ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHAMPHAT VONG VICHIT
XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN LY HÔN
QUA THỰC TIỄN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Những đóng góp mới của luận văn 6
7. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN
LY HÔN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn 7
1.1.1. Khái niệm xét xử sơ thẩm án ly hôn của Tòa án nhân dân 7
1.2. Các giai đoạn của xét xử sơ thẩm án ly hôn 13
1.2.1. Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn 13
1.2.2. Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn 19
1.2.3. Phiên tòa sơ thẩm vụ án ly hôn 28
1.3. Pháp luật của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về xét xử sơ
thẩm vụ án ly hôn 33
Kết luâ
̣
n Chương 2 78
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN LY HÔN QUA THƢ
̣
C
TIÊ
̃
N TỈNH THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY 79
3.1. Đảm bảo hiệu quả trong xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn là yêu
cầu cấp bách hiện nay 79
3.1.1. Xuất phát từ yêu cầu của cải cách tư pháp ở Viê
̣
t Nam hiện nay 79
3.1.2. Xuất phát từ đòi hỏi khắc phục những hạn chế bất cập xét xử sơ
thẩm các vụ án ly hôn qua thư
̣
c tiê
̃
n tỉnh Thừa Thiên Huế 81
3.1.3. Xuất phát từ hội nhập quốc tế 82
3.1.4. Xuất phát từ đặc thù của các vụ án ly hôn 82
3.2. Những giải pháp bảo đảm hiệu quả xét xử sơ thẩm các vụ án ly
hôn qua thư
̣
c tiê
̃
n tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay 83 3.2.1. Giải pháp chung 83
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ có những chuyển biến quan trọng trong
xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực. Một trong những nhiệm vụ
quan trọng mà Đảng Việt Nam đề ra là hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng
tính cụ thể và khả năng ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống trong việc ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước góp phần vào sự phát triển bền
vững của đất nước trong thời kì đổi mới. Hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa
có tính khẩn trương để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước nhưng vẫn
đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của hệ thống pháp luật.
Ngày nay, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, HN&GĐ diễn ra
hết sức phức tạp. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra
phương hướng xây dựng được một nền pháp chế công bằng, dân chủ, nghiêm
minh, phục vụ nhân dân. Đặc biệt nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002
của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới” đã đề cập một cách toàn diện về nhiệm vụ cải cách tư pháp, đề ra
những định hướng, quan điểm chỉ đạo và biện pháp cụ thể đối với công tác tư
pháp, thể hiện sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với nhiệm vụ
cải cách tư pháp. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
“Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” với tư cách là một văn kiện
chính trị quan trọng đặt cơ sở cho hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý
luận và soạn thảo, xây dựng các văn bản pháp luật đối với tổ chức quyền tư
pháp ở Nhà nước Việt Nam. Cùng với đó, chế định pháp luật dân sự và pháp
luật tố tụng dân sự ngày càng được hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển
2
là một tất yếu khách quan đáp ứng yêu cầu mà thực tiễn đặt ra.
Ly hôn là một vấn đề xã hội được quan tâm ở hầu hết các quốc gia trên
giảm lòng tin của các đương sự, cũng như các chủ thể khác vào các phán
quyết của Toà án. Chính từ những nguyên nhân và thực trạng nêu trên, trong
những năm qua TANDTC đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn hoặc tổng
kết kinh nghiệm về công tác xét xử nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong
xét xử các vụ án ly hôn. Tuy nhiên, những việc làm trên chưa mang lại hiệu
quả cao do thiếu tính toàn diện và không triệt để. Việc nghiên cứu tìm những
giải pháp để áp dụng thống nhất các bộ luật và tiếp tục hoàn thiện các quy
định của pháp luật liên quan để nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm các vụ án ly
hôn là rất cần thiết.
Do đó chúng tôi đã chọn đề tài: “Xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn qua
thực tin tỉnh Thừa Thiên Huế” với mong muốn tìm ra được những tiêu chí có
cơ sở khoa học riêng là rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong giai
đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật
trong xét xử các vụ án ly hôn đã được giới khoa học pháp lý và đặc biệt là những
người làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm. Nhiều công trình nghiên
cứu vấn đề trên đây nhưng ở nhiều mức độ và khía cạnh khác nhau.
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Chu Đức Thắng năm 2004; Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Thực tin xét xử các vụ án hình sự, dân sự và
HN&GĐ ở Thừa Thiên Huế từ năm 2002 đến năm 2006 và những giải pháp
nâng cao hiệu quả" của tác giả Đoàn Đức Lương năm 2006; "Áp dụng pháp
4
luật trong giải quyết án HN&GĐ của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên",
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Hoàng Văn Hạnh năm 2006; "Áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án về phân chia di sản thừa kế theo
pháp luật của Tòa án nhân dân Tối cao ở Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc
sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Hà năm 2009; và nhiều công trình nghiên
cứu có liên quan khác.
Để đạt được mục đích trên luận văn đặt ra các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn của
TAND, có so sanh đối chiếu với pháp luật Lào
Phân tích thực trạng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn qua thư
̣
c tiê
̃
n
tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua, đồng thời làm rõ các nguyên
nhân tồn tại.
Đề xuất những phương hướng, giải pháp đảm việc xét xử sơ thẩm các
vụ án ly hôn qua thư
̣
c tiê
̃
n tỉnh Thừa Thiên Huế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân
cấp huyện và Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi là một luận văn thạc sỹ Luật học thuộc chuyên ngành Luật
dân sự, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn xét
xử sơ thẩm các vụ án ly hôn theo pháp luật Việt Nam của TAND ở tỉnh Thừa
Thiên Huế.
Thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2011
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận triết học duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
c tiê
̃
n tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay.
- Lý giải các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến việc xét xử sơ thẩm án
ly hôn qua thư
̣
c tiê
̃
n tỉnh Thừa Thiên Huế, đề xuất được những giải pháp đảm
bảo xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm mở đầu, nội dung (gồm 3 chương), kết luận
của từng chương và kết luận chung, danh mục và tài liệu tham khảo. 7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN LY HÔN
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn
1.1.1. Khái niệm xét xử sơ thẩm án ly hôn của Tòa án nhân dân
1.1.2.1. Khái niệm ly hôn và vụ án ly hôn
Nếu kết hôn là cơ sở hình thành gia đình, trong quan hệ hôn nhân khi
Nhà nước tôn trọng quyền tự do kết hôn thì tất yếu có tự do ly hôn khi có
những điều kiện như: quan hệ vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, một bên vợ
(chồng) biệt tích lâu ngày, nhưng Nhà nước không khuyến khích ly hôn, nên
ngay cả khi quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, Nhà nước vẫn
khuyến khích các bên hòa giải đoàn tụ, chỉ trong trường hợp không thể cứu
vãn được thì cơ quan chức năng mới giải quyết ly hôn.
- Chủ thể có sự xung đột, mâu thuẫn phải là vợ chồng, nghĩa là giữa họ
tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp và về nguyên tắc được xác lập trên cơ sở
mối quan hệ đặc biệt là tình yêu nam và nữ. Vì vậy, sự mâu thuẫn giữa vợ và
chồng trước hết do yếu tố tình cảm không còn, các quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng không được thực hiện và có sự tranh chấp tài sản, nuôi con.
- Các vụ án ly hôn được Tòa án thụ lý, giải quyết theo đơn khởi kiện
của vợ hay chồng hoặc cả vợ và chồng. Ngoài vợ, chồng không chủ thể nào
khác được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Thẩm quyền giải quyết tranh
chấp là Toà án có thẩm quyền nhân danh quyền lực Nhà nước theo trình tự,
thủ tục tố tụng tư pháp. Khi xét xử, vợ chồng có những mâu thuẫn, bất đồng
9
về quan hệ nhân thân, tài sản hay việc nuôi con mà không tự giải quyết được.
Do đó, xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn hoàn toàn khác với giải quyết các yêu cầu
về ly hôn hay hòa giải với nhau tại cơ sở.
Từ các nhận xét nêu trên, theo chúng tôi, vụ án ly hôn là việc vợ chồng
khởi kiện yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, chia
tài sản chung và giải quyết nuôi con.
1.1.2.2. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn
Khi bàn về khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn trước hết có thể nhìn
nhận ở góc độ chung là do Tòa án thực hiện. Đây là một trong những chức
năng không thể thiếu được của Nhà nước. Ở mỗi quốc gia, hệ thống Tòa án
được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, nội dung của
những nguyên tắc này được quy định tuỳ thuộc vào đặc điểm điều kiện lịch sử
của từng nước mà trước hết phụ thuộc vào bản chất của Nhà nước. Ở nước
Việt Nam, Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng này nhân danh nhà nước
xem xét yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật khi có tranh
chấp. Do đó, xét xử các vụ án ly hôn nghĩa là Tòa án “xét và xử” nên hoàn
toàn khác với việc giải quyết các yêu cầu về ly hôn (các bên cùng yêu cầu
chấm dứt hôn nhân, thỏa thuận được về tài sản và nuôi con). Nếu Tòa án thấy
sang và được Tòa án quyết định thụ lý như đối với vụ án hình sự. Thời điểm
kết thúc giai đoạn sơ thẩm được xác định từ thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm
ban hành các phán quyết bao gồm: Các quyết định (ví dụ như quyết định công
nhận thuận tình ly hôn, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án) hoặc khi Tòa án
ban hành bản án sơ thẩm về giải quyết vụ án. Đối với quyết định công nhận
thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, song đối với bản án hay quyết
11
định đình chỉ giải quyết vụ án còn có các ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất
cho rằng giai đoạn sơ thẩm kết thúc khi Tòa án ban hành các bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật; trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo hoặc kháng nghị thì thời điểm Tòa án có thẩm quyền chấp nhận kháng
cáo hoặc kháng nghị. Ý kiến thứ hai cho rằng giai đoạn giải quyết sơ thẩm vụ
án ly hôn kết thúc ngay sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được ban hành
(bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm). Chúng tôi cho rằng, ý kiến thứ hai là có
căn cứ, bởi vì kết quả cuối cùng của giai đoạn sơ thẩm là ban hành bản án hay
quyết định nên sau đó dù các đương sự hay VKS có đồng ý hay phản đối cũng
không còn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Tòa án cấp
sơ thẩm chỉ làm thủ tục để chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp trên xem xét,
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Với tính chất là các hoạt động tố tụng, xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn
được cấu thành bởi các hoạt động tố tụng như: khởi kiện và thụ lý vụ án ly
hôn, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn (trong đó gồm nhiều hoạt động tố
tụng khác nhau như cung cấp chứng cứ của đương sự dưới các hình thức khác
nhau, hoạt động thu thập đánh giá chứng cứ của Tòa án, hòa giải vụ án ly
hôn, ) và các hoạt động tố tụng tại phiên toà sơ thẩm.
- Với tính chất là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự, xét xử sơ
thẩm vụ án ly hôn bao gồm áp dụng pháp luật để xác định nhiều vấn đề như:
thẩm quyền giải quyết của Tòa án; các cơ quan tiến hành tố tụng, đương sự,
các chủ thể khác tham gia tố tụng và địa vị pháp lý của các chủ thể trong giai
sản) nên việc áp dụng pháp luật phải mềm dẻo, linh hoạt vừa đảm bảo đúng
pháp luật vừa đảm bảo lợi ích của các thành viên trong gia đình.
13
Quá trình xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ
lý vụ án và kết thúc khi Tòa án ban hành bản án ly hôn sơ thẩm hay một trong
các quyết định công nhận thuận tình ly hôn, quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án ly hôn,
1.2. Các giai đoạn của xét xử sơ thẩm án ly hôn
Khi xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn, với ý nghĩa là một giai đoạn tố tụng
dân sự, các giai đoạn áp dụng pháp luật đó được thể hiện trong trong giai
đoạn cụ thể như sau:
1.2.1. Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn
Khởi kiện vụ án ly hôn là việc vợ, chồng yêu cầu Tòa án có thẩm quyền
xem xét chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, chia tài sản chung và
giải quyết nuôi con. Quyền khởi kiện vụ án ly hôn là quyền tố tụng đầu tiên
của chủ thể tham gia tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn trong vụ kiện.
Quyền khởi kiện vụ án ly hôn là quyền của công dân được quy định
trong Hiến pháp. Bộ luật dân sự 2005 quy định quyền khởi kiện vụ án ly hôn
của vợ, chồng.
Chỉ có vợ và chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn, ngoài ra không chủ
thể nào khác được thực hiện quyền này, bởi lẽ yêu cầu Tòa án chấm dứt hôn
nhân xuất phát từ đời sống tình cảm của vợ chồng, chính bản thân họ mới
nhận thức và đánh giá được những mâu thuẫn trong đời sống gia đình nên yêu
cầu Tòa án làm các thủ tục để công nhận “một cuộc hôn nhân đã chết”. Tuy
nhiên, đối với những trường hợp đặc biệt quyền yêu cầu ly hôn bị hạn chế.
Khi người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới mười hai tháng tuổi (kể cả
con bị chết) thì người chồng không được yêu cầu ly hôn (theo khoản 2 Điều
86 Luật HN&GĐ 2000). Quy định này không vi phạm quyền khởi kiện do
pháp luật quy định mà xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và
hoặc chồng không còn đủ tư cách đại diện mà chưa quy định quyền yêu cầu ly
hôn khi chính vợ hoặc chồng không có khả năng thực hiện quyền này, trong
khi cuộc sống vợ chồng mà một bên bị đối xử, ngược đãi, bị bỏ rơi. Trước
đây, việc thực hiện quyền này do VKS tiến hành nhưng hiện nay theo quy
định của BLTTDS thì VKS không còn vai trò khởi tố các vụ án dân sự nữa.
Trường hợp người chồng nộp đơn ly hôn, Tòa án xem xét thụ lý thì
người vợ chưa có thai, khi chuẩn bị thụ lý vụ án thì người vợ xuất trình chứng
cứ là đã mang thai thì Tòa án vẫn thụ lý vụ án hay tạm đình chỉ giải quyết vụ
án. Theo ý kiến thứ nhất, Tòa án vẫn thụ lý và xét xử vụ án ly hôn vì vào thời
điểm nộp đơn kiện người vợ chưa có thai nên không bị hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn. Theo ý kiến thứ hai, Tòa án không thụ lý vụ án kể cả trường hợp đã
thụ lý mà người vợ phản đối yêu cầu ly hôn thì vẫn tạm đình chỉ cho đến khi
điều kiện hạn chế không còn mới tiếp tục thụ lý hoặc giải quyết. Khi xem xét
phải căn cứ vào bản chất của sự việc là bảo vệ quyền và lợi ích của người mẹ
và trẻ em, người chồng phải có trách nhiệm với người vợ và đứa con của họ
trong một thời gian để ổn định về vật chất, tinh thần.
Khi yêu cầu ly hôn, vợ chồng có thể đến trực tiếp Tòa án yêu cầu hay
không? Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và Lào quy định yêu cầu vợ chồng
phải có đơn khởi kiện. Trong khi đó, pháp luật tố tụng dân sự của một số
nước (Pháp, Trung Quốc) quy định: Các đương sự có thể trình bày yêu cầu
của mình trong một đơn kiện chung; họ cũng có thể tự nguyện đến trình diện
trước tòa để yêu cầu xét xử. Tòa án thụ lý trên cơ sở đơn kiện hoặc căn cứ vào
biên bản xác nhận là các đương sự đã tự nguyện đến trình diện để xin xét xử
tranh chấp của họ [5, tr.28]. Ở Việt Nam, nếu cho phép thực hiện quyền khởi
kiện theo phương thức này thì sẽ hết sức nhanh chóng và thuận lợi vì Toà án
có thể yêu cầu người khởi kiện bổ sung ngay các yêu cầu cần thiết cho việc
16
giải quyết vụ án thay vì thủ tục như lập văn bản đề nghị bổ sung yêu cầu,
người khởi kiện có văn bản bổ sung yêu cầu và yêu cầu người khởi kiện cung
đó thì đình chỉ giải quyết việc dân sự, sau đó hướng dẫn đương sự khởi kiện
vụ án ly hôn có tranh chấp.
Khi thụ lý vụ án ly hôn, đối với trường hợp nam nữ sống chung như vợ
chồng sau ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà không có đăng ký kết hôn có yêu
cầu ly hôn vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng
TAND phải thụ lý vụ án ly hôn vì khi Luật HN&GĐ và Nghị quyết số 35/
NQ-QH hướng dẫn thi hành luật thì pháp luật tố tụng lúc đó chưa có sự phân
biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự. Chia sẻ ý kiến này có tác giả cho rằng:
"để tránh xung đột giữa BLTTDS và Nghị quyết 35/NQ-QH, đồng thời để
phù hợp với thực tế, thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền cần căn cứ vào Điều
311 BLTTDS để hướng dẫn: đối với vụ việc không công nhận là vợ chồng
nếu không có tranh chấp thì cần thụ lý giải quyết là một việc dân sự" [33,
tr.36]. Theo loại ý kiến thứ hai, TAND thụ lý yêu cầu ly hôn là hoàn toàn phù
hợp, bởi lẽ Luật HN&GĐ 2000 tại Điều 89 quy định: "Toà án thụ lý đơn yêu
cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trong trường hợp
không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố
không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của
Luật này". Đồng thời, khoản 2 Điều 28 của BLTTDS chỉ quy định những yêu
cầu về thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà không có quy
định về yêu cầu không công nhận vợ chồng. Hiện nay, trong các Nghị quyết
số 01/2005/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2006/ NQ-HĐTP của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC vẫn chưa hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên việc
nhận thức và áp dụng pháp luật còn thiếu thống nhất.
18
Khi xem xét đủ các điều kiện, Tòa án thông báo cho đương sự nộp tạm
ứng án phí và quyết định thụ lý vụ án. Thụ lý vụ án ly hôn là công việc đầu
tiên của Tòa án, là bước mở đầu của quá trình tố tụng. Nếu không có việc thụ
lý của Tòa án có thẩm quyền sẽ không có sự xác định trách nhiệm của Tòa án
và không có hàng loạt các hoạt động tố tụng tiếp theo. Thời điểm thụ lý vụ án
Nếu tiếp cận chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn là hoạt động của Tòa án
bao gồm toàn bộ những hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm xác
minh, thu thập chứng cứ (trong các trường hợp pháp luật quy định), bước đầu
đánh giá các chứng cứ và ra các phán quyết cần thiết để giải quyết vụ án.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn thể hiện các hoạt động
tố tụng sau đây:
- Xác định đầy đủ quan hệ pháp luật giữa các đương sự:
Trong vụ án ly hôn, có rất nhiều những tình tiết khác nhau nhưng Toà
án phải xác định đầy đủ và chính xác các quan hệ pháp luật phát sinh để làm
cơ sở cho hoạt động thu thập chứng cứ, bước đầu đánh giá chứng cứ và lựa
chọn quy phạm pháp luật áp dụng. Trong vụ án ly hôn, thông thường Toà án
xem xét ba quan hệ chủ yếu là quan hệ nhân thân (làm tiền đề cho xem xét
quan hệ khác), chia tài sản chung và giải quyết việc nuôi con chung. Trong
từng mối quan hệ cơ bản này Toà án phải xem xét thấu đáo các vấn đề (ví dụ
như chia tài sản chung phải xác định tài sản chung, tài sản riêng, các khoản nợ
chung hoặc nợ riêng, ). Khi xác định, Toà án làm sáng tỏ đâu là quan hệ
chính cần tập trung giải quyết, đâu là quan hệ có ý nghĩa bổ sung cho quan hệ
chính để tránh tình trạng xác định tràn lan, không tập trung làm cho việc lập
hồ sơ tản mạn, dẫn tới áp dụng pháp luật giải quyết thiếu chính xác.