ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH VĂN TÚ BẢO HỘ QUYỀN LIÊN QUAN THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ
TUỆ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LIÊN QUAN
5
1.1
Một số khái niệm về quyền liên quan
5
1.1.1
Khái niệm cuộc biểu diễn và người biểu diễn
5
1.1.2
Khái niệm bản ghi âm, ghi hình và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
7
1.1.3
1.1.4
Khái niệm chương trình phát sóng và tổ chức phát sóng
Khái niệm quyền liên quan
10
11
1.2
Khái niệm bảo hộ quyền liên quan
14
Điều kiện bảo hộ quyền liên quan
40
2.2
Chủ thể quyền liên quan
45
2.2.1
Người biểu diễn
45
2.2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.4
Chủ sở hữu quyền liên quan
Nội dung quyền liên quan
Nội dung quyền của người biểu diễn
Nội dung quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Nội dung quyền của tổ chức phát sóng
Giới hạn quyền liên quan
46
50
50
57
60
64
2.5
Thời hạn bảo hộ quyền liên quan
Chương 3 - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN LIÊN QUAN
79
3.3.1
3.3.2
kiến nghị đối với các qui định về bảo hộ đối tượng của quyền liên
quan là tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
Kiến nghị đối với các qui định về các biện pháp bảo vệ quyền của
tổ chức phát sóng
79
82
KẾT LUẬN
86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
87 1
MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, vấn
đề bảo hộ đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa hết sức to
lớn cho sự phát triển của nền kinh tế cũng bảo đảm tốt cho sự phát triển ổn
định và bền vững của xã hội. Bảo vệ tốt hơn các quyền sở hữu trí tuệ của các
chủ thể quyền, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và
của các chủ thể quyền liên quan.
2. Thực trạng nghiên cứu của đề tài
Quyền liên quan là một khái niệm pháp lý mới ở Việt Nam. Việc xuất
hiện các qui định về quyền liên quan xuất phát từ việc hội nhập của Việt Nam
vào nền kinh tế thế giới như gia nhập ASEAN, APEC, WTO…sự phát triển
kinh tế, xã hội kéo theo sự thay đổi của khung pháp lý. Trước thực tế cần phải
có đầy đủ các qui định về lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền
liên quan nói riêng chúng ta đã ban hành đạo luật chuyên ngành về Sở hữu trí
tuệ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các qui định về quyền liên quan hiện nay
chưa có nhiều. Có chăng là các bài viết nghiên cứu từng yếu tố nhỏ của quyền
liên quan như quyền của người biểu diễn như bài viết của tác giả Hoàng Hoa
(2009), “Quyền của người biểu diễn”, http://www.cov.gov.vn, Hà Nội….hay
các bài nghiên cứu mang tính chất chung với cả quyền tác giả như bài viết của
Hoàng Minh Thái (2006), “Một số qui định về quyền tác giả và quyền liên
quan đến quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự và luật Sở hữu trí tuệ”, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, (9); Mai Thanh (2005), “Bàn về vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ trên cơ sở Bộ luật Dân sự và luật Sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật,(3)
3
Nhìn chung việc nghiên cứu khung pháp luật về quyền liên quan hiện
nay chưa thực sự được chú trọng nhất là trong bối cảnh các điều ước quốc tế
về bảo quyền liên quan đã có hiệu lực tại Việt Nam. Chính vì vậy, Vấn đề
quyền liên quan tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần được nghiên cứu
chuyên sâu và toàn diện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sơ sở lý
luận của vấn đề bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam. Trong nội
dung trình bày, tác giả sẽ làm sáng tỏ các cơ sở pháp lý, đưa ra những nhận
xét, đánh giá việc áp dụng các qui định của pháp luật về vấn đề bảo hộ quyền
5
Chương 1- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LIÊN QUAN
1.1 Một số khái niệm cơ bản về quyền liên quan
1.1.1 Khái niệm cuộc biểu diễn và người biểu diễn
Cuộc biểu diễn là đối tượng rất quan trọng và tiêu biểu của quyền liên
quan. Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam cũng chưa có qui định cụ thể
thế nào được gọi là cuộc biểu diễn và cuộc biểu diễn phải đáp ứng được
những điều kiện gì thì sẽ được pháp luật bảo hộ theo các qui định về cuộc
biểu diễn.
Để có thể đưa ra được khái niệm cuộc biểu diễn, ta tìm hiểu thế nào
được coi là biểu diễn. Chúng ta hàng ngày vẫn được tiếp xúc với các loại hình
phát sóng (Công ước Rome (1961)): “Người biểu diễn là các diễn viên, ca sỹ,
nhạc công, vũ công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày,
hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học, nghệ thuật”[7]. Trong Hiệp ước
về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp ước WPPT) của WIPO năm 1996, khái
niệm người biểu diễn được mở rộng, ngoài những chủ thể tương tự được liệt
kê trong Công ước Rome, người biểu diễn còn bao gồm người trình bày các
tác phẩm văn học dân gian thông qua các hình thức hát, múa, sử dụng các
nhạc cụ truyền thống… mà được duy trì thông qua truyền khẩu từ đời này qua
đời khác với những đặc trưng của từng vùng, miền. Giống như mọi khái niệm
pháp lý, khái niệm người biểu diễn không chỉ biến đổi theo thời gian mà còn
có những khác biệt theo phạm vi lãnh thổ. Pháp luật các nước tùy thuộc điều
kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và kỹ năng lập pháp đã có những điều chỉnh
trong việc đưa ra khái niệm người biểu diễn, cũng như điều kiện để được bảo
hộ quyền của người biểu diễn. Trên cơ sở khái niệm người biểu diễn của
Công ước Rome, Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam liệt kê các tổ chức, cá
nhân được bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam, trong đó quy
7
định trực tiếp người biểu diễn gồm: “diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và
những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật” [25, khoản 1].
Từ khái niệm về cuộc biểu diễn, các qui định có tính chất liệt kê về
người được gọi là người biểu diễn, ta có thể hiểu khái niệm người biểu diễn
chính là những người mà thể hiện, trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật
trong cuộc biểu diễn.
Trong qui định của pháp luật Việt Nam ghi nhận bảo hộ các quyền của
người biểu diễn. Tuy nhiên, luật không đưa ra khái niệm thế nào là người biểu
diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là ai? Do đó, dễ dẫn tới sự hiểu lầm
giữa quyền của người biểu diễn và quyền biểu diễn tác phẩm. sự hiểu lầm có
thể biểu hiện là công chúng không dễ nhận biết được các quyền của người biểu
diễn qua đó tôn trọng và thực hiện đúng nghĩa vụ với người biểu diễn khi sử
hình ảnh nhưng không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện
ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác.
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là một chủ thể quan trọng của quyền
liên quan, là người thực hiện ghi âm, ghi hình đối với cuộc biểu diễn, các âm
thanh hình ảnh khác để tạo nên các bản ghi âm, ghi hình phổ biến tới công
chúng. Chính hoạt động sáng tạo trong việc tạo ra các bản ghi, việc đầu tư
công sức, tài chính vào các bản ghi mà pháp luật ghi nhận và bảo hộ các
quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.
Theo qui định tại khoản b Điều 1 Công ước Geneva bảo hộ nhà sản
xuất bản ghi âm chống việc sao chép trái phép (1971) qui định: “Nhà sản xuất
bản ghi âm là người hoặc pháp nhân định hình lần đầu âm thanh của buổi
biểu diễn hoặc các âm thanh khác” [6]. Qua qui định này ta thấy nhà sản xuất
bản ghi âm là cá nhân hoặc cũng có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân
được pháp luật công nhận. Công ước cũng đưa ra khái niệm về bản ghi âm tại
9
khoản a Điều: “ Bản ghi âm là bất kỳ bản định hình các âm thanh biểu diễn
hoặc các âm thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác”[6]. Như vậy,
trong công ước không bảo hộ đối với bản ghi hình. Còn theo Công ước Rome
(1961) về bảo hộ người biểu diễn, Nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát
sóng có đưa ra khái niệm về nhà sản xuất bản ghi âm tại khoản c Điều 1 là:
“Nhà sản xuất bản ghi âm là một cá nhân hoặc pháp nhân đầu tiên định hình
âm thanh của buổi biểu diễn hoặc của các âm thanh khác” [7]. Qui định này
giống với qui định tại Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm
chống việc sao chép (1971). Tuy nhiên, khái niệm về bản ghi âm có sự khác
biệt qui định tại khoản b Điều 1 Công ước Rome: “Bản ghi âm là bất kỳ một
bản định hình thuần túy về âm thanh của các âm thanh của buổi biểu diễn
hoặc của các âm thanh khác” [7].
Như vậy, thông qua các qui định trên của các điều ước quốc tế ta thấy
rằng nhà sản xuất bản ghi âm có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện định
bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ
tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian do chính
họ lựa chọn” [25].
Pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia cũng không có qui định
thế nào được gọi là chương trình phát sóng. Tuy nhiên, từ các khái niệm phát
sóng trên ta có thể hiểu chương trình phát sóng là chương trình có chứa các
âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh được truyền bằng
phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến mà công chúng có thể tiếp nhận được.
Chương trình phát sóng có đặc điểm là chương trình được tạo nên từ
nhiều các âm thanh, hình ảnh ghép lại một cách liên tục để tạo ra các hình ảnh,
âm thanh có tính chất động. Các âm thanh, hình ảnh này được định hình trên
11
một chất liệu nhất định mà có thể truyền tới công chúng bằng phương tiện hữu
tuyến hoặc vô tuyến và công chúng có thể tiếp nhận được các âm thanh, hình
ảnh này.
Qua các qui định trên ta thấy được bản chất của việc phát sóng là việc
truyền đi âm thanh, hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh bằng phương tiện
vô tuyến hoặc hữu tuyến để công chúng có thể tiếp cận được và có thể hiểu tổ
chức phát sóng chính là người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất để thực hiện việc
phát sóng đối với chương trình phát sóng của mình.
1.1.4 Khái niệm quyền liên quan
Quyền liên quan là quyền có mối liên hệ mật thiết tới quyền tác giả,
phát sinh trên cơ sở quyền tác giả đối với tác phẩm mà chủ thể quyền liên
quan sử dụng. Vì vậy, để hiểu được khái niệm về quyền liên quan cần hiểu
được khái niệm quyền tác giả là gì.
Trong tiếng Anh, thuật ngữ “Copyright” là nói tới quyền tác giả. Từ
“Copyright” gồm hai từ “Copy” (sao chép) và “Right” (quyền) có nghĩa là
quyền sao chép, ở đây không thấy thuật ngữ nào nhắc tới tác giả “author”.
Điều này phần nào lý giải cho việc hệ thống Common Law khi bảo hộ tài sản
biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không đưa ra một
khái niệm chung nào về quyền kề cận (quyền liên quan).
Theo qui định của công ước Rome không đưa ra khái niệm về quyền
liên quan nhưng các qui định cụ thể đề cập tới khái niệm các chủ thể quyền
liên quan như người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng.
Qui định các quyền của các chủ thể này, qui định về điều kiện, thời gian,
phạm vi bảo hộ đối với các đối tượng của quyền liên quan.
Theo qui định của Hiệp định TRIPS tại Điều 14 bảo hộ đối với quyền
của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh,
13
truyền hình. Trong đó, qui định rõ các quyền mà các chủ thể của quyền liên
quan được hưởng. Cụ thể:
a) Người biểu diễn có quyền ngăn cấm hành vi sau đây nếu thực hiện
mà không được họ cho phép như: Đối với việc ghi âm chương trình biểu diễn,
Người biểu diễn được ngăn cấm các hành vi ghi âm lần đầu buổi biểu diễn và
sao chép bản ghi đó; phát qua phương tiện vô tuyến và truyền cho công chúng
buổi biểu diễn trực tiếp của họ.
b) Những người sản xuất bản ghi âm có quyền cho phép hoặc cấm việc
sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp các bản ghi âm của họ.
c) Các tổ chức phát thanh truyền hình có quyền cấm các hành vi sau
đây nếu thực hiện mà không được họ cho phép: ghi, sao chép bản ghi và phát
lại qua phương tiện vô tuyến chương trình, cũng như truyền hình cho công
chúng các chương trình.
Theo qui định khoản 3 Điều 4 LSHTT Việt Nam: “Quyền liên quan đến
quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa (sau đây gọi tắt là chương trình phát
sóng)” [25].
Như vậy, việc xác định và bảo vệ các quyền của tác giả, chủ sở hữu
quyền của chủ sở hữu quyền liên quan (chủ sở hữu quyền liên quan đối với
cuộc biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng) bao
gồm toàn bộ các quyền tài sản đối cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng.
1.2 Khái niệm bảo hộ quyền liên quan
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền liên quan nói
riêng đã và đang trở nên phổ biến và tất yếu đối với mọi quốc gia trong quá
15
trình hội nhập và phát triển. Cùng với xu hướng hội nhập ngày một sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi mức độ đáp ứng ngày càng cao của hệ thống
pháp luật nhằm đáp ứng được các điều kiện tối thiểu mà các định chế về
thương mại, kinh tế, chính trị trên thế giới đã thiết lập.
Khái niệm về “Bảo hộ” là giúp đỡ, che chở [29]. Bảo hộ quyền liên
quan là việc giúp đỡ, che chở để bảo vệ cho quyền của chủ thể quyền liên
quan, Tức là quyền lợi hợp pháp của Người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình, tổ chức phát sóng (các quyền nhân thân và quyền tài sản) trước
sự xâm phạm của người khác, là bảo vệ quyền của các chủ thể nói trên đối với
các thành quả lao động trí tuệ sáng tạo hoặc thành quả đầu tư của họ.
Dưới góc độ pháp lý, bảo hộ quyền liên quan là hoạt động đảm bảo cho
chủ thể quyền trên cơ sở các qui phạm pháp luật về xác lập quyền và thực thi
quyền và các qui định về việc hình thành, tổ chức, hoạt động của các thiết chế
được nhà nước đặt ra để bảo vệ quyền của các chủ thể quyền liên quan.
Bảo hộ quyền liên quan phải có một hệ thống các qui định pháp lý đầy
đủ và hiệu lực từ văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp cho tới
các đạo luật chuyên ngành, các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành để tạo
thành một hệ thống các qui định riêng trong lĩnh vực quyền liên quan. Tại
Điều 60 của Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa
học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản
xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn
(FTA) ASEAN – Ôxtrâylia - NewZeland”, “Hiệp định khung về thương mại
và đầu tư Việt Nam - Hoa Kỳ (TIFA)”, “Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) Việt
Nam - Nhật Bản”, v.v đã có hiệu lực và đang đàm phán để tiến tới ký kết
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).
17
Để các qui định của pháp luật về quyền liên quan thực sự đi vào cuộc
sống, Nhà nước một mặt xây dựng các qui định pháp lý, mặt khác lập ra các
định chế, cơ quan để thay mặt Nhà nước quản lý, thực thi và bảo vệ cho các
qui định pháp lý có hiệu lực. Các thiết chế, cơ quan này được tổ chức thành
một hệ thống thống nhất cao từ Trung ương tới địa phương. Đứng đầu là
Chính phủ, thực hiện quản lý thống nhất chung trên phạm vi toàn quốc. Tiếp
đó là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý về lĩnh vực quyền
liên quan và phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của mình.
Các UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý trên phạm vi địa bàn tỉnh, với cơ quan
giúp việc quản lý lĩnh vực quyền liên quan là Sở Văn hóa Thể thao và Du
lịch, dưới các Sở là các Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch được đặt tại các
huyện, thị xã…ngoài ra, còn có sự phối hợp giữa các Bộ, Ban, Ngành có liên
quan trong việc đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về quyền liên quan.
Việc bảo hộ quyền liên quan còn thể hiện thông qua hoạt động xác lập
quyền của các chủ thể quyền và bảo vệ quyền của các chủ thể này trước sự
xâm phạm của người khác.
Quyền liên quan được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm
quyền liên quan của chủ thể quyền liên quan, không phụ thuộc vào thể thức,
thủ tục nào. Căn cứ phát sinh quyền liên quan kể từ khi đối tượng của quyền
liên quan được định hình hoặc thực hiện. Như vậy, pháp luật về quyền liên
quan không qui định bắt buộc đối với các chủ thể quyền liên quan nghĩa vụ
đăng kí và nộp đơn yêu cầu bảo hộ. Quyền của họ tự động phát sinh và được
pháp luật thừa nhận bảo hộ. Việc đăng ký quyền liên quan không phải là căn
cứ phát sinh quyền liên quan, mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh của
Các quốc gia đã ý thức rất rõ vai trò to lớn của việc bảo hộ đối với các
tài sản trí tuệ. Họ đã tham gia vào các tổ chức, hiệp hội có liên quan đến lĩnh
19
vực này, đồng thời họ ký kết các điều ước quốc tế đa phương cũng như
song phương cho việc ghi nhận sự bảo hộ đối với tài sản trí tuệ của công
dân nước mình.
Hiện nay pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền liên quan được qui định
trong một số các điều ước quốc tế: Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm
văn học và nghệ thuật (1971); Công ước Rome (1961) về bảo hộ người biểu
diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát thanh; Công ước Geneva (1971)
về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép; Công
ước Brussel (1974) liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình
truyền qua vệ tinh; Hiệp định (1994) về các khía cạnh liên quan tới thương
mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS); Hiệp ước của WIPO (WPPT) về biểu
diễn và bản ghi âm.
Với mong muốn bảo hộ một cách có hiệu quả và đồng bộ đến mức tối
đa các quyền lợi của các tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật của
công dân các quốc gia thành viên. Công ước Berne ra đời, tạo thành một liên
hiệp để bảo hộ các quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật
của công dân các quốc gia thành viên. Quyền liên quan trong các qui định của
công ước Berne được đề cập với thuật ngữ “Quyền kề cận” nhằm để xác định
quyền của các tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương
trình phát sóng…
Lo ngại trước tình trạng tràn lan và tăng nhanh các bản sao không được
phép của các bản ghi âm và thiệt hại của tình trạng đó gây ra đối với lợi ích
của tác giả, người biểu diễn, và nhà sản xuất bản ghi âm. Nhận thấy rằng việc
bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống các hành vi làm tràn lan và tăng nhanh
các bản ghi âm còn đem lại lợi ích cho người biểu diễn có tiết mục biểu diễn
và những tác giả có tác phẩm, được ghi nhận trong bản ghi âm đó. Công ước
21
thể như tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát
sóng các quốc gia ký kết thỏa thuận cho ra đời công ước liên quan đến việc
phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh tại Brussels (Công
ước Brussles) ngày 21/05/1974. Công ước Brussels ra đời tạo cơ sở pháp lý
vững chắc cho việc bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các
quốc gia thành viên có tác phẩm trong các chương trình truyền qua vệ tinh,
đánh dấu bước tiến trong việc nhận thức việc bảo hộ các quyền của các chủ
thể liên quan đối với tín hiệu mang chương trình được mã hóa.
Nền kinh tế phát triển cao cùng với sự quốc tế hóa các hoạt động của
mọi mặt đời sống xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt là trong hoạt động
thương mại, các hàng hóa trong giao lưu thương mại quốc tế ngày nay chiếm
tỷ trọng hàm lượng trí tuệ rất cao, đòi hỏi bức thiết về quyền lợi của các chủ
thể có liên quan đến hoạt động này. Với mong muốn giảm bớt các lệch lạc và
những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế, lưu ý tới sự cần thiết phải
thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí
tuệ và bảo đảm rằng các biện pháp và thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ
không trở thành rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp, Các quốc gia
ký kết cùng thỏa thuận cho ra đời Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Các qui định về quyền liên
quan được thể hiện rõ trong Hiệp định tại Điều 14, đó là bảo hộ những người
biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng.
Bảo hộ người biểu diễn chống lại việc ghi âm lần đầu buổi biểu diễn và
sao chép bản ghi đó. Chống lại việc phát thanh qua phương tiện vô tuyến và
truyền cho công chúng buổi biểu diễn trực tiếp của họ; Bảo hộ nhà sản xuất
bản ghi âm chống lại việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp các bản ghi của
họ; Bảo hộ cho các tổ chức phát thanh truyền hình (tổ chức phát sóng) chống