi của gia đình bị chi
phối hơn là do mối quan hệ giữa bản thân người vợ và người chồng. Nói cách
khác, ý chí cá nhân của vợ chồng bị gạt ra ngoài lề không chỉ khi họ kết lập
hôn nhân của chính họ, mà còn khi cuộc hôn nhân của họ bị huỷ bỏ, để thay
thế vào đó là lợi ích gia đình, gia tộc. Ly hôn vì lý do “thất xuất” hay “nghĩa
tuyệt” là sự phản ánh triệt để quan niệm này.
Thứ ba, cũng dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đề cao đức trị mà
những qui định về duyên cớ ly hôn đã được thiết lập trên cơ sở đạo đức và
nhân cách cá nhân để rồi bằng cách ấy chúng đã xoá nhoà ranh giới giữa đạo
đức và pháp luật. Ly hôn vì lí do không kính trọng cha mẹ chồng hoặc vì sự
lắm điều của vợ chính là được qui định dưới ánh sáng của quan niệm này.
Thứ tư, duyên cớ ly hôn trong cổ luật thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ
và chồng, trong đó số phận người phụ nữ phụ thuộc vào ý chí người chồng và
gia đình chồng. Các trường hợp ly hôn do “thất xuất ” đã thể hiện rõ nguyên 23

+ Chồng bỏ nhà đi quá 2 năm không có lý do chính đáng và không lo
liệu việc nuôi nấng vợ con;
+ Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mình;
+ Chồng làm trái trật tự vợ chính, vợ thứ (Điều 119 DLBK và Điều 118
TKHL)
- Ngoài những duyên cớ cho chồng hoặc vợ xin ly hôn nói trên, pháp luật
còn quy định một số duyên cớ để cả vợ và chồng cùng có thể xin ly hôn, đó là:
+ Bên nọ quá khắc hành hạ, chửi rủa thậm tệ đối với bên kia, hoặc với
tổ phụ bên kia;
+ Vì một bên can án trọng tội;
+ Vì một bên vô hạnh làm nhơ nhuốc đến nỗi bên kia không thể ở
chung được;
+Vì một bên bị tâm thần mà ai cũng biết hoặc phải ở suốt đời trong
bệnh viện (Điều 120 DLBK và Điều 119 TKHL)
Vợ có thể xin ly hôn mà không cần chồng cho phép. Việc tự rẫy vợ bị
cấm (Điều 116 DLBK, Điều 115 HLTK).
DLGY năm 1883 cũng quy định những duyên cớ ly hôn của người
chồng, người vợ và của cả hai vợ chồng, nhưng đối với việc tự rẫy vợ thì quy
định không rõ ràng. Thiên thứ IV quy định: “Tất cả các cuộc hộ nhân chỉ
chấm dứt do vợ hay chồng chết hoặc do ly hôn” và tiếp theo là các duyên cớ
ly hôn. Nhưng ở cuối thiên thứ V, khi nói về hiệu lực của giá thú lại có quy
định: “Người chồng chỉ có thể rẫy vợ trong các trường hợp được luật dự liệu”,
vậy có phải là DLGY vẫn giữ các duyên cớ “thất xuất” của Luật Gia Long?
Phù hợp với chính sách “chia để trị”, thực chất DLGY đã sao chép một cách
máy móc BLDS Napoleon của Pháp nên không phản ánh thực trạng của xã
hội Việt Nam và những phong tục truyền thống của người Việt, do vậy, ảnh
hưởng của nó trên thực tế là hết sức hạn chế. 25

26
quan hệ hôn nhân, theo độ tuổi của vợ chồng; quy định xét xử ly hôn dựa trên
cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng, các điều kiện có tính chất
hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản
chất hôn nhân đã tan vỡ. Việc xét xử của Toà án rất thụ động, hoàn toàn do ý
chí của đương sự quyết định.
1.2.3. Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
1.2.3.1. Giai đoạn 1945 – 1975
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong
lịch sử HN & GĐ nước ta. Từ đó, nhiều văn bản pháp luật về HN & GĐ đã
được ban hành nhằm củng cố và hoàn thiện các quan hệ gia đình tiến bộ.
Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác nhận quyền
bình đẳng giữa nam và nữ về mọi phương diện. Điều 9 của Hiến pháp quy
định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Đây là cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh xoá bỏ hôn nhân phong kiến, đặt cơ sở
cho chế độ HN & GĐ tiến bộ, dân chủ.
Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ của giai đoạn Cách mạng mới sau khi
giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 97/SL ngày
22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh khẳng
định, xoá bỏ tính cách phong kiến, cửa quyền, gia trưởng cũ quá ràng buộc và
áp bức cá nhân trái với mục đích giải phóng con người của một nền pháp luật
dân chủ. Cũng trong năm này, Nhà nước lại ban hành Sắc lệnh 159/SL, ngày
17/11/1950 quy định về ly hôn. Theo đó, đã xoá bỏ sự bất bình đẳng về duyên
cớ ly hôn giữa vợ và chồng. Tại Điều 2, Sắc lệnh quy định: Toà án cho phép
ly hôn trong những trường hợp sau: ngoại tình; một bên can án phạt giam;
một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi; một bên bỏ đi quá 2
năm mà không có duyên cớ chính đáng; vợ chồng tính tình không hợp hoặc
đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được nữa. Tuy đề ra được một

Trích đoạn Giai đoạn 1945 1975 Giai đoạn 1975 đến nay Căn cứ ly hôn và các trường hợp ly hôn theo pháp luật Thuận tình ly hôn Ly hôn theo yêu cầu của một bên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status