Hợp đồng vay tài sản theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HƢƠNG LAN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2010 Hµ néi - 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HƢƠNG LAN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬN HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Trung Tụng Hà Nội - 2010

1
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan

vay tài sản ở Việt Nam
21
1.4.1.
Thời kỳ phong kiến
21
1.4.2.
Thời kỳ Pháp thuộc
25
1.4.3.
Thời kỳ từ cỏch mạng thỏng Tỏm năm 1945 đến nay
26

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
30

2
2.1.
Chủ thể của hợp đồng vay tài sản
30
2.2.
Đối tượng của hợp đồng vay tài sản
32
2.3.
Hình thức của hợp đồng vay tài sản
34
2.4.
Quyền và nghĩa vụ của các bên
36
2.4.1.

Về đối tượng của hợp đồng vay tài sản
52
3.1.1.1.
Đối tượng cho vay là ngoại tệ
52
3.1.1.2.
Đối tượng cho vay là vàng
56
3.1.2.
Về hình thức của hợp đồng vay tài sản
58
3.1.3.
Về lãi suất của hợp đồng vay tài sản
60

3
3.1.4.
Về hợp đồng tín dụng
64
3.1.5.
Vấn đề "hình sự hóa" các quan hệ vay tài sản
67
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
dân sự về hợp đồng vay tài sản
69
3.2.1.
Về đối tượng của hợp đồng
70
3.2.2.

84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
85 4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội thường tồn tại trạng thái tạm thời thừa vốn hoặc
tạm thời thiếu vốn ở các cá nhân, tổ chức. Có những bộ phận xã hội có vốn
nhàn rỗi, nhưng lại chưa cần sử dụng vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tiêu
dùng; có những bộ phận xã hội khác lại có nhu cầu sử dụng vốn, nhưng không
thể tự thoả mãn được. Chính vì vậy, đã phát sinh yêu cầu điều hoà các nguồn
vốn trong xã hội theo phương thức có hoàn trả.
Quan hệ chuyển giao vốn giữa các chủ thể trong xã hội theo nguyên
tắc có hoàn trả được xác lập chủ yếu thông qua hợp đồng vay tài sản. Đây là
phương tiện pháp lý giúp các chủ thể thoả mãn được nhu cầu về vốn của
mình. Đồng thời nó là công cụ giúp cho những cam kết vay tài sản được thực
hiện và tôn trọng, góp phần thúc đẩy sự lưu thông nguồn vốn trong xã hội.
Hợp đồng vay tài sản - một chế định được hình thành khá lâu trong
lịch sử lập pháp Việt Nam, trải qua thời gian nó ngày càng được củng cố và
phát triển. Kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời cho đến nay, cơ bản các
quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng vay tài sản đã từng bước đi vào
cuộc sống. Sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 1995 là một bước tiến quan
trọng trong việc cụ thể hoá các quyền cơ bản của con người, tạo cơ sở pháp lý

- "Một số ý kiến góp ý cho các quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự
(sửa đổi) về hợp đồng vay tài sản", của Trần Văn Biên - Viện Nhà nước và
pháp luật, 26/12/2008;
- "Về chế định hợp đồng vay tài sản", của Trần Văn Biên, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 9/2004.

6
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến những nghiên cứu ở bình diện chung
nhất về hợp đồng vay tài sản dưới dạng một mục hay một chương của một tác
phẩm như:
- "Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của luật dân sự", của
TS. Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
- "Giáo trình Luật Dân sự", tập 2, của Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, 2006.
Tuy nhiên, tất cả các công trình, các bài viết trên chủ yếu đề cập đến
việc đánh giá thực trạng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vay tài sản theo
quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995. Nghiên cứu về hợp đồng vay tài sản
theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, trên cơ sở đó so sánh chế định
này được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995 cả về mặt lý luận và thực
tiễn và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật dân
sự về hợp đồng vay tài sản thì đây là đề tài đầu tiên theo hướng này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn của chế định hợp đồng vay tài sản, nêu lên những điểm mới
của chế định hợp đồng vay tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005 so với Bộ
luật Dân sự năm 1995. Qua thực tiễn áp dụng, tôi đã nêu lên những hạn chế,
những bất cập trong quy định. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản.
Từ mục đích nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hợp đồng vay tài sản, làm rõ chức năng

cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của chế định hợp đồng vay tài sản
ở Việt Nam;

8
- Luận văn phân tích và luận giải được những đặc điểm pháp lý và ý
nghĩa của hợp đồng vay tài sản trong đời sống xã hội;
- Luận văn phân tích các quy định về hợp đồng vay tài sản theo quy
định pháp luật dân sự hiện hành, nêu lên những điểm mới của chế định này so
với những quy định trước đây;
- Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định pháp
luật về hợp đồng vay tài sản trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy
định bằng các tranh chấp cụ thể về hợp đồng vay tài sản, cũng như một số
vướng mắc trong thực tiến xét xử tranh chấp về hợp đồng vay tài sản.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng vay tài sản.
Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về hợp
đồng vay tài sản.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản.

9
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

1.1. KHÁI NIỆM
1.1.1. Tài sản
Trong đời sống kinh tế - xã hội, nếu tài sản luôn được coi là điều kiện
vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống của

240 điều mà trong đó có một chương nói về vật. Tiếp đó Bộ luật này còn chứa
đựng Quyển III về luật tài sản quy định chi tiết các vật quyền. Tuy không có
định nghĩa cụ thể về tài sản trong Bộ luật Dân sự này, nhưng người ta có thể
hiểu rằng, tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ là vật chất liệu, mà chủ yếu là
các quyền [26].
Bộ luật Dân sự 1896 của Nhật Bản đã cấu tạo một chương riêng trong
Quyển I nói về vật và dành Quyển II nói về các vật quyền.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, các nước thuộc họ pháp luật La
Mã - Đức dù tiếp nhận luật thống nhất ở Châu Âu lục địa bằng cách nào đi
nữa, thì vẫn có quan niệm: vật chất không phải là tiêu chuẩn tối cao của luật
tài sản, mà nói tới luật tài sản là nói tới các vật quyền.
Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là các quyền giữa mọi người có
liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm một hệ thống các quyền được
thừa nhận về mặt pháp lý do ai đó thủ đắc trong mối liên hệ với những người
khác mà liên quan tới vật.
Bộ luật Dân sự Nga, Điều 128 quy định: "Các đối tượng của Luật dân
sự bao gồm toàn bộ các vật, kể cả tiền và các giấy tờ trị giá bằng tiền, các tài
sản khác trong đó có quyền tài sản, các công việc và dịch vụ, thông tin, kết quả
của các hoạt động trí óc, kể cả các quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình".
Điều 132 khoản 1 quy định: "Doanh nghiệp với tư cách là một tổng thể tài

11
sản cũng được coi là bất động sản". Quy định này thể hiện quan điểm theo đó
bất động sản là những tài sản quý giá nhất [42, tr. 271].
Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, Điều 163 quy định: "Tài sản bao
gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản". Trong đó, quyền tài sản được định
nghĩa tại Điều 181: "Là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong
giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ". Các điều từ Điều 164 đến Điều 173
quy định về các vấn đề liên quan tới quyền sở hữu đối với tài sản.
Như vậy, tài sản - với tư cách là khách thể của quan hệ pháp luật về sở

toàn quyền hủy vật thuộc quyền sở hữu của mình.
Đối với giấy tờ có giá, theo nghĩa rộng được hiểu là chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ
chức, cá nhân) xét trong quan hệ pháp lý với chủ thể khác [79, tr. 89].
Tuy nhiên, trong số giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản đó, có một
số giấy tờ đặc biệt có thể chuyển giao được, ai đánh mất là mất quyền, ai có
nó là có quyền, thì giấy tờ này mới coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại
tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự. Theo cách hiểu này thì giấy tờ có giá
có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, xét về hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập
theo hình thức, trình tự luật định.
Thứ hai, nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá thể hiện quyền tài sản,
giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ.
Thứ ba, giấy tờ có giá có tính thanh toán và là một công cụ có thể
chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển
nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu.
Ngoài ra, có thể kể thêm các đặc điểm khác của giấy tờ có giá như
tính có thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro,…

13
Như vậy, khái niệm về tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005 mang
tính chất liệt kê. Bởi vì pháp luật thường đi sau sự phát triển của thực tiễn nên
việc liệt kê có thể sẽ không đầy đủ hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa
học và đời sống.
Ngày nay, tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong
sự chiếm hữu của một chủ thể, một khái niệm rộng và không có giới hạn, luôn
được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra.
1.1.2. Hợp đồng
Định chế hợp đồng bắt nguồn từ luật La Mã và sau này làm các quốc
gia Châu Âu trong hệ thống luật dân sự đã bổ sung và nâng cao cho nền pháp

Các bên được hiểu là hai hay nhiều bên. Một bên có thể là cá nhân
hoặc một tổ chức có tư cách pháp nhân. Tổ chức có tư cách pháp nhân có thể
là một công ty, hiệp hội hoặc cơ quan nhà nước. Năng lực hành vi dân sự của
cá nhân được xác định theo Điều 14-23 Bộ luật Dân sự. Năng lực hành vi dân
sự của pháp nhân được xác định theo Điều 84-105 Bộ luật Dân sự.
Nghĩa vụ được hiểu là một hoặc nhiều bên (bên có nghĩa vụ) phải thực
hiện một hoặc một số hành vi như chuyển giao đồ đạc, hàng hóa, vật dụng và
các vật khác, chuyển giao quyền, trả tiền, cung cấp các giấy tờ có giá, làm
hoặc không làm một công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều bên
khác (bên có quyền) theo Điều 280 Bộ luật Dân sự.
1.1.3. Hợp đồng vay tài sản
Hiểu theo nghĩa chung nhất, vay tài sản là một quan hệ xã hội, quan hệ
sử dụng vốn lẫn nhau giữa chủ thể này với chủ thể khác trên nguyên tắc có hoàn
trả. Mục đích và tính chất của quan hệ vay tài sản do mục đích và tính chất của
nền sản xuất trong xã hội quyết định. Sự vận động của quan hệ vay tài sản luôn
luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phương thức trong xã hội đó.

15
Dưới các hình thái kinh tế - xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, quan
hệ vay tài sản tồn tại dưới hình thức cho vay nặng lãi. Hình thức này tồn tại
và phát triển trong điều kiện nền sản xuất thấp kém, phụ thuộc nhiều vào điều
kiện thiên nhiên, giai cấp thống trị thông qua nhà nước đặt ra nhiều loại sưu
cao, thuế nặng để bóc lột giai cấp bị trị. Những người nghèo khổ thuộc giai cấp
bị trị thường xuyên phải đối phó với những khó khăn, rủi ro xảy ra trong cuộc
sống bắt buộc phải đi vay để giải quyết những khó khăn cấp bách trong đời
sống. Trong thời kỳ này người đi vay phải trả lãi suất cao và nếu không trả
được nợ thì bị tịch thu phương tiện sản xuất hoặc bị trói buộc lệ thuộc vào
người cho vay - thông thường là những kẻ giàu có thuộc giai cấp thống trị
trong xã hội. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, lãi suất phải trả khoảng 40% -
100%/năm. Dưới chế độ phong kiến Đức, lãi suất từ 21% - 43%/năm và trong

trong những hợp đồng thông dụng nhất của pháp luật về hợp đồng. Nó được
coi là hợp đồng vay nợ, theo đó: "Hợp đồng vay nợ là sự thỏa thuận của hai
bên, theo đó bên cho vay chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên
vay (tiền, lương thực, thực phẩm, rượu, bơ sữa…). Bên vay có nghĩa vụ trả
vật cùng loại hoặc số tiền đã vay khi hết hạn hợp đồng" [76, tr. 129]. Theo
quy định này thì hợp đồng vay nợ là hợp đồng thực tế (tức là bên cho vay phải
chuyển giao tài sản của mình cho bên vay thì nghĩa vụ mới phát sinh). Luật
của Justinian còn quy định: "Các bên trong hợp đồng vay tài sản cũng không
được thỏa thuận về lãi suất theo kiểu lãi mẹ đẻ lãi con" [76, tr. 130].
Như vậy, có thể thấy, từ rất sớm trong lịch sử lập pháp, khái niệm hợp
đồng vay tài sản đã được hình thành và nó vẫn còn giữ nguyên giá trị tài sản
cho đến ngày nay.
Theo Điều 1892 Bộ luật Dân sự của Pháp quy định: "Hợp đồng vay tài
sản là hợp đồng theo đó một bên giao cho bên kia một số lượng vật sẽ bị tiêu
hao khi sử dụng với điều kiện là bên kia phải trả lại vật cùng số lượng và chất
lượng". Định nghĩa này đã chỉ rõ đối tượng của hợp đồng vay tài sản là những

17
vật bị tiêu hao khi sử dụng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp thì hợp
đồng vay và hợp đồng mượn được sắp xếp trong cùng một thiên (thiên X:
Vay mượn).
Theo quy định của pháp luật Nhật Bản, hợp đồng vay tài sản có hai
loại: Loại thứ nhất, người vay có quyền sở hữu đối với đối tượng vay, có
quyền định đoạt đối với đối tượng đó và việc trả lại đối tượng vay sẽ được
thực hiện bằng một vật khác cùng giá trị với vật đã nhận. Loại thứ hai, người
vay không có quyền sở hữu đối tượng vay, nhưng được phép sử dụng, thu lợi
từ nó và phải hoàn trả đúng vật đã nhận khi ký kết hợp đồng vay. Loại thứ
nhất được coi là hợp đồng vay, còn loại thứ hai được coi là hợp đồng mượn
và hợp đồng thuê tài sản [82, tr. 572].
Như vậy, cách tiếp cận hợp đồng vay tài sản của Bộ luật Dân sự Nhật

ước vay nợ [13].
Tại Điều 1173, khế ước vay nợ được định nghĩa như sau: "Khế ước
vay nợ là khế ước trong đó, một bên đương sự giao cho bên kia một số đồ vật
sẽ bị tiêu thất do sự tiêu thụ, người vay khi tới hạn sẽ phải hoàn trả lại đúng
số lượng, cùng loại, cùng hạng như đồ vật đã vay, mặc dầu đồ vật ấy có tăng
giá hay sụt giá" [13].
Pháp luật Việt Nam hiện hành đưa ra khái niệm hợp đồng vay tài sản
tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả,
bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất
lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" [61].
Xuất phát từ "nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận" (Điều 4
Bộ luật Dân sự năm 2005) mà khái niệm hợp đồng vay tài sản đã đề cập tới
yếu tố thỏa thuận. Thỏa thuận ở đây là sự thỏa thuận giữa bên cho vay và bên

19
vay trong hợp đồng. Hợp đồng có được thiết lập hay không là do sự thỏa
thuận giữa các bên, tức phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên trong việc
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ nhất định, bởi vì ý chí là khả năng tự xác định
mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình, khắc phục khó khăn
nhằm đạt mục đích đó. Sự thỏa thuận này tất nhiên không được trái với pháp
luật, đạo đức xã hội. Một yếu tố góp phần không nhỏ đối với các bên chủ thể
khi giao kết hợp đồng đó là sự tự nguyện - phải có sự thống nhất ý chí và bày
tỏ ý chí của từng chủ thể trong hợp đồng. Ngược lại nếu một trong các bên bị
lừa dối, đe dọa, ép buộc khi ký kết hợp đồng nhưng sự "tự do" ấy phải được
đặt trong giới hạn bởi lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích chủ thể khác.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Hợp đồng vay tài sản là một dạng của hợp đồng dân sự, do vậy bên
cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự thì hợp đồng vay tài sản
cũng có những đặc điểm riêng của nó. Đây chính là cơ sở giúp ta phân biệt

khác hoặc pháp luật có quy định khác" [61]. Như vậy từ thời điểm hợp đồng
giao kết đã phát sinh hiệu lực của hợp đồng vay tài sản, và từ thời điểm này
nếu bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tiền hoặc vật cùng loại thì bên
vay có quyền kiện dưới góc độ là vi phạm nghĩa vụ được cam kết trong hợp
đồng vay tài sản. Do vậy, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận.
- Hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng đơn vụ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì:
"Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ". Nghĩa là trong
quan hệ này một bên chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ và một bên có nghĩa
vụ mà không có quyền.
Có ý kiến cho rằng, nếu dựa vào mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ
của bên cho vay và bên vay thì hợp đồng vay là hợp đồng song vụ, quyền của

21
bên vay tương ứng với nghĩa vụ của bên cho vay và ngược lại. Cũng có ý kiến
cho rằng, hợp đồng vay là hợp đồng đơn vụ vì trong hợp đồng vay tài sản
nghĩa vụ của các bên phát sinh không cùng lúc mà nghĩa vụ của bên vay phát
sinh sau một khoảng thời gian.
Tuy nhiên, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản được xác
định tại thời điểm bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay. Từ thời điểm
này trở đi, người cho vay có quyền yêu cầu người vay sử dụng tài sản vay
đúng mục đích (nếu có thoả thuận), có quyền yêu cầu người vay hoàn trả lại
tài sản đã vay cùng loại, theo đúng số lượng, chất lượng và một khoản lãi (nếu
có) khi đến hạn, còn người vay không có quyền gì đối với người cho vay.
Chính vì vậy, hợp đồng vay tài sản được xem là hợp đồng đơn vụ.
- Hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng có tính đền bù hoặc không có
tính đền bù
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có tính đền bù khi mà một bên sau
khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận lại một lợi ích tương ứng.
Hợp đồng vay tài sản có tính đền bù được áp dụng có tính chất bắt buộc trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status