1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM BÁ ĐÔNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU -
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu
HÀ NỘI - 2013 3 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU
Nội dung hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu 32
4
1.4. Khái quát quá trình phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam
về hợp đồng dân sự vô hiệu
43
1.4.1.
Giai đoạn 1945 đến năm 1991 43
1.4.2.
Giai đoạn từ 1991 đến 2005 45
1.4.3.
Giai đoạn từ 2005 đến nay 46
1.5. Pháp luật một số nước trên thế giới quy định về hợp đồng dân
sự vô hiệu
46
1.5.1.
Năng lực hành vi 46
1.5.2.
Giả tạo 47
1.5.3.
Trái đạo đức và trái pháp luật 48
1.5.4.
Hình thức 48
Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm về hình thức luật định 79
2.3. Nhận xét pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu và thực tiễn
áp dụng
84
5
2.3.1.
Những mặt tích cực 84
2.3.2.
Những mặt hạn chế 89
Chương 3:
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU
100
3.1. Nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng dân sự 100
3.1.1.
Ghi nhận thêm trường hợp dẫn tới nhầm lẫn 100
3.1.2.
Bổ sung yếu tố nhầm lẫn về chủ thể cũng dẫn tới hợp đồng vô hiệu
101
3.1.3.
Điều kiện "không chấp nhận" và mối tương quan để "Tòa án
tuyên bố giao dịch vô hiệu"
3.6. Cách tính thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu
theo quy định tại khoản 1 điều 136 bộ luật dân sự
113
3.7. Xây dựng nguyên tắc "tự do hợp đồng" để duy trì hiệu lực hợp
đồng dân sự khi vô hiệu
115
6
3.8. Sử dụng án lệ khi giải quyết hợp đồng dân sự vô hiệu 117
KẾT LUẬN
119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
121 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật dân sự
HĐDS : Hợp đồng dân sự
PACL : Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Á
PLDS : Pháp luật dân sự
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
chóng liên quan đến bất động sản và hàng loạt giao dịch bất động sản đang
hiện diện thực tế trong đời sống xã hội. Điều này kéo theo sự lách luật - nhất
9
là trong nghĩa vụ nộp thuế khi chuyển nhượng, sang tên quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở. Do đó giá trị hợp đồng so với giá trị thực tế mà các bên
giao dịch có sự không đồng nhất hoặc việc mua bán giữa các bên không lập
hợp đồng bằng văn bản theo quy định Cho nên số lượng tranh chấp liên
quan đến HĐDS đang có xu hướng gia tăng, mà chính sự vi phạm điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Hơn thế việc xử lý hậu
quả khi HĐDS vô hiệu còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn như việc hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận giữa các bên chủ thể trong hợp đồng được thực hiện
trên thực tế như thế nào? Hay đối với những tài sản khi chuyển giao theo
hợp đồng mua bán đất đai mà người mua đã xây dựng nhà kiên cố và đã
được sử dụng trong một thời gian dài thì khi hợp đồng này vô hiệu các bên
hoàn trả ra sao? Chính bởi vậy, nghiên cứu một cách có hệ thống quy định
này giúp làm rõ lý luận cơ bản và những nguyên tắc chung nhất cho việc áp
dụng vào thực tế. Qua đó cũng khái quát vấn đề để đề xuất cơ quan, ban,
ngành có liên quan hướng hoàn thiện nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của
các chủ thể tham gia trong quan hệ dân sự, cao và xa hơn nữa là lợi ích kinh
tế, sự bình ổn xã hội.
Vì các lẽ trên, tác giả lựa chọn đề tài "Một số vấn đề về hợp đồng dân
sự vô hiệu - Thực trạng và hướng hoàn thiện" cho luận văn tốt nghiệp cao
học luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hợp đồng dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học pháp lý nghiên
cứu dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp, có thể trực
tiếp hoặc gián tiếp, chẳng hạn như: "Chế định hợp đồng dân sự vô hiệu và yêu
cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005", của Bùi Thị Thanh Hằng,
Tạp chí Khoa học (Kinh tế - Luật), 2010; "Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
đệm sau này trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện chế định HĐDS
vô hiệu.
11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ các khía cạnh liên quan đến
chế định HĐDS vô hiệu được quy định trong PLDS Việt Nam, từ sự phát
triển của chế định trên cho đến sự áp dụng vào thực tiễn. Bên cạnh đó luận
giải khái niệm, đặc điểm pháp lý và ý nghĩa của HĐDS vô hiệu trong chế định
chung về hợp đồng. Ngoài ra, luận văn sẽ phân tích thực tiễn giải quyết hậu
quả pháp lý khi HĐDS vô hiệu. Từ những nội dung nêu trên và đặt cạnh các
quy định của pháp luật thế giới để thấy tính ưu nhược của các quy định hiện
hành, nhằm có cách nhìn nhận đánh giá hiệu quả mà PLDS hiện hành quy
định. Luận văn còn có những đề xuất phương hướng hoàn thiện, góp phần
thúc đẩy giao lưu dân sự trong đời sống xã hội và nền kinh tế của đất nước.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích và luận giải các khái niệm cơ bản của HĐDS vô hiệu; phân
loại chúng; đánh giá ý nghĩa của quy định này và hậu quả cũng như cách xử
lý khi HĐDS vô hiệu xảy ra;
- Khái quát được quá trình hình thành và phát triển của chế định HĐDS
vô hiệu qua các giai đoạn quan hệ PLDS khác nhau của Việt Nam;
- Tìm hiểu và chọn lọc các quy định của một số nước trên thế giới
như: Pháp, Nhật, Đức, Mỹ … để thấy được tính hiện đại và sự tương quan với
sự ghi nhận của PLDS Việt Nam;
- Nghiên cứu thực tiễn quá trình áp dụng quy định này; những mặt tích
cực, hạn chế thông qua những vụ việc cụ thể;
- Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về
HĐDS vô hiệu và phần nào định hướng cho nhà làm luật trong tương lai coi
định PLDS Việt Nam về HĐDS vô hiệu và PLDS một số nước trên thế giới.
13
Qua đó cho thấy sự kế thừa và phát triển, đề ra những định hướng trong thời
gian tới của quy định chế định trên trong mối quan hệ PLDS.
- Tổng hợp một số quan điểm và đưa ra khái niệm khoa học mới trong
PLDS Việt Nam về các vấn đề xung quanh HĐDS vô hiệu.
- Chỉ ra tính tích cực, khả thi mà PLDS đã giải quyết được. Đồng thời
nêu bật lên những hạn chế còn tồn tại trong thực hiện, áp dụng, xử lý trong
trường hợp HĐDS vô hiệu.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện về mặt luật nội dung cũng như thực tiễn
áp dụng.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về HĐDS vô hiệu
trong bối cảnh vai trò hợp đồng chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong
các giao dịch dân sự hiện nay.
- Luận văn chỉ ra những hạn chế và đề xuất hướng giải pháp qua đó
đảm bảo tốt hơn quyền lợi ích của chủ thể tham gia quan hệ PLDS; quyền tự
do hợp đồng của các bên.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu bổ ích cho những
người làm công tác áp dụng pháp luật.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên
luật và những người không chuyên về luật và cho những đối tượng khác nhau.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng dân sự vô hiệu.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết một số trường hợp hợp đồng dân sự
vô hiệu.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng
15
chủ quan. Theo phương diện khách quan, HĐDS là một bộ phận các quy phạm
pháp luật được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự (BLDS), thể hiện thừa
nhận, yêu cầu của Nhà nước đối với giao lưu dân sự, thể hiện ý chí của Nhà
nước, "nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá
trình dịch chuyển lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau" [36]. Theo
phương diện chủ quan thì HĐDS là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất ý
chí của các bên chủ thể nhằm mục đích "… xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự" [56] được thỏa thuận cụ thể của mỗi bên để có cơ sở
cùng nhau thực hiện. Luật Hợp đồng Trung Quốc quy định:
Hợp đồng theo quy định của Luật này là sự thỏa thuận về
việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ
thể bình đẳng tự nhiên nhân, các tổ chức khác. Các thỏa thuận liên
quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… thích dụng
với quy định của các luật khác [53].
Hay theo PLDS của nước Nga "Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai
hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [57].
Hoặc như ghi nhận tại PLDS Canada thì "Hợp đồng dân sự là sự thống nhất
ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định
vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác" [55]. Như vậy về bản chất
HĐDS được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả của quá trình
đàm phán, thương lượng thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền, nghĩa
vụ mà pháp luật quy định không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng sự thỏa
thuận của các bên. Và theo các nhà soạn thảo quy định của luật dân sự Việt
Nam định nghĩa "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [28, Điều 388] là sự
hợp lý tất yếu và thuyết phục, có tính khái quát cao, phản ánh đúng bản chất
quan hệ dân sự.
17
Thứ hai, HĐDS là căn cứ chủ yếu phát sinh nghĩa vụ dân sự, ràng
buộc trách nhiệm với các bên trong quan hệ PLDS, cũng như khi giải quyết
tranh chấp giữa các bên. BLDS 2005 định nghĩa:
Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể
(sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển
giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc
không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều
chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) [28, Điều 280].
HĐDS chính là nơi thể hiện và ghi nhận các bên trong quan hệ nghĩa
vụ dân sự; một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ gắn bó với nhau bởi các
quy định trong từng điều khoản cụ thể của hợp đồng phát sinh theo quy phạm
của pháp luật.
Thứ ba, trong quan hệ PLDS, các bên chủ thể luôn hướng tới một mục
đích nhất định để đạt được. Mục đích này được mỗi bên xây dựng và thỏa
thuận thống nhất với nhau bằng văn bản, ràng buộc bởi quy định cụ thể.
Quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia. Mỗi bên tham
gia trong hợp đồng đều chịu sự điều chỉnh bởi quy định đã được đặt ra dựa
trên ý chí chung xác lập. Bất kỳ chủ thể nào nếu thực hiện trái với sự ghi nhận
đó đều phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình. Các bên chủ thể phải
tuân thủ và thực hiện cho đến thời điểm chấm dứt nghĩa vụ tương ứng của
mỗi bên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, mỗi bên đều có thể
thay đổi nội dung trong hợp đồng trên cơ sở thỏa thuận
1.1.2. Hiệu lực của hợp đồng dân sự và việc vô hiệu của hợp đồng
dân sự
1.1.2.1 Hiệu lực của hợp đồng dân sự
- Khái niệm hiệu lực của hợp đồng dân sự
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì "hiệu lực của hợp đồng
dân sự" là "giá trị bắt buộc thi hành đối với các chủ thể tham gia giao kết hợp
(1) Các giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện; (2) Các bên giao kết
19
phải là người có năng lực để giao kết hợp đồng; (3) Đối tượng và nội dung
chủ yếu của hợp đồng phải được xác định; (4) Mục đích, căn cứ của hợp đồng
phải hợp pháp. BLDS năm 2005 quy định cũng khá tương đồng, trong đó xác
định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự gồm có: (1) Người tham gia
giao dịch có năng lực hành vi dân sự; (2) Mục đích và nội dung của giao dịch
không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (3) Người
tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; (4) Hình thức giao dịch phải theo
quy định trong trường hợp pháp luật có quy định. Mặt khác, tại BLDS năm 2005
đặt ra vấn đề: không có hiệu lực trong trường hợp hình thức hợp đồng không
tuân theo quy định của pháp luật nếu pháp luật quy định hình thức giao dịch
tương ứng với giao dịch. Theo hệ thống pháp luật Common Law, để hợp đồng
có hiệu lực thì phải tuân thủ các yêu cầu: (1) Có sự đề nghị; (2) Có sự chấp nhận
đề nghị; (3) Lợi ích đối ứng; (4) Các bên phải có ý định thực sự muốn giao kết
hợp đồng; (5) Cam kết chắc chắn và sự thỏa thuận hoàn chỉnh [62, tr. 57-68];
(6) Hoặc phải tuân thủ các quy định khác về: (a) các bên phải có năng lực chủ
thể giao kết hợp đồng; (b) không thiếu những yếu tố mà thiếu nó có thể làm
cho hợp đồng vô hiệu, bị hủy bỏ, hoặc không có giá trị pháp lý [60, tr. 3-4].
Như vậy, có thể thấy điểm chung pháp luật một số nước trên thế giới trong đó
có Việt Nam đều thừa nhận những điều kiện sau là yếu tố bắt buộc có hiệu lực
của hợp đồng.
• Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự
Chủ thể của HĐDS là người phải có một năng lực chủ thể nhất định.
"Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi
của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự" [28, Điều 17]. Người có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được tự mình xác lập, thực hiện các HĐDS
trừ trường hợp người đó mất năng lực hành vi dân sự thì giao dịch của họ phải
do người giám hộ thực hiện hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì các
xuất phát từ ý chí chủ thể và thuộc về yếu tố chủ quan, nếu không được biểu
hiện ra bên ngoài thì người khác không thể nào biết được. Bởi thế:
21
Người tham gia giao dịch (hợp đồng) hoàn toàn tự nguyện
được hiểu là: các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự do bày tỏ ý
chí, nguyện vọng của mình, tự nguyện thỏa thuận với nhau về các
nội dung của giao dịch mà không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép từ
phía bên kia hoặc của người khác; các bên tự nguyện thỏa thuận các
vấn đề nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự của mình [44].
• Hình thức của giao dịch phải theo quy định của pháp luật
Hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp
đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công
bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn
tại của hợp đồng. Theo quy định của BLDS năm 2005 hợp đồng được thể hiện
bằng một trong ba hình thức "…bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi
cụ thể khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng
một hình thức nhất định" [28, Điều 401]. Hình thức bằng lời nói hay còn gọi
là hợp đồng miệng: là sự thể hiện giao kết của các chủ thể thông qua trao đổi
trực tiếp bằng ngôn ngữ nói hoặc hành động trong việc xác lập, giao kết hợp
đồng. Hợp đồng miệng tồn tại phổ biến và thường được áp dụng đối với
những giao dịch giá trị không lớn, có sự tin tưởng giữa các chủ thể, có thể
thực hiện và chấm dứt trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên cũng chính từ
lòng tin giữa các chủ thể dẫn tới sự lợi dụng và tranh chấp khó giải quyết khi
mà pháp luật luôn đặt chứng cứ chứng minh lên hàng đầu. Quyết định Giám
đốc thẩm số 25/2005/DS-GĐT ngày 16/09/2005 của Hội đồng thẩm phán về
vụ án tranh chấp "đòi tài sản", các bên đã thỏa thuận việc mua bán nhà bằng
miệng, nên giá trị pháp lý của hợp đồng không được thừa nhận [46, tr. 259-263].
Rõ ràng việc giao kết bằng miệng luôn tiềm ẩn sự không an toàn pháp lý cho
khi cần thiết, đó là "giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận
chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu" [31, Điều 34].
Như vậy có thể nói việc sử dụng hình thức văn bản dưới dạng thông điệp dữ
liệu trong quá trình thiết lập giao dịch, hợp đồng đã bù trừ và giảm gánh nặng
cho việc giao kết bằng hình thức truyền thống. Ngoài ra, hình thức hợp đồng
23
bằng hành vi cụ thể đó là hành động, là sử sự có ý thức của các bên. Thông
thường hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên thực
hiện hành vi giao kết hợp đồng biết rõ nội dung hợp đồng và chấp thuận tất cả
các điều kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng
hành vi, hoặc không đưa ra một yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời
chấp nhận. Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng
thông dụng, được thực hiện ngay và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực
hoạt động liên quan, tại nơi giao dịch được xác lập: hành vi mua hàng bằng
máy tự động, chụp ảnh bằng máy tự động…
- Hiệu lực của hợp đồng và việc vô hiệu của HĐDS
Khái niệm HĐDS vô hiệu:
Pháp luật dân sự Việt Nam chưa có định nghĩa về HĐDS vô hiệu.
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2003 của Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng thì
"vô hiệu" được hiểu là "không có hiệu lực, không mang lại kết quả". Tuy
nhiên trên cơ sở Điều 127 của BLDS năm 2005: "Giao dịch dân sự không có
một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô
hiệu" [28], Điều 410 khoản 1 của BLDS 2005: "Các quy định về giao dịch
dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng
đối với hợp đồng vô hiệu" [28], có thể hiểu HĐDS vô hiệu là hợp đồng vi
phạm một trong các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật, hay
còn có cách hiểu khác khi cho rằng HĐDS vô hiệu là những giao dịch được
xác lập trái với các quy định của pháp luật nên không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ ràng buộc các bên với nhau… Ở hai khái niệm nêu trên đã bao hàm
biết được việc giao kết có phù hợp với quy định PLDS không, do đó vẫn thực
hiện theo những thỏa thuận mà hai bên đã xác lập và cho rằng như thế là phù
hợp với mục đích chung. Điều này dẫn tới khi có tranh chấp xảy ra và các bên
yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chứ không yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu. Bởi trong cách hiểu đơn thuần của các bên, đó
là hợp đồng đã có giá trị. Vì vậy, lấy gì làm thước đo để xác định thời điểm
25
hợp đồng có hiệu lực và hợp đồng vô hiệu có ý nghĩa quan trọng trong quá
trình khái quát khái niệm HĐDS vô hiệu. Thông thường thời điểm này chính
là thời điểm xác lập hợp đồng giữa các bên. Như vậy thiết nghĩ và có thể hiểu
khái niệm HĐDS vô hiệu như sau: Hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng
chưa tuân thủ điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được xác định tại thời điểm
xác lập hợp đồng và có hiệu lực khi khắc phục được khiếm khuyết về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Hiệu lực của hợp đồng và việc vô hiệu của HĐDS:
Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu là kết quả của việc vi phạm ý chí đích
thực của chủ thể hoặc xâm phạm lợi ích công cộng, lợi ích của chủ thể khác
hay đôi khi là xâm phạm đến lợi ích của chính bản thân chủ thể. Ý chí chủ thể
là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong hợp đồng trên cơ sở nguyên tắc
tự do thỏa thuận mà hầu hết PLDS bất kỳ quốc gia nào đã, đang thừa nhận.
Chỉ khi nào có sự thống nhất ý chí hoặc thừa nhận, chấp thuận ý chí thì khi đó
hợp đồng mới được xác lập theo cách mà chủ thể mỗi bên mong muốn. Sự giả
tạo ý chí là sự vi phạm cơ bản tự do thỏa thuận và dẫn tới kết quả giao dịch
không như định đoạt mà chủ thể hướng tới. Đoạn 1 Điều 132 BLDS năm 2005
ghi nhận: "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa
thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu…" [28].
Thứ hai, chủ thể của hợp đồng là một trong những điều kiện dẫn tới
HĐDS vô hiệu. Chủ thể hợp đồng là cá nhân, tổ chức phải có đủ năng lực
hành vi dân sự, năng lực PLDS. Nhận thức được hành vi thì mới thể hiện