Thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ

MÃ SỐ: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: P GS. TS HÀ THỊ MAI HIÊN

HÀ NỘI - NĂM 2006


12
1.1.1 Khái niệm thừa kế
12
1.1.2 Khái niệm và những đặc điểm của QSDĐ
14
1.1.3 Khái niệm thừa kế QSDĐ
18
1.2 Những đặc điểm của thừa kế QSDĐ
20
1.2.1 Những đặc điểm chung của thừa kế QSDĐ
20
1.2.2 Những đặc thù riêng của thừa kế QSDĐ
25
1.3 Vai trò, ý nghĩa của thừa kế QSDĐ trong giai đoạn hiện nay
29
1.4 Thừa kế QSDĐ ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển.
30
1.4.1 Thừa kế đất đai giai đoạn từ 1980 trở về trước
30
1.4.2 Thừa kế đất đai sau năm 1980

36
Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành
40
VỀ THỪA KẾ QSDĐ

2.1 Điều kiện để QSDĐ được coi là di sản thừa kế
40
2.1.1 Có giấy chứng nhận QSDĐ
41

QSDĐ ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay 74 3.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thừa kế QSDĐ và một
số vấn đề đặt ra
74
3.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế QSDĐ
74
3.1.2 Một số vấn đề đặt ra
81
3.2 Phương hướng hoàn thiện và một số giải pháp nâng cao hiệu
quả của các quy định thừa kế QSDĐ

100
KẾT LUẬN
104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
5

6 MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế và để lại thừa kế là một quyền cơ bản của các chủ thể trong
quan hệ pháp luật dân sự. Đây là quyền thể hiện rất rõ tính chất tự do ý chí, tự
do định đoạt của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự về tài sản nói
chung, quan hệ thừa kế nói riêng.
Tài sản có thể tồn tại lâu hơn cuộc sống của một con người, chính vì thế
giải quyết vấn đề tài sản này ra sao khi người có tài sản đó qua đời là vấn đề
rất quan trọng để bảo đảm cho việc định đoạt tài sản đó phù hợp với ý chí của
người để lại di sản những cũng bảo đảm lợi ích hợp pháp của những người
liên quan khác cũng như lợi ích chung của toàn xã hội. Đặc biệt trong trường
hợp di sản là QSDĐ thì vấn đề thừa kế QSDĐ còn phải tuân thủ theo các
chính sách đất đai của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, các tranh chấp về thừa
kế QSDĐ diễn ra ngày càng nhiều với tính chất phức tạp, diễn biến kéo dài
chính vì thế thừa kế QSDĐ là một vấn đề thời sự liên quan đến từng cá nhân,

QSDĐ ). Tuy nhiên, vấn đề thừa kế QSDĐ là một vấn đề chỉ mới được đề
cập trong Luật Đất Đai 1993 vì thế các luận văn và bài viết về vấn đề này
không nhiều.
Năm 2000, tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Đại Học Quốc Gia Hà Nội với
đề tài “Thừa kế quyền sử dụng đất” đã nghiên cứu chế định pháp lý về QSDĐ
trong pháp luật nước ta từ thời kỳ Phong kiến đến năm 1999, trong đó tập
trung nghiên cứu về pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất theo Bộ Luật Dân
Sự 1995; Luật đất đai 1993; Luật Sửa đổi bổ sung Luật Đất Đai 1998 và các
văn bản liên quan. Luận văn cũng đề cập đến tình hình giải quyết các tranh 8
chấp về thừa kế quyền sử dụng đất trong những năm 1995 - 1999, những
vướng mắc và biện pháp khắc phục.
Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay các quy định về thừa kế QSDĐ đã có
những thay đổi lớn qua việc nhà nước ban hành một loạt các văn bản pháp
luật mới: Luật sửa đổi bổ sung Luật Đất Đai (Có hiệu lực thi hành
01/10/2001); Luật đất đai 2003; Bộ Luật Dân sự 2005; Luật Nhà ở (Có hiệu
lực thi hành 01/7/2006) và các văn bản liên quan khác.
Một số bài viết trong các báo, tạp chí năm 2003 và năm 2004 của tác giả,
tiến sĩ Phùng Trung Tập đề cập đến vấn đề thừa kế nói chung và một số bài
viết của tiến sĩ Nguyễn Quang Tuyến (Trường đại Học Luật Hà Nội) về vấn
đề đất đai và thừa kế QSDĐ. Tuy nhiên các bài viết đó chỉ dừng lại trong
phạm vi một bài báo, tạp chí.
So với các quy định về thừa kế QSDĐ trong Luật đất Đai 1993 và BLDS
1995 thì các quy định về thừa kế QSDĐ theo pháp luật hiện hành được quy
định theo hướng mở rộng quyền tự định đoạt cho các chủ thể trong quan hệ
pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế QSDĐ nói riêng; Tạo sự bình đẳng
trong quan hệ thừa kế giữa cá nhân trong nước với cá nhân là người Việt Nam
định cư ở nước ngoài … Vì vậy các vấn đề mới này cần phải được nghiên cứu

định của pháp luật về thừa kế QSDĐ, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án,
bảo đảm mối quan hệ hài hoà về lợi ích giữa Nhà nước, chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật thừa kế QSDĐ và lợi ích của toàn xã hội.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm
vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm thừa kế nói chung và thừa kế QSDĐ nói
riêng; 10
- Phân tích và làm rõ những đặc thù của thừa kế QSDĐ so với thừa kế
những tài sản thông thường khác;
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về thừa kế QSDĐ để
thấy được những điểm phù hợp và những điểm chưa phù hợp từ đó có những
đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thừa kế QSDĐ cũng như
đề ra các biện pháp, cơ chế bảo đảm cho việc thực thi các quy định của pháp
luật về thừa kế QSDĐ, nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thừa kế
QSDĐ.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề thừa kế QSDĐ theo quy định của pháp luật
Việt nam hiện hành.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận:
- Triết học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước ta (về xây dựng nhà nước
Pháp quyền; giải quyết các vấn đề dân sự và chính sách hội nhập Quốc
tế).
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, xã hội

quyền sử dụng đất;
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, phương hướng hoàn thiện và một số giải
pháp nâng cao hiệu quả của các quy định thừa kế QSDĐ ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay. 12 Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1.1 Khái niệm chung về thừa kế QSDĐ
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Tài sản chính là của cải vật chất (hoặc phi vật chất) luôn gắn với cuộc
sống của mỗi con người, đó cũng chính là điều kiện cần thiết để phục vụ cho
sự tồn tại của con người, nói riêng và của cả xã hội loài người, nói chung.
Một cá nhân trong suốt cuộc đời của mình bằng các hoạt động lao động sản
xuất, hoặc bằng các hình thức khác đã tạo lập ra được một khối tài sản để
phục vụ cuộc sống của bản thân mình và người đó có toàn quyền định đoạt
đối với các tài sản đó. Nếu các tài sản đó không được sử dụng hết khi một

chuyển giao tài sản của người đã chết sang cho những người còn sống theo
đúng ý chí, nguyện vọng của người có tài sản (trong trường hợp thừa kế theo
di chúc) và theo các chuẩn mực được đặt ra bởi giai cấp cầm quyền bằng các
chế định pháp luật về thừa kế.
Quyền sở hữu là tiền đề của quyền thừa kế và quyền thừa kế là căn cứ để
củng cố quyền sở hữu. Chính vì thế quyền sở hữu và quyền thừa kế có mối
quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau: thừa kế bắt nguồn từ vấn đề sở hữu, chính 14
vì thế việc ghi nhận quyền thừa kế và để lại thừa kế cũng chính là một
phương thức bảo vệ quyền sở hữu.
Dưới góc độ là một chế định pháp lý, thừa kế chịu ảnh hưởng bởi cơ sở
hạ tầng theo nguyên lý cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng: trong
mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, chế định thừa kế được ghi nhận
ở những mức độ khác nhau, phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội. Bên
cạnh đó các yếu tố của kiến trúc thượng tầng trong xã hội như trình độ lập
pháp, ý chí của giai cấp cầm quyền, truyền thống và tập quán xã hội … cũng
ảnh hưởng trực tiếp tới chế định thừa kế.
Quyền thừa kế là một quyền dân sự cơ bản của công dân vì thế quyền
này được ghi nhận trước tiên trong Hiến Pháp. (Các bản Hiến Pháp
1959;1980; 1992 của Nhà nước ta đều ghi nhận quyền này). Hiến Pháp
1992(điều 58) quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền
thừa kế của công dân”. Việc bảo hộ này đã được cụ thể hoá trong Luật Đất
Đai 2003, BLDS 2005 và các luật liên quan khác.
Điều 631 BLDS cũng quy định về quyền thừa kế: Cá nhân có quyền lập
di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa
kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

1.1.2 Khái niệm và những đặc điểm của QSDĐ

nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ …;
+ Quan hệ giữa người sử dụng đất với các cơ quan quản lý Nhà nước
như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường; Phòng Tài
nguyên và Môi trường và UBND các cấp trong việc: giao đất, cho thuê đất,
cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất…
Dưới góc độ là một chế định pháp luật đất đai và một quan hệ pháp luật
đất đai như được phân tích ở trên thì QSDĐ chính là một phương thức thực 16
hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai bởi chủ sở hữu đất đai mà đại diện là
nhà nước không cần thiết và cũng không có đủ điều kiện để trực tiếp thực
hiện quyền chiếm hữu, sử dụng đất đai của mình mà việc thực hiện các quyền
đó của chủ sở hữu được thực hiện chủ yếu một cách gián tiếp thông qua việc:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất để các cá
nhân, tổ chức, hộ gia đình phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Xây
dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Trao QSDĐ cho các tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thông qua các hình thức:giao đất, cho thuê
đất, công nhận QSDĐ. Thông qua việc sử dụng đất của người sử dụng đất các
ý tưởng, chủ trương, chính sách về sử dụng đất của nhà nước đã được “hiện
thực hoá”.
- Thứ ba, QSDĐ là một quyền năng chủ quan của chủ sở hữu và của
người sử dụng đất. Theo nghĩa này, QSDĐ là cách xử sự của người sử dụng
đất trong việc thực hiện các quyền mà Nhà nước trao cho họ. Những quyền
chủ quan này xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật khách quan đã nói
ở trên và do các quy phạm đó quyết định. Người sử dụng đất chỉ được thực
hiện các quyền trong phạm vi mà pháp luật cho phép.
Cụ thể, QSDĐ theo nghĩa chủ quan là tổng thể các quyền mà nhà nước trao
cho người sử dụng đất để họ khai thác các thuộc tính có lợi của đất phục vụ
cho mục tiêu nhất định của mình (ví dụ xây nhà, trồng lúa, hoa màu, nuôi

Tính phụ thuộc và không đầy đủ của QSDĐ thể hiện ở các khía cạnh
sau:
- Người sử dụng đất không có đủ tất cả các quyền năng của chủ sở hữu,
người sử dụng đất chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng đất còn quyền định đoạt
là thuộc về nhà nước. Người sử dụng đất không được tự mình quyết định mọi
vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng đất 18
mà chỉ được quyết định một số vấn đề còn cơ bản vẫn phải hành động theo ý
chí của nhà nước:
Ví dụ người sử dụng đất phải sử dụng đất theo đúng mục đích, không
được tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất…
- Về cơ bản, chỉ những người sử dụng đất theo hình thức giao đất có trả
tiền sử dụng đất và thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả
thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất nhiều năm mà thời hạn thuê đất
đã được trả tiền còn lại ít nhất là 05 năm mới được pháp luật cho hưởng đầy
đủ 09 quyền năng của người sử dụng đất.
Ví dụ, theo quy định của Luật Đất Đai thì chỉ hộ gia đình, cá nhân sử
dụng đất không phải là đất thuê mới có quyền chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp
trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình và cá nhân khác, còn các
chủ thể sử dụng đất khác không được hưởng quyền này (Điều 113 Luật Đất
Đai). Hoặc tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất theo hình thức trả tiền
thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản
thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê mà không được chuyển nhượng,
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ thuê (Điều 111 Luật Đất Đai).

Như
vậy phạm vi chủ thể có đầy đủ 09 quyền năng này bị hạn chế: không phải bất
cứ người sử dụng đất hợp pháp nào cũng cũng có đầy đủ 09 quyền năng của

- Nếu xem xét dưới góc độ là một chế định pháp luật, thừa kế QSDĐ
được hiểu là tổng thể các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển
quyền sử dụng đất từ người đã chết sang cho những người còn sống theo trình
tự thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.
- Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật dân sự, thừa kế QSDĐ là hình
thức pháp lý của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển
quyền sử dụng đất từ người chết sang cho người còn sống theo di chúc hoặc
theo pháp luật. Với cách hiểu này thì thừa kế QSDĐ bao gồm ba bộ phận : 20
Chủ thể: người để lại di sản là QSDĐ; người được thừa kế quyền sử
dụng đất và những người có liên quan khác.
Khách thể: là hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ. Ví dụ: hành vi lập di chúc của người sử
dụng đất nhằm định đoạt quyền sử dụng đất của mình; hành vi nhận di sản
(quyền sử dụng đất), từ chối nhận di sản (quyền sử dụng đất) của người thừa
kế; hành vi công bố di chúc của người được gửi giữ di chúc
Các hành vi nói trên của các chủ thể bao giờ cũng hướng tới những lợi
ích vật chất hoặc một giá trị tinh thần nhất định. Những lợi ích vật chất hoặc
giá trị tinh thần đó là đối tượng cụ thể của quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ
hay “khách thể của khách thể” trong quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ.
Nội dung: là tổng thể các quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể trong
quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất:
+ Quyền dân sự: là cách xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật
do các chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ thực hiện: ví dụ Quyền
của người để lại di sản trong việc: Lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;
chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng thừa kế; giao nghĩa vụ cho những
người thừa kế…; Quyền của những người thừa kế trong việc: thoả thuận
thanh toán, phân chia di sản; từ chối hưởng di sản; quyền khởi kiện để xác

Quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, đối với các
tài sản thuộc sở hữu của mình, cá nhân có toàn quyền quyết định vì vậy thừa
kế theo di chúc bao giờ cũng được ưu tiên trước bởi nó là sự thể hiện ý chí
của người để lại di sản và pháp luật tôn trọng sự định đoạt đó. Tuy nhiên chỉ
trong trường hợp không có di chúc hoặc các trường hợp khác như được quy
định tại Điều 675 BLDS thì pháp luật mới có sự can thiệp bằng các quy định
về thừa kế theo pháp luật. 22
- Ngƣời để lại di sản QSDĐ
Người để lại di sản QSDĐ: chỉ có thể là cá nhân, cá nhân đó có thể là
người chưa thành niên, người đang bị tước quyền công dân; người mất năng
lực hành vi…đều là những người có thể để lại di sản thừa kế.
Đối với pháp nhân hoặc tổ chức, tài sản của pháp nhân, tổ chức dùng để
duy trì hoạt động của nó vì thế không có cá nhân nào có quyền định đoạt tài
sản của pháp nhân, tổ chức. Khi pháp nhân, tổ chức giải thể hoặc phá sản thì
tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản. Vì
vậy khái niệm “Người để lại di sản” không thể là pháp nhân.
- Ngƣời thừa kế quyền sử dụng đất:
Người thừa kế QSDĐ có thể là cá nhân (thừa kế theo pháp luật) nhưng
cũng có thể là cá nhân hoặc tổ chức (thừa kế theo di chúc). Nếu là cá nhân
phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Nếu là tổ chức thì phải còn tồn tại
vào thời điểm mở thừa kế.
- Thực hiện các nghĩa vụ tài sản do ngƣời chết để lại
Người thừa kế nhận di sản là quyền sử dụng đất bên cạnh việc có quyền
hưởng di sản QSDĐ nhưng cũng phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản trong
phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Như
vậy, pháp luật thừa kế hiện hành dành cho các chủ thể quyền tự định đoạt cao
nhất khi quy định những người thừa kế có thể thoả thuận về vấn đề trả nợ với

Việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì tại
thời điểm mở thừa kế sẽ xác định được chính xác quyền sử dụng đất do người
chết để lại là bao nhiêu (di sản); trên đó có những tài sản gì và nghĩa vụ về tài
sản của người chết để lại. Cũng từ thời điểm mở thừa kế các chủ nợ của người
chết có quyền yêu cầu những người thừa kế phải thanh toán nghĩa vụ tài sản
của người chết để lại trong phạm vi di sản mà họ được nhận. 24
Thời điểm mở thừa kế cũng là căn cứ để xác định những người thừa kế
tài sản của người chết (ngươì thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế
hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước
khi người để lại di sản chết; Những người có quyền thừa kế di sản của nhau
mà chết trong cùng một thời điểm thì họ không được thừa kế di sản của nhau;
Nếu là tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế). Vì vậy thời
điểm mở thừa kế cần được xác định chính xác theo giờ, phút người để lại di
sản chết, nếu không xác định được chính xác giờ, phút thì thời điểm mở thừa
kế được tính theo ngày mà người để lại di sản chết;
Ngoài ra, thời điểm mở thừa kế cũng là căn cứ để xác định thời hiệu khởi
kiện về quyền thừa kế cũng như các loại thời hạn khác trong quan hệ thừa kế
(ví dụ: thời hạn từ chối nhận di sản là 06 tháng; Mười năm đối với việc khởi
kiện về quyền thừa kế; thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện
nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm kể từ thởi điểm mở thừa
kế (Điều 645 BLDS).
Thời điểm mở thừa kế cũng là căn cứ để quy trách nhiệm cho chính
quyền địa phương trong việc quản lý di sản của người chết để lại nếu trong
trường hợp chưa xác định được người thừa kế hợp pháp của người đó. Ngoài
ra thời điểm mở thừa kế cũng là thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực và việc
chia thừa kế được bắt đầu, nếu không có thoả thuận khác của những người
thừa kế.

mất quyền khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế QSDĐ cũng như thời hiệu khởi
kiện về quyền thừa kế nói chung được quy định là 10 năm, kể từ thời điểm
mở thừa kế. Đối với người chưa thành niên, thời hiệu khởi kiện về quyền thừa
kế quyền sử dụng đất là 10 năm tính từ khi người đó đủ 18 tuổi. 26
Thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện trong trường hợp
xảy ra các sự kiện sau :
+ Có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm người
thừa kế không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu;
+ Người thừa kế chưa thành niên đang bị mất năng lực hành vi
dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có người
đại diện;
+ Người đại diện của người thừa kế chưa thành niên, của người
thừa kế mất năng lực hành vi dân sự, của người thừa kế hạn chế năng
lực hành vi dân sự chết nhưng chưa có người đại diện thay thế hoặc vì
lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được (Điều
161BLDS).

Trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế người thừa kế có thể
khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết những việc liên quan đến quyền thừa kế
sau: Yêu cầu phân chia di sản trong trường hợp những người thừa kế không
thoả thuận được với nhau việc phân chia; Yêu cầu huỷ bỏ việc phân chia di
sản để phân chia lại; Yêu cầu được hưởng di sản trong trường hợp không
được thừa nhận là người thừa kế; Yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người
khác (Điều 645BLDS).

1.2.2 Những đặc thù riêng của thừa kế QSDĐ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status