ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẠI DIỆN KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN VÀ ĐẠI DIỆN
VƢỢT QUÁ PHẠM VI ỦY QUYỀN TRONG PHÁP
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẠI DIỆN KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN VÀ ĐẠI DIỆN
VƢỢT QUÁ PHẠM VI ỦY QUYỀN TRONG PHÁP
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Minh Tuấn
3.
Hậu quả pháp lý của đại diện không có ủy quyền và đại diện vượt quá phạm
vi ủy quyền. ...................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG II - ĐẠI DIỆN KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN, ĐẠI DIỆN
VƢỢT QUÁ PHẠM VI ỦY QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH ............................. Error! Bookmark not defined.
1.
Đại diện không có ủy quyền và hậu quả pháp lý của đại diện không có ủy
quyền theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.Error! Bookmark not defined.
1.1 Đại diện không có ủy quyền theo quy định của pháp luật Dân sự Việt
Nam hiện hành. ................................................. Error! Bookmark not defined.
2
1.2 Hậu quả pháp lý của đại diện không có ủy quyền theo pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành và so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác.Error! Bookmark
2.
Đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền và hậu quả pháp lý của đại diện vượt
quá phạm vi ủy quyền theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.Error! Bookmark not d
2.1 Đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền theo quy định của pháp luật Dân sự
Việt Nam hiện hành. ......................................... Error! Bookmark not defined.
2.2 Hậu quả pháp lý của đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền theo pháp luật
công việc trở nên khó khăn hơn hoặc do chính bản thân họ bị khuyết đi khả năng
thực hiện quyền mà pháp luật cho phép....họ cần một người khác hành động nhân
danh mình và vì lợi ích của mình. Vì vậy vấn đề đại diện được đưa ra như một giải
pháp hữu hiệu giải quyết bài toán trên.
Đại diện là việc một người thực hiện công việc nhân danh người khác và vì lợi
ích của người khác. Để các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do người đại diện
xác lập trở thành quyền, nghĩa vụ của người được đại diện thì người xác lập giao
dịch đó phải có quyền đại diện và phải hành động trong phạm vi đại diện.
Theo nghĩa rộng, người không có quyền đại diện bao gồm những người thực
hiện công việc nhân danh người khác và vì lợi ích của người khác nhưng không có
căn cứ xác lập quyền đại diện hoặc hành động vượt quá phạm vi đại diện của
mình.
Điều 145, điều 146 BLDSVN quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân
sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện và giao dịch dân sự do
người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện. Tuy nhiên những quy
định này phần nào đã bộc lộ những bất cập như quy định gây khó hiểu, khó áp dụng
cũng như chưa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam hiện nay. Theo cách phân loại
đại diện quy định trong BLDSVN, tác giả bóc tách quy định tại điều 145, điều 146
4
nhằm đi sâu nghiên cứu về những hậu quả pháp lý của các trường hợp đại diện mà
không đủ căn cứ xác lập quyền đại diện theo loại hình đại diện theo ủy quyền.
Những ràng buộc pháp lý của người đại diện không có ủy quyền là vấn đề
quan trọng, góp phần tạo nên giá trị của chế định đại diện, có ý nghĩa bảo đảm ổn
định, an toàn pháp lý cho quan hệ đại diện. Bản chất của quan hệ đại diện rất dễ bị
phá vỡ, những tranh chấp nảy sinh từ việc hành động của người không có quyền đại
diện là không thể tránh khỏi trong đời sống dân sự. Do đó vấn đề này cần được
nghiên cứu cụ thể để đưa ra những quy định, hướng dẫn thực hiện đảm bảo quyền
luật so sánh, ấn phẩm Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và pháp luật số
4/2009, trang 26-31. Bài viết đưa ra quan điểm về đại diện theo quy định của pháp
luật Việt Nam trên tổng quan so sánh với hệ thống pháp luật của một số quốc gia
thuộc hệ thống pháp luật Common law và Civil law, cho thấy chế định đại diện
trong BLDSVN có nhiều hạn chế cần phải có “những thảo luận lớn về chế định này
để góp phần hoàn thiện nó”.
Luận văn thạc sĩ Pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ hợp đồng của
tác giả Đỗ Hoàng Yến năm 2012, tác giả trình bày khái luận về chế định đại diện.
Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ hợp đồng: nguồn
luật điều chỉnh đại diện trong quan hệ hợp đồng; những quy định pháp luật Việt
Nam hiện hành về đại diện trong quan hệ hợp đồng; những tranh chấp thực tế liên
quan đến đại diện trong quan hệ hợp đồng. Tìm hiểu cơ sở và định hướng giải pháp
hoàn thiện pháp luật về Đại diện trong quan hệ hợp đồng.
Luận văn thạc sĩ Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam của
tác giả Lê Hùng Nhân năm 2012, tác giả đưa ra một số vấn đề lý luận về đại diện
theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện
hành về đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Nêu rõ thực trạng áp dụng các
quy định về đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Đề xuất phương hướng,
giải pháp hoàn thiện về mặt lập pháp cũng như về mặt thi hành pháp luật về đại diện
theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
Bên cạnh đó còn nhiều các đề tài khoa học khác về đại diện như: “Phạm vi đại
diện, thẩm quyền đại diện nhìn từ góc độ lý luận và thực trạng pháp luật” của tác
giả Hồ Ngọc Hiển năm 2011, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, từ trang 4854; “Hoàn thiện chế định đại diện trong hệ thống pháp luật thương mại Việt
6
Nam” của tác giả Phùng Thị Yến năm 2009, Đại học quốc gia Hà Nội và các sách
chuyên khảo. Các công trình khoa học trên đề cập đến các khía cạnh khác nhau của
chế định đại diện, nhưng chưa đi sâu phân tích và nghiên cứu về vấn đề đại diện
thương mại và trong các quan hệ dân sự. Do vậy, đề tài nghiên cứu chuyên sâu
những vấn đề lý luận và thực tiễn về đại diện không có ủy quyền, đại diện vượt quá
phạm vi ủy quyền trong các giao dịch dân sự thuần túy, có mở rộng đến các giao
dịch có tính chất thương mại trên lãnh thổ Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của Triết học Mác- Lênin về Nhà nước pháp quyền, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật. Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu khoa học
khác cũng được sử dụng như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối
chiếu so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp lịch sử.
Mặc dù đề tài có tên là “Đại diện không có ủy quyền và đại diện vượt quá
phạm vi ủy quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành”, nhưng chỉ phân
tích, tổng hợp các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành sẽ không đủ để
đưa ra được các đánh giá mang tính tổng quát, không thể nhìn nhận được những
thiếu xót trong các quy định. Khi sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh (bao gồm
việc so sánh với các quy định pháp luật của các nền lập pháp tiên tiến trên thế giới),
phương pháp lịch sử, luận văn sẽ đưa ra được bức tranh toàn cảnh cho vấn đề cũng
như những kiến nghị mang tính xây dựng, nhằm góp phần hoàn thiện các quy định
của pháp luật.
6. Đóng góp của đề tài
So với các đề tài đã nêu trên đây, đề tài này nghiên cứu làm rõ bản chất, các
vấn đề lý luận cơ bản của vấn đề đại diện không có ủy quyền, đại diện vượt quá
phạm vi ủy quyền trong hệ thống pháp luật Dân sự Việt Nam. Đánh giá khách quan
các quy định trên cơ sở thực tiễn; so sánh với những quy định mang tính tiến bộ,
phù hợp của pháp luật các quốc gia có nền lập pháp tiên tiến nhằm khắc phục, chỉnh
sửa những bất cập, tồn tại theo hướng phù hợp với nhu cầu thực tiễn của xã hội.
Điều đó cũng có nghĩa là tạo một hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể pháp
luật dân sự trong quan hệ đại diện mà trước đây, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên
cứu.
“Bảo
lãnh trái phiếu trái luật tại
SeABank”,
http://vneconomy.vn
5. Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ của người đại diện và người ủy quyền theo
pháp luật kinh doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật
tương ứng của Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật, (số 3/2007), tr.57-66.
6. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II Nghĩa vụ và Khế
ước, NXB Sài Gòn, Sài Gòn.
7. Lê Đình Nghị (chủ biên), Nguyễn Minh Oanh, Vương Thanh Thúy, Vũ Thị
Hồng Yến (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập một), NXB Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội.
8. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005 (tập I), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
9. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1995), Bình luận khoa học Bộ
luật Dân sự Nhật Bản, Nguyễn Đức Giao và Lưu Tiến Dũng dịch ra tiếng Việt,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội – Đà
Nẵng.
10
11. Nguyễn Quốc Vinh (2014), “Nguyên tắc “đại diện hiển nhiên” trong pháp luật
hợp đồng”, Nghiên cứu lập pháp, (số 22(278) T11/2014), tr.29-32, tr64.
12. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1),