Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Bộ luật dân sự năm 2005 - Pdf 25



Trần
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN NGUYỄN NAM PHƢƠNG NGƢỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC
VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

MỤC LỤC

Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 6
3. Kết cấu nội dung của luận văn 7
4. Tài liệu tham khảo 7
Chƣơng 1: THỪA KẾ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT
THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 8
1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 8
1.2. Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam 12
1.3. Khái niệm về di chúc và đặc điểm của di chúc 21
1.3.1. Khái niệm về di chúc 21
1.3.2. Đặc điểm của di chúc 24
1.4. Năng lực của người lập di chúc 27
Chƣơng 2: NGƢỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI
DUNG DI CHÚC THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 31
2.1. Vấn đề hạn chế quyền của người lập di chúc 31
2.2. Chủ thể và điều kiện hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung
di chúc 38
2.3. Cách xác định kỷ phần bắt buộc của người được hưởng di sản

nhiều văn bản pháp luật từ thời trước cho đến hôm nay.
Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản
của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế;
người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc
theo pháp luật. Với ý nghĩa có tầm quan trọng như vậy, nên trong bất kỳ chế
độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các
chế định pháp luật nói chung và bản thân nó cũng phản ánh phần nào bản chất
chế độ xã hội đó, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong
quá trình phát triển của một chế độ xã hội nói riêng.
Ở nước ta, lần đầu tiên pháp luật thành văn cũng đã quy định vấn đề
này trong chương “Điền sản” [8] của Bộ Quốc triều hình Luật (hay còn gọi là
Bộ luật Hồng Đức). Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, qua nhiều biến cố lịch
sử vấn đề thừa kế vẫn được ghi nhận và mở rộng hơn qua các văn bản pháp
luật như: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992,
Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm
2005. Pháp luật thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan
hệ xã hội xã hội chủ nghĩa, theo đó quyền và lợi ích về tài sản của công dân
được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Lịch sử đã cho thấy rằng, quyền thừa kế nói chung và quyền thừa kế
theo di chúc nói riêng của công dân Việt Nam có sự biến đổi theo hướng ngày
càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế - xã hội qua
2
các thời kỳ. Xét riêng về diện thừa kế, thì quyền thừa kế của công dân Việt
Nam được mở rộng tương ứng với quan điểm, cách nhìn nhận đúng đắn hơn
đối với mối quan hệ giữa người có tài sản để lại và những người thừa kế.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều
chủ trương, đường lối nhằm đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế

hạn chế quyền định đoạt chủ quan của người có tài sản để bảo đảm quyền lợi
cho những người thừa kế khác. Đó chính là việc vừa hệ thống hóa các quy
phạm pháp luật thừa kế Việt Nam theo quá trình hình thành và phát triển từ
trước đến nay, vừa phân tích và đánh giá hiệu quả điều chỉnh của chế định
pháp luật này qua các thời kỳ phát triển của xã hội Việt Nam, từ đó một mặt
góp phần hoàn chỉnh lý luận khoa học đối với chế định pháp luật quan trọng
này, mặt khác, giải quyết tốt vấn đề lý luận giúp cho việc thi hành, áp dụng
cũng như hoàn thiện các qui định về thừa kế, nâng cao hiệu quả điều chỉnh
của chúng.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Xây dựng các khái niệm thừa kế, khái niệm quan hệ pháp luật thừa kế,
khái niệm quyền thừa kế và khái niệm thừa kế theo di chúc, thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung di chúc Phân tích, lập luận để làm rõ quá trình xây dựng
và phát triển những qui định pháp luật thừa kế ở nước ta từ trước đến nay để
đánh giá nội dung những qui định về thừa kế qua từng giai đoạn phát triển.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: "Ngƣời thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung di chúc theo Bộ luật dân sự năm 2005" trong luận văn này có được
những điểm mới sau đây:
- Xây dựng và hoàn thiện các khái niệm như: Thừa kế, quan hệ pháp
luật thừa kế, quyền thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế không phụ thuộc
vào nội dung di chúc để làm rõ tính đặc thù của thừa kế, từ đó góp phần vào
4
việc hoàn thiện hơn khoa học luật trong lĩnh vực thừa kế nói riêng và trong
lĩnh vực dân sự nói chung;
- Hệ thống hóa những quy định thừa kế theo di chúc về từng vấn đề lớn
cụ thể qua các giai đoạn lịch sử để phân tích và đưa ra những nhận định làm

phân tích thực tiễn thi hành và áp dụng các quy phạm thừa kế. Ngoài ra, khi
phân tích các quy định cụ thể, cũng đề cập đến một số quy định tương ứng
trong pháp luật một số nước hiện nay để so sánh và đưa ra những kết luận,
kiến nghị có tính tham khảo nhất định.
Thừa kế vừa là vấn đề rộng và phức tạp, vừa có lịch sử hình thành và
phát triển khá phong phú. Chế định thừa kế được qui định trong Bộ luật dân
sự năm 1995 (có hiệu lực từ ngày 01/7/1996) đã hoàn thiện hơn. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu khoa học về thừa kế theo di chúc cũng không
nhiều. Một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, trên các báo mới chỉ
dừng ở mức độ trả lời các câu hỏi về áp dụng pháp luật vào quan hệ thừa kế
cụ thể hoặc mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh như: Về thời điểm mở
thừa kế, thừa kế theo pháp luật, di chúc chung của vợ chồng,
Vấn đề thừa kế nói chung còn được nghiên cứu khái quát ở một số sách
chuyên khảo có tính chất phổ thông, như: "Câu hỏi và giải đáp pháp luật về
thừa kế" của Luật sư Lê Kim Quế; "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế" của Tiến sĩ
Đinh Văn Thanh và Luật sư Trần Hữu Biền, Ngoài ra, trong thời gian qua
đã có một số công trình nghiên cứu ở bậc sau đại học, các luận văn thạc sĩ của
tác giả: Nguyễn Thị Vĩnh, Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật dân sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội; Chế Mỹ Phương Đài,
Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật, Viện
Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật; Phùng Trung Tập, Thừa kế theo pháp luật
của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận án tiến sĩ Luật, Đại học
Luật Hà Nội; Phạm Ánh Tuyết, Thừa kế theo di chúc trong Bộ luật dân sự
Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Hồng Nam, Các
6
điều kiện có hiệu lực của di chúc, Luận văn thạc sĩ Luật, Khoa Luật Đại học
quốc gia Hà Nội.

còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành đã được sử
dụng hợp lý trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, như phương
pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp phân tích, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê để làm sáng tỏ các vấn
đề được đặt ra và giải quyết trong luận văn
3. Kết cấu nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương, 10 mục.
4. Tài liệu tham khảo
Tài liệu nghiên cứu chủ yếu của bản luận văn là Bộ luật Dân sự 2005.
Ngoài ra bản luận văn này còn tham khảo thêm các quy định pháp luật về
thừa kế của các văn bản khác: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp
1980, Hiến pháp 1992, Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự 1995 và
các văn bản pháp luật của một số nước trên thế giới với phương pháp tổng
hợp, so sánh, phân tích để kiến nghị sửa đổi những điểm bất cập nhằm hoàn
thiện hơn các quy định của pháp luật về thừa kế nói chung cũng như các quy
định của pháp luật về thừa kế theo di chúc nói riêng.
8
Chương 1
THỪA KẾ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT THỪA KẾ
Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế
Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công
dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể

với thời hạn là 10 năm (từ năm 2005 đến năm 2015) để trồng cây ăn quả. Đến
năm 2012 thì ông A qua đời. Các con của ông A là C, D, E được thừa kế hoa
lợi phát sinh từ việc trồng cây ăn quả của ông chứ không được thừa kế quyền
sử dụng đất để trồng cây ăn quả đó).
Nhìn nhận một cách tổng quan nhất thì “thừa kế là việc dịch chuyển
tài sản của người đã chết cho người còn sống” [34]. Về mặt ngữ nghĩa thì
thừa kế là thừa hưởng một cách kế tục. Theo phương diện này, Từ điển
Tiếng Việt đã định nghĩa: “Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”
[34]. Về mặt nội dung thì thừa kế là quá trình dịch chuyển di sản từ người
chết cho người còn sống.

Quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống
được hình thành ở bất cứ một xã hội nào và dĩ nhiên, khi chưa có Nhà nước và
pháp luật, thì nó được thực hiện theo tập tục xã hội nên được gọi là thừa kế.
Khi Nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, nhà nước tác động đến quá trình dịch
chuyển tài sản nói trên, trong đó, quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di
sản của các chủ thể được nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp
luật nên từ đó, quá trình dịch chuyển di sản được gọi là quyền thừa kế. Nói
cách khác, khái niệm quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của
nó là xác định phạm vi các quyền, các nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực
thừa kế. Quyền thừa kế chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội đã có giai cấp và
Nhà nước. Bên cạnh nội dung kinh tế, quyền thừa kế còn bao hàm ý chí của
Nhà nước. Nghĩa là, việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn
sống phải hoàn toàn tuân thủ các quy định của pháp luật.
10
Khi chưa xuất hiện Nhà nước, thừa kế được dịch chuyển theo phong
tục, tập quán của các thị tộc, bộ lạc, thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch

của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội trong từng giai đoạn
phát triển nhất định. Khi đó quan hệ thừa kế không những là phạm trù pháp
luật, mà còn được hiểu như là một phạm trù lịch sử.
Như những phân tích ở trên, có thể nói rằng, quan hệ thừa kế là một
phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử
phát triển kinh tế - xã hội nói riêng.
Pháp luật về thừa kế xác định quyền thừa kế là quyền của cá nhân trong
việc để lại di sản và quyền của những người nhận di sản thừa kế để điều chỉnh
mối quan hệ về thừa kế.
Như đã lập luận ở trên thì quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật
phát sinh từ sự kiện chết của một cá nhân (chủ sở hữu tài sản) và khi có người
thừa kế thực hiện quyền thừa kế của họ, khi đó tài sản và quyền sở hữu tài sản
(di sản) của người chết được chuyển giao cho cá nhân hoặc tổ chức, gọi
chung là người thừa kế.
Thừa kế là quan hệ tài sản có tính đặc thù. Tính đặc thù được thể hiện
như sau: trong các quan hệ dân sự khác, khi xác lập giao dịch các bên chủ thể
đều còn sống và ý chí của các bên được thể hiện đồng thời, còn quan hệ thừa
kế di sản chỉ phát sinh khi bên có tài sản chết hoặc được xác định là đã chết.
Vậy, thừa kế được hiểu là "sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người
còn sống".
Quyền thừa kế cần được hiểu theo hai phương diện: khách quan và
chủ quan:
- Quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển dịch tài sản và quyền sở
hữu tài sản (di sản) của người chết cho người còn sống. Đây là phương diện
khách quan.
12

13
xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật thừa kế.
Thông qua đó góp phần phản ánh bản chất cũng những đặc trưng cơ bản của
pháp luật ở nước ta. Vì vậy, từ khi hình thành đến nay, những nguyên tắc
pháp luật thừa kế ở nước ta có sự thay đổi phù hợp với bản chất của nhà nước
ở từng giai đoạn lịch sử.
Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung
cho cả hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật đã xuất
hiện ngay từ khi có những văn bản pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa.
Những nguyên tắc pháp luật thừa kế đã thể hiện rõ bản chất và những
đặc trưng pháp luật về thừa kế ở nước ta. Những nguyên tắc pháp luật về thừa
kế ở Việt Nam có thể kể đến cụ thể như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân:
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được
nhà nước bảo hộ. Quy định này đã được khẳng định tại Điều 58 Hiến pháp
1992 " Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công
dân" [23, Điều 58]. Trên cơ sở đó, Điều 631 Bộ luật dân sự đã xác định rõ nội
dung của quyền này. Trước hết đảm bảo cho “cá nhân có quyền lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình”[6, Điều 631]; có quyền “để lại tài sản của
mình cho người thừa kế theo pháp luật” [6, Điều 631]; có quyền “hưởng di
sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" [6, Điều 631]. Thậm chí là quyền từ
chối nhận di sản thừa kế, được quy định tại khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự
“Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối
nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”
[6, Khoản 1 Điều 642].
Mặt khác, Nhà nước còn bảo hộ quyền thừa kế, thể hiện trong việc đảm
bảo cho “công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, 15
thú, con trai hay con gái, có năng lực và hành vi dân sự hay không có năng
lực hành vi dân sự đều có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ, đều được
hưởng thừa kế bằng nhau nếu di sản thừa kế được chia theo pháp luật.
Tóm lại, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, là một nguyên tắc
cơ bản trong pháp luật thừa kế ở Việt Nam. Nó không những phản ánh chế độ
chính trị nói chung mà điều quan trọng là nhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi
công dân trong lĩnh vực về thừa kế, tạo được sự đoàn kết tốt giữa các thành viên
trong gia đình, góp phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững.
Thứ ba, nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm
mở thừa kế
Pháp luật không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế
mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng quyền di sản. Do vậy, người
có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được nhận di
sản thừa kế theo pháp luật phần ngang nhau nếu họ cùng thuộc hàng thừa kế
được hưởng.
Đối với người đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì chưa có năng lực
pháp luật dân sự. Bởi vì, theo quy định của pháp luật thì năng lực pháp luật
dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết,
pháp luật cũng có quy định bảo vệ quyền thừa kế của người con ra đời sau khi
người cha chết mà người con đó còn sống thì được hưởng di sản của cha. Quy
định tại Điều 685 Bộ luật Dân sự phù hợp và thống nhất với Điều 63 Luật
Hôn nhân và Gia đình: “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ
có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng” [26, Điều 63]. Cũng theo
nguyên tắc trên, tại Điều 685 Bộ luật Dân sự có quy định: “Khi phân chia di
sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì
phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng,
để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra thì được hưởng; nếu chết trước

của pháp luật đối với quyền về thừa kế. Mặt khác nó còn thể hiện một cách
17
đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt
toàn bộ tài sản của mình.
Nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt được ghi nhận khá
đầy đủ trong Bộ luật dân sự. Trước hết đối với cá nhân người để lại tài sản với tư
cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền
lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Pháp luật
không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe doạ người lập di
chúc. Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyền định đoạt thông qua hình thức
di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làm chứng cho việc lập di
chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập di chúc.
Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền:
“chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định
phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để
di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc;
người quản lý di sản, người phân chia di sản” [ 6, Điều 648].
Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu cần có sự thay đổi "ý
nguyện" cũng như nội dung, người lập di chúc còn có quyền “sửa đổi, bổ sung,
thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào" [6, Khoản 1 Điều 662].
Quyền định đoạt của cá nhân để lại di sản được thể hiện không những
trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà còn thể hiện ngay trong
việc họ không lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi họ chết. Đây
cũng là một cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để
định đoạt tài sản của họ, mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để lại di sản của họ
cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật.
Quyền từ chối nhận di sản thừa kế được pháp luật cho phép nếu phù

"1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc
từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với
người khác.
19
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối
phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phải chia
di sản, công chứng nhà nước, UBND xã, phường nơi có địa điểm mở thừa kế
về việc từ chối nhận di sản.
3. Thời điểm từ chối nhận di sản là 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế
đồng ý nhận thừa kế" [6, Điều 642].
Nội dung các nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của người để lại
di sản và người hưởng di sản ngày càng được bảo đảm, mở rộng cùng với sự
phát triển kinh tế - xã hội và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
Thứ năm, nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản
do người chết để lại
Người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản. Theo quy
định trên, việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thuộc về
người hưởng di sản. Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại mà người hưởng
di sản thực hiện được hiểu là người thừa kế quyền tài sản đồng thời phải thực
hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi kế quyền đó.
Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại không phải là di sản thừa kế.
Di sản thừa kế chỉ là những tài sản do người chết để lại được đem chia thừa
kế. Sự thanh toán về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại chính là xác định
di sản để chia thừa kế hoặc không còn di sản để chia. Di sản thừa kế là
những tài sản của người chết để lại được chia cho những người có quyền
hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên những quyền tài sản và

sản của người chết đó.
Theo quy định tại Điều 293 Bộ luật dân sự 2005: “Thực hiện nghĩa vụ
dân sự thông qua người thứ ba.
Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể uỷ quyền cho
người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng vẫn phải chịu trách
21
nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ dân sự.” [6, Điều 293]
Và Ðiều 361 Bộ luật dân sự: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây
gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được
bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên
bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình.” [6, Điều 361]
Người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để
lại nếu người đó chối từ quyền hưởng di sản theo đúng quy định của pháp luật.
1.3. Khái niệm về di chúc và đặc điểm của di chúc
1.3.1. Khái niệm về di chúc
Theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự: "Di chúc là sự thể hiện ý
chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết"
[6, Điều 646]. Di chúc chính là phương tiện để phản ánh ý chí của người có
tài sản trong việc định đoạt tài sản của họ cho người khác hưởng sau khi
người lập di chúc chết. Một người có thể có nhiều bản di chúc định đoạt một
loại tài sản và những di chúc này đều thể hiện ý chí tự nguyện của họ, phù
hợp với những quy định của pháp luật nhưng không phải tất cả các di chúc
trên đều phát sinh hiệu lực mà di chúc có hiệu lực pháp luật là di chúc thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status