Bảo lãnh trong pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***
PHẠM VĂN LỢI BẢO LÃNH TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Đăng Hiếu HÀ NỘI -2008 MỤC LỤC

TRANG
LỜI NÓI ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO LÃNH
8
1.1. Khái niệm bảo lãnh
8
1.2. Chế định bảo lãnh trong lịch sử
16

70
3.1. Thực tiễn hoạt động bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong giao
dịch dân sự
70
3.2. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp có liên quan đến bảo lãnh
tại Tòa án
74
3.3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ trong pháp luật dân sự
93
3.4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh
96
Kết luận.
106
Danh mục tài liệu tham khảo.
107 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT Từ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
BLDS

BỘ LUẬT DÂN SỰ

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
XHCN

Xã hội chủ nghĩa
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân,
pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ
dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản
xuất, kinh doanh. Để cho các giao dịch này ngày càng phát triển về số lượng
cũng như giá trị của giao dịch, đặc biệt nhằm đảm bảo an toàn cho các giao
dịch, Bộ luật dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) đã quy định rất nhiều biện
pháp bảo đảm, trong đó có biện pháp bảo lãnh.
Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 -
2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định, nhiệm vụ
trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội là phát triển thị trường
tiền tệ, hiện đại hóa và đa dạng hóa các hình thức hoạt động [1, tr.141]. Để
thực hiện thắng lợi mục tiêu này, bên cạnh những việc làm thiết thực khác,
việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự nói chung, đặc biệt là
các quy định về biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói riêng là một yêu cầu
cấp thiết trong giai đoạt phát triển kinh tế hiện nay.
Như chúng ta đã biết, số lượng các giao dịch dân sự sẽ tăng, tỷ lệ thuận với
sự phát triển của nền kinh tế, và ngược lại, muốn phát triển kinh tế thì phải
xây dựng chính sách, hệ thống pháp luật thuận tiện nhất cho việc xác lập, thực
hiện các giao dịch. Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng đến việc phát triển số lượng
giao dịch mà không quan tâm đến chất lượng, đặc biệt là hệ số an toàn của

việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các giao dịch dân sự trong đời
sống nhân dân phát sinh ngày càng nhiều, hệ thống ngân hàng thương mại đã
thực sự là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, nhu cầu bảo đảm cho các giao 3
dịch cũng ngày càng tăng theo, nghiệp vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng
hoạt động ngày càng chuyên nghiệp.
Với mục tiêu ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, đưa
Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Các doanh nghiệp
của Việt Nam ngày càng nỗ lực, không ngừng mở rộng các lĩnh vực hoạt
động của mình và hội nhập với nền kinh tế thế giới nhằm thu hút vốn, công
nghệ và trình độ khoa học tiên tiến của nước ngoài, ký kết, thực hiện các hợp
đồng kinh tế. Trong qúa trình hoạt động, yếu tố rủi ro luôn tiềm ẩn đặc biệt
khó lường trong giai đoạn phát triển hiện nay, điều này đã trực tiếp, hoặc gián
tiếp đe dọa hoạt động của các doanh nghiệp. Để hạn chế thiệt hại cho các chủ
thể tham gia, các đối tác nước ngoài thường thỏa thuận các biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ, và bảo lãnh ngân hàng đang ngày càng được ưa
chuộng.
Với dân số đông, lực lượng lao động trẻ, Việt Nam đang nổi lên như một
quốc gia có thế mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Khi đưa người lao
động Việt Nam sang làm việc ở một nước khác, doanh nghiệp xuất khẩu lao
động đã phải cam kết với doanh nghiệp nước sở tại về việc sẽ đưa người lao
động trở về khi hết thời hạn lao động, bồi hoàn những thiệt hại phát sinh từ
việc vi phạm của người lao động, tức là hệ số rủi ro cho doanh nghiệp xuất
khẩu lao động là rất lớn. Vì vậy, doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã chọn
biện pháp bảo lãnh để đảm bảo cho nghĩa vụ của người lao động, và bảo lãnh
cho việc đi lao động ở nước ngoài của người thân trở nên phổ biến trong thời
gian vừa qua.

Thị Kim Dung; Luận án Thạc sỹ Luật học “Những vấn đề pháp lý về bảo
lãnh ngân hàng” của tác giả Nguyễn Thành Long; Luận án Thạc sỹ Luật học
“Công chứng hợp đồng kinh tế và thỏa thuận các biện pháp bảo đảm thực
hiện hợp đồng kinh tế, thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị 5
Hạnh; Luận án Thạc sỹ Luật học “Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong hoạt
động ngân hàng” của tác giả Nguyễn Thị Thảo.
Ngoài ra còn có các bài viết liên quan đến vấn đề bảo đảm thực hiện nghiã
vụ đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Cụ thể là bài :“Về các biện pháp bảo
đảm hợp đồng tín dụng” của PGS. TS. Lê Hồng Hạnh; bài :“Bản chất các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” của TS. Phạm Công Lạc; bài :“Bàn
về biện pháp bảo lãnh” của TS. Phạm Văn Tuyết.
Các công trình trên đây đều đã nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan
đến chế định bảo lãnh. Tuy nhiên, hầu hết các công trình này đều nghiên cứu
bảo lãnh trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên
cứu các quy định về bảo lãnh trong BLDS, với tư cách là các quy định nền
tảng cho các luật chuyên ngành cụ thể hóa. Để có một cái nhìn tổng thể về cơ
sở lý luận và thực tiễn của hoạt động bảo lãnh, từ đó có thể có đề xuất các
kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh trong pháp luật dân sự trong điều
kiện phát triển hiện nay, vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài: Bảo lãnh trong
pháp luật dân sự Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu tất cả
các quy định của bảo lãnh chuyên ngành, mà chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận, thực tiễn và định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh trong Luật
Dân sự Việt Nam. Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đưa ra
những kiến nghị cụ thể trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về
bảo lãnh.

- Luận văn là công trình khoa học, nghiên cứu một cách có hệ thống quá
trình phát triển của các quy định về bảo lãnh ở Việt Nam, có so sánh với cùng
chế định pháp luật của một số nước trên thế giới, do vậy sẽ rất có ích cho
những người nghiên cứu trong cùng lĩnh vực khoa học này. 7
- Luận văn có nêu lên thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động bảo
lãnh trong thời gian vừa qua, do vậy, sẽ là có ích cho những người làm công
tác thực hành pháp luật như Cán bộ tòa án, Cán bộ pháp chế của các doanh
nghiệp có hoạt động bảo lãnh.
- Luận văn có đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về bảo lãnh
trong pháp luật dân sự, góp phần vào qúa trình hoàn thiện pháp luật dân sự
nói chung và chế định bảo lãnh nói riêng. 8
7. Bố cục của luận văn
Luận văn này được trình bày thành ba chương như sau:
Chương 1. Khái quát chung về bảo lãnh.
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo lãnh.
Chương 3. Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh.
Kết luận.



10
khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Nghĩa
vụ của bảo lãnh bao gồm tiền nợ gốc, tiền lãi, tiền phạt vi phạm và tiền bồi
thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc bảo lãnh phải được
lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực
của UBND cấp có thẩm quyền nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Khi người bảo lãnh đã phải trả nợ thay thì họ có quyền đòi người được bảo
lãnh hoàn lại số tiền đã trả. Khái niệm này đã thể hiện đầy đủ bản chất, đặc
điểm của hoạt động bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, hai
khái niệm nêu trên đều được xem xét dưới khía cạnh ngôn ngữ học. Dưới góc
độ luật học, bảo lãnh được khái niệm như sau:
Tại Điều 366 BLDS năm 1995 có quy định: Bảo lãnh là việc người thứ
ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo
lãnh), nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc người
bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình.
Người bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình
hoặc bằng việc thực hiện công việc [3, tr.85].
Việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội được thực
hiện theo quy định tại Điều 376 của Bộ luật này.
Điều 376 BLDS năm 1995 có quy định: tổ chức chính trị - xã hội tại cơ
sở có thể bảo lãnh bằng tín chấp cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vay một
khoản tiền nhỏ tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh,
làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ.
Việc cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp phải được lập thành văn bản
có ghi rõ: số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ


12
Như vậy, khái niệm bảo lãnh cho dù có được nhìn nhận dưới góc độ
nào (dưới góc độ ngôn ngữ hay luật học; khái quát hay chi tiết) thì cũng có
những đặc điểm cơ bản sau:
- Bảo lãnh là việc người thứ ba cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho
người được bảo lãnh (thông thường là người có nghĩa vụ) nếu như người sau
này không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ.
Người thứ ba ở đây có thể là cá nhân, pháp nhân, thông thường người thứ ba,
nếu là cá nhân thì phải là người có uy tín, có khả năng kinh tế và là người có
quan hệ thân thiết với người được bảo lãnh. Ví dụ: cha mẹ bảo lãnh cho con;
con cái bảo lãnh cho cha mẹ (quan hệ này được pháp luật một số thời kỳ trong
lịch sử mặc nhiên thừa nhận); anh chị em bảo lãnh cho nhau; bạn bè thân hữu
bảo lãnh cho nhau. Tóm lại, trên thực tế thông thường người đứng ra bảo lãnh
với người được bảo lãnh phải là những người có quan hệ đặc biệt. Do vậy,
bảo lãnh loại này thường là không có thù lao.
Đối với bên bảo lãnh là pháp nhân: pháp nhân có thể đứng ra bảo lãnh
cho pháp nhân khác trong việc thực hiện nghĩa vụ, cũng có thể bảo lãnh cho
cá nhân. Thông thường, một pháp nhân nếu không phải là một tổ chức tín
dụng, có hoạt động bảo lãnh chuyên nghiệp thì phải là doanh nghiệp có liên
quan mật thiết với người được bảo lãnh. Ví dụ: Tổng Công ty bảo lãnh cho
một hợp đồng tín dụng của Công ty thành viên; Công ty mẹ bảo lãnh cho một
hợp đồng sản xuất của một Công ty con với các tổ chức tín dụng có hoạt động
bảo lãnh chuyên nghiệp thì bảo lãnh là một nghiệp vụ, một loại dịch vụ và có
thù lao. Ngày nay, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, số lượng các giao
dịch dân sự ngày càng tăng và nhu cần được bảo đảm cho các giao dịch đó
cũng tăng theo, điều này đã kéo theo sự tăng trưởng đối với dịch vụ bảo lãnh
của các tổ chức tín dụng. 13

cầu người được bảo lãnh tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ còn lại.
Trường hợp nữa là việc người bảo lãnh cam kết sẽ bảo lãnh cho nghĩa
vụ của người được bảo lãnh, tuy nhiên chỉ với lời cam kết thì người nhận bảo
lãnh sẽ cảm thấy không an toàn. Trong trường hợp này người nhận bảo lãnh
có thể yêu cầu người bảo lãnh phải đưa ra một tài sản cụ thể để bảo đảm cho
nghĩa vụ bảo lãnh, người bảo lãnh đã đưa ra một hoặc một số tài sản để bảo
đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh. Đối với trường hợp này, tài sản đưa ra là để bảo
đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh mà không phải là bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo
lãnh. Hai trường hợp này có vẻ như giống nhau, tuy nhiên nó dẫn đến hai hậu
quả hoàn toàn khác nhau. Nếu tài sản được đưa ra bảo đảm cho nghĩa vụ được
bảo lãnh thì người nhận bảo lãnh chỉ có quyền yêu cầu người bảo lãnh thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh tương đương với giá trị của tài sản bảo đảm. Ngược
lại, nếu tài sản là để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh thì, ngoài việc yêu cầu
người bảo lãnh bán hoặc chuyển giao tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh; người nhận bảo lãnh còn có quyền yêu cầu người bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh bằng toàn bộ khối tài sản mà người bảo lãnh có. Trong mỗi
loại bảo đảm nêu trên đều có những điểm ưu việt nhất định, do vậy tùy từng
trường hợp cụ thể mà các bên tham gia hợp đồng bảo lãnh nên lựa chọn một
hình thức phù hợp.
Bộ luật dân sự năm 2005 đã cố gắng làm rõ hơn và tách bạch được bảo
lãnh thành một biện pháp bảo đảm đối nhân thuần túy. Bên cạnh đó cũng có
quy định các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh có thể là cầm cố, thế
chấp tài sản.
- Bảo lãnh được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người bảo lãnh
và người nhận bảo lãnh. Trong quan hệ bảo lãnh, chúng ta thấy rằng luôn luôn
xuất hiện ba chủ thể tham gia, nhưng thực ra hợp đồng bảo lãnh chỉ là sự thỏa 15
thuận giữa người bão lãnh và người nhận bảo lãnh. Việc người được bảo lãnh

trả cho ông N số tiền gốc là 20.000.000 đồng và tiền lãi là 6.000.000 đồng.
Trong trường hợp anh Ch không có tài sản để thi hành án thì người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Kh phải có trách nhiệm trả nợ thay cho
anh Ch theo giấy cam kết bảo lãnh ngày 20/5/2000.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ông Kh cho rằng, ông chỉ cam kết
trả thay số tiền 20.000.000 đồng tiền gốc, còn khoản lãi 6.000.000 đồng ông
không chịu trách nhiệm.
Ngày 5 tháng 2 năm 2001, ông Kh làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án
nhân dân tỉnh V.P, đề nghị Tòa án tỉnh xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc
thẩm. Tại bản án phúc thẩm dân sự số 56/2001/DSPT ngày 10/3/2001, Tòa án
nhân dân tỉnh V.P đã tuyên y án sơ thẩm.
Như vậy, trong vụ án này Tòa án đã công nhận cam kết của ông Phạm
Tuấn Kh về việc sẽ trả nợ thay cho con trai là anh Phạm Tuấn Ch. Tòa án đã
coi đây là một hợp đồng bảo lãnh giữa người bảo lãnh là ông Kh và người
nhận bảo lãnh là ông N. Trong hợp đồng này không có sự tham gia của người
được bảo lãnh và thậm chí, người được bảo lãnh là anh Phạm Tuấn Kh không
hề biết có việc bảo lãnh.
Ví dụ này chỉ nhằm minh chứng cho một thực tế về hợp đồng bảo lãnh
được thiết lập giữa người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Ngoài ra, chúng
tôi không đi sâu phân tích những khía cạnh khác của quyết định trong hai bản
án của Tòa án (điều này sẽ được làm rõ trong Chương III của luận văn này).
Cũng liên quan đến các bên trong hợp đồng bảo lãnh cho thân nhân đi
lao động ở nước ngoài, tác giả Phạm Công Bảy có quan điểm như sau: Tòa án
không nhất thiết phải đưa người lao động vào tham gia tố tụng khi có tranh
chấp hợp đồng bảo lãnh. Bởi lẽ, tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh là tranh
chấp giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh; do đó, đa số các vụ tranh 17
chấp về hợp đồng bảo lãnh, quyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ liên quan trực tiếp

trượng; nếu người mắc nợ có con, thì đòi ở con [40]. Với quy định hết sức
đơn giản trong điều luật này, ta nhận thấy có một số đặc điểm sau đây:
Bảo lãnh có thể được hình thành bằng giao ước giữa người bảo lãnh và
người nhận bảo lãnh, điều này không có gì đặc biệt, và hiện nay pháp luật dân
sự của chúng ta cũng đang quy định theo hướng này. Tuy nhiên, đoạn cuối
của điều luật này có quy định thêm" nếu người mắc nợ có con, thì được đòi
ở con". Như vậy, quan hệ bảo lãnh giữa con cái và cha mẹ phát sinh trên
nguyên tắc đương nhiên do quy định và hiệu lực của pháp luật. Và cũng hoàn
toàn hợp lý khi gọi con là người bảo lãnh pháp định của cha mẹ trong các
quy định của luật nhà Lê [38, tr.208]. Đây là quy định khá đặc biệt trong pháp
luật nhà Lê, pháp luật Việt Nam hiện nay không tồn tại quy định này, quan hệ
bảo lãnh chỉ được xác lập trên cơ sở thoả thuận bằng hợp đồng bảo lãnh.
Từ quy định này của Bộ QTHL, đã nảy sinh một số vấn đề sau: khái
niệm con trong điều luật cần phải được hiểu như thế nào, con đẻ, con nuôi,
con riêng tức là chỉ con ruột là người bảo lãnh pháp định cho cha mẹ hay tất
cả các loại con đều có nghĩa vụ này? Có lẽ cả con đẻ và con nuôi đều có nghĩa
vụ này. Đối với con riêng thì tùy theo, nếu có quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc
thì con riêng cũng là người bảo lãnh pháp định cho cha mẹ, ngược lại, nếu
không chăm sóc, nuôi dưỡng thì không tồn tại nghĩa vụ này. Suy luận này của
tác giả dựa trên logic hưởng quyền thừa kế của các con trong luật dân sự. Tuy
nhiên, điều này là không có cơ sở rõ ràng.
Ngoài ra, trong trường hợp người mắc nợ có nhiều con, thì nghĩa vụ trả
nợ thuộc về tất cả các con (nghĩa vụ liên đới); hay chỉ thuộc về người con cả.
Có lẽ, với quy định này, chúng ta cần phải hiểu theo nghĩa thứ nhất, tức là
nghĩa vụ bảo lãnh giữa các con là nghĩa vụ liên đới. 19
Một vấn đề đặt ra nữa là, đã có bảo lãnh pháp định của các con đối với
cha mẹ, thì con cái có quyền giao ước bảo lãnh cho cha mẹ nữa hay không?

là con của người mắc nợ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi cả người được bảo
lãnh và con của người này đều không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Bởi vì,
như chúng ta đã biết là bảo lãnh của con đối với cha, mẹ là bảo lãnh pháp
định và nghĩa vụ của con là nghĩa vụ liên đới.
Về phạm vi bảo lãnh. Nếu là người bảo lãnh theo giao ước mà không
phải là con của người được bảo lãnh, thì Luật nhà Lê quy định họ chỉ phải trả
tiền gốc mà không phải trả các khoản khác như tiền lãi, tiền phạt… Nhưng
nếu trong văn tự đó có ghi rõ phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh, thì người bảo lãnh
phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh "… trả như người mắc nợ".
Nếu người bảo lãnh là con của người được bảo lãnh, thì phạm vi bảo
lãnh bao gồm cả tiền vốn, tiền lãi, dù việc bảo lãnh là đương nhiên hoặc theo
thoả thuận. Thực ra bảo lãnh đương nhiên chính là sự liên đới về trách nhiệm
trong trường hợp giữa những người có nghĩa vụ liên đới có quan hệ huyết
thống trực hệ.
Trường hợp nếu con có lập hợp đồng bảo lãnh cho cha mẹ và hợp đồng
này không thoả thuận rõ phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh, thì con sẽ phải thực hiện
nghĩa vụ chính tiền gốc với tư cách người bảo lãnh theo thoả thuận và phải
thực hiện nghĩa vụ trả lãi với tư cách là người bảo lãnh theo luật định.
Mặc dù còn khá đơn giản song Bộ QTHL đã quy định những vấn đề
quan trọng trong quan hệ bảo lãnh như căn cứ xác lập, phạm vi nghĩa vụ của
người bảo lãnh…
Bộ luật Gia Long (sau đây gọi tắt là BLGL) của nhà Nguyễn ra đời sau
QTHL song không kế thừa, phát huy được những gì mà thế hệ đi trước đã làm
được. Trong toàn văn của BLGL, chỉ duy nhất Điều 134 có nhắc đến người
bảo lãnh nhưng lại không đề cập gì đến căn cứ xác lập và phạm vi nghĩa vụ

Trích đoạn Giai đoạn 199 1 đến nay Quy định về bảo lónh trong Bộ luật dõn sự Phỏp Quy định về bảo lónh trong BLDS Liờn bang Nga THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO LÃNH Giao kết hợp đồng bảo lónh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status