ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG ĐẠI TÌNH
NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU LỰC
CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Thu Hà
HÀ NỘI - 2013
3. Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đề tài 4
4. Tính mới và những đóng góp của luận văn 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7. Kết cấu của luận văn 5
NỘI DUNG 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO
ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 7
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của
bản án, quyết định của Tòa án 7
1.1.1. Khái niệm Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
của Tòa án 7
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
của Tòa án 11
1.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong thi
hành án dân sự 14
1.2.1. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi
hành án dân sự 14 1.2.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án
dân sự 15
1.2.3. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong thi hành án dân sự 18
1.2.4. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 58
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên
tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 69
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 70
3.2.2. Các giải pháp về thực hiện pháp luật 75
3.2.3. Giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 78
3.2.4. Giải pháp về tăng cường ý thức pháp luật và sự tuân thủ pháp
luật trong nhân dân 79
Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
BẢNG VIẾT TẮT
HCM
Hồ Chí Minh
TAND
Toà án nhân dân
TANDTC
Toà án nhân dân tối cao
THA
Thi hành án
TP
Thành phố
UBND
Ủy ban nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Thực tiễn thi hành các bản án, quyết định dân sự thời gian qua cho thấy
có nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi thi
hành án lại gặp những khó khăn, vướng mắc, vẫn còn tình trạng các bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được nghiêm 2
chỉnh thi hành, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ
pháp luật. Tồn tại lớn nhất là tình trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng
lớn ngày càng tăng, song chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Đây là
vấn đề rất bức xúc đặt ra trong công tác thi hành các bản án, quyết định dân
sự hiện nay. Thực trạng này, một phần xuất phát từ ý thức tuân thủ pháp luật
của một số bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổ chức và cá
nhân, đặc biệt là các đối tượng thuộc diện phải thi hành án còn chưa cao; chưa
có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như
cơ quan hữu quan trong quá trình thi hành án; cơ sở pháp lý về tổ chức và
hoạt động thi hành án dân sự chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn bản
pháp lý về thi hành án dân sự còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, chậm được bổ
sung, sửa đổi kịp thời; cơ chế quản lý và việc tổ chức thực hiện pháp luật thi
hành án hiện nay có mặt còn chưa hợp lý gây cản trở và làm giảm hiệu quả
công tác thi hành án nói chung và thi hành bản án, quyết định dân sự nói
riêng. Vì vậy, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, đặc biệt
trong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân là điều hết sức quan trọng. Hiến pháp 1992
khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực
pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn
vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành" [28].
Vậy, làm sao để mọi quyết định, bản án của Tòa án đều được thực hiện
một cách nghiêm túc, kịp thời, đúng pháp luật. Thực hiện đúng nguyên tắc
thi hành án", mã số: 96-98-027/ĐT; Bộ Tư pháp chủ trì đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Nhà nước "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt
động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới"… Ngoài ra giáo trình
“Luật tố tụng dân sự” của trường Đại học luật Hà Nội, công trình nghiên cứu 4
“Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam” của
Tiến sĩ Lê Thu Hà; Giáo trình “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam” của Trường
Đại học Luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật và nhiều
bài viết liên quan đến thi hành án dân sự được đăng trên Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, Bản tin Thi hành
án dân sự… ở những góc độ, khía cạnh khác nhau các tác giả đã đề cập đến
những vấn đề liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo hiệu lực của
bản án, quyết định của Tòa án theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
3. Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra các luận cứ
khoa học và thực tiễn từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt nguyên
tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Để đạt được mục
tiêu lớn đó cần phải thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản
án, quyết định của Tòa án như khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc và mối quan
hệ của nguyên tắc này với các nguyên tắc của Luật Thi hành án dân sự.
- Làm rõ những nội dung các quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo
đảm hiệu lực bản án, quyết định của Toà án và thực tiễn thực hiện.
- Tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
4. Tính mới và những đóng góp của luận văn
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học như phân tích, so sánh, tổng hợp v.v
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương: 6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của
bản án, quyết định của Tòa án.
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án và kiến nghị. 7
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
đó”; Điều 10 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế “Bản án, quyết
định về vụ án kinh tế của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi người tôn trọng; cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản
án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Điều 9 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động “Bản án, quyết định về vụ án lao
động của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi công dân tôn trọng; người lao động, tập thể lao động, người sử
dụng lao động và các cơ quan, tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản án,
quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Hiện nay nguyên tắc
này được quy định tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992 “Các bản án và quyết
định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan
Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành” và tại Điều 19 Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định những đề cơ bản
của nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý cho việc thi hành các bản án, quyết định của
Tòa án “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi
hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng. Cá nhân, cơ
quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án phải
nghiêm chỉnh chấp hành. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà
án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án,
quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”. 9
Việc thi hành nghiêm chỉnh và triệt để các bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật của Tòa án là một tất yếu khách quan trong hoạt động tư pháp
của bất kì Nhà nước nào. Bản án, quyết định của Tòa án là sự phán xét nhân
hành án, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự v.v.
thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lí theo quy định của pháp luật.
Hình thức xử lí có thể là kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự.
Nguyên tắc “Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án”
yêu cầu: Nội dung của các bản án, quyết định phải được thi hành một cách
nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời. Khi phát hiện thấy những sai sót hoặc chưa rõ
ràng trong bản án, quyết định của Tòa án, những chủ thể tham gia hoạt động
thi hành án chỉ có quyền khiếu nại, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét,
quyết định. Mặt khác, khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được
đưa ra thi hành thì cơ quan Tòa án, Thi hành án hoặc bất cứ một cơ quan nào
khác cũng đều phải tôn trọng và chấp hành nghiêm túc các nội dung Tòa án
tuyên, không có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung của vụ án, quyết định đó.
Tòa án nơi đã đưa ra bản án, quyết định được đưa ra thi hành chỉ có quyền
giải thích những điều mà cơ quan thi hành án và Chấp hành viên yêu cầu,
không được sửa đổi, bổ sung những nội dung đã tuyên, nếu có sai sót thì phải
được xét xử lại theo trình tự khác do pháp luật quy định. Khi bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành thì tất cả các
đương sự, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành không cho phép bất kì một sự cản trở, chống đối, can thiệp
trái pháp luật nào đối với việc thi hành các bản án, quyết định đó nếu không
sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Việc đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án
được đưa ra thi hành là đảm bảo sự tôn trọng pháp luật, hiệu lực của Nhà 11
nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Từ những phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm: Nguyên tắc bảo đảm
hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó. Việc thực hiện
tốt những nội dung trên đây sẽ bảo đảm cho quyền, lợi ích chính đáng của
Nhà nước và công dân được thi hành trên thực tế. Vì vậy việc thực hiện tốt
nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân.
Thứ hai, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị
xã hội, yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa là: Triệt để tôn trọng
hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp; pháp luật được nhận thức và thực
hiện thống nhất trên phạm vi cả nước; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều tôn trọng và
thực hiện pháp luật một cách tự giác, đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất; mọi
hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy định
của pháp luật; các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được bảo vệ.
Việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án
sẽ đưa những phán quyết của Tòa án - thể hiện ý chí của Nhà nước được trở
thành hiện thực, tính nghiêm minh của pháp luật được bảo đảm, công lý xã
hội được thực thi, kỷ cương xã hội được giữ vững, quyền và lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, tổ chức và công dân được bảo vệ và như vậy pháp chế xã hội
chủ nghĩa được thực hiện.
Thứ ba, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an 13
toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hội
nhập quốc tế
Khi nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án không
quy định của pháp luật đã đó có tác dụng lớn trong việc giáo dục, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của mọi cơ quan, tổ chức và công dân.
1.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong thi hành án dân sự
1.2.1. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự
Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được Nhà nước bảo hộ. Việc
xét xử và thi hành án cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ
thể. Vì vậy, việc thi hành án dân sự không những phải bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của các đương sự mà phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp của
những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự, không
được xâm phạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Nguyên tắc
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và người liên quan trước
đây được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 “Người
có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào việc
thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Điều 8 Pháp lệnh
thi hành án dân sự năm 1993 “Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến
việc thi hành án được tham gia vào việc thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình” và Điều 9 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
“Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào
việc thi hành án và có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp
luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Hiện nay, nguyên tắc này
được quy định tại điều 5 Luật thi hành án dân sự “Trong quá trình thi hành 15
án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”.
Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự trước đây
được quy định tại Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Hiện nay,
nguyên tắc này được quy định tại Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 7
Luật Thi hành án dân sự.
Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương
sự xác định:
- Người được thi hành án, người phải thi hành án được căn cứ vào bản
án, quyết định dân sự có quyền yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án
hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án.
- Để bảo đảm yêu cầu thi hành án của các đương sự Toà án, cơ quan
và tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải cấp cho các đương sự
bản án, quyết định trong thời hạn pháp luật quy định. Khi cấp cho đương sự
bản án, quyết định các cơ quan, tổ chức này phải giải thích cho các đương sự
quyền yêu cầu thi hành án dân sự của họ và thời hiệu yêu cầu thi hành án
dân sự. Trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án có
đơn hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu thi hành án thì cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phải tiếp nhận xem xét. Nếu việc yêu
cầu thi hành án của đương sự đúng pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự
phải thụ lí, ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án dân sự theo quy
định của pháp luật.
Bản án, quyết định thuộc diện được đưa ra thi hành có nhiều nội dung
khác nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự (cá nhân, pháp nhân) đối
với nhau, đối với người khác hoặc đối với Nhà nước, và cách thức xử lý đối
với các tài sản, vật chứng có liên quan đến từng vụ việc cụ thể như tịch thu, 17
tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc chủ sở hữu hợp pháp…Trong số những
nội dung của bản án, quyết định thuộc diện trên, Luật Thi hành án dân sự
phân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự
dành quyền quyết định cho người được thi hành án thể hiện ý chí của mình
bằng việc yêu cầu thi hành án. Việc thực hiện đúng nguyên tắc bảo đảm yêu
cầu thi hành án dân sự sẽ đảm bảo cho hiệu lực bản án, quyết định của Tòa
án được thực thi trên thực tế.
1.2.3. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong thi hành án dân sự
Kết quả thi hành án dân sự phụ thuộc rất lớn vào việc cơ quan thi hành
án dân sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân
sự có thực hiện đúng, đầy đủ các quyền hạn và nhiệm vụ của họ hay không.
Vì vậy, việc đề cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, các cá nhân,
cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự là cần thiết. Từ đó,
vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự được quy
định là nguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự. Điều 10 Luật Thi hành
án dân sự quy định “Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật
này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
Nội dung của nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi
hành án dân sự yêu cầu:
Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên, các đương sự và các cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác liên quan đến việc thi hành án dân sự phải đề cao
trách nhiệm trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định
của pháp luật về thi hành án dân sự, không được thực hiện các hành vi trái với
quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án 19
dân sự thì phải chịu trách nhiệm về hành vi đó. Trong trường hợp cơ quan, tổ
chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án dân sự gây thiệt hại
thì phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.