I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT NGUYN TH NGC LAN
CHế ĐịNH TRả Hồ SƠ Để ĐIềU TRA Bổ SUNG CủA TòA áN
TRÊN CƠ Sở THựC TIễN CủA TòA áN THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN TT VIN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ
SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA TÒA ÁN 7
1.1. Mô hình tố tụng hình sự và đặc điểm của mô hình tố tụng hình
sự Việt Nam 7
1.1.1. Khái quát các mô hình tố tụng hình sự 7
1.1.2. Đặc điểm mô hình tố tụng hình sự Việt Nam 9
1.2. Chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án trong mô hình tố
tụng hình sự Việt Nam 13
1.2.1. Vị trí, vai trò của Tòa án trong tố tụng hình sự 13
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của
Tòa án 20
Chương 2: THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
2.1. Quy định của pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của
Tòa án 26
2.1.1. Một số quy định cụ thể 26
2.1.2. Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung 29
2.1.3. Thời hạn trả hồ sơ điều tra bổ sung 40
2.1.4. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 42 2.1.5. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong trả hồ sơ để
điều tra bổ sung 43
2.2. Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án trên địa bàn
thành phố Hà Nội 47
2.2.1. Tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án trên địa bàn
thành phố Hà Nội 47
2.2.2. Lý do Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 49
2.2.3. Nguyên nhân dẫn đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung 60
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Bảng thống kê các vụ án tòa án trả hồ sơ cho viện kiểm
sát để điều tra bổ sung (từ năm 2009 đến năm 2013)
48 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác
nhau trong đó xét xử vụ án hình sự đóng một vai trò quan trọng. Tại phiên
tòa, tất cả những thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập đƣợc trong giai đoạn điều
tra, truy tố đều đƣợc đƣa ra xét xử công khai thông qua việc xét hỏi và tranh
luận. Trên cơ sở đó, Tòa án ra những phán quyết khách quan phù hợp với quy
định của pháp luật. Việc xét xử công bằng, nghiêm minh sẽ góp phần bảo vệ
chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của tập thể;
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm. Thông qua việc xét xử, đặc biệt là các phiên tòa
các văn kiện khác của Đảng về cải cách tƣ pháp thì việc tiếp tục nghiên cứu
và hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam trong đó
có chế định Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung là rất cần thiết. Do vậy, việc
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định trả điều tra bổ sung của Tòa
án không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn
là vấn đề mang tính cấp thiết. Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Chế
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án trên cơ sở thực tiễn của Tòa
án thành phố Hà Nội” cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chế định trả điều tra bổ sung nói chung và chế định trả điều tra bổ sung
của Tòa án nói riêng luôn thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng. Chế định này đƣợc nghiên cứu trong một số tác phẩm của một
số nhà khoa học, nghiên cứu dƣới dạng các bài viết, bài báo, chuyên đề…
Một số công trình nghiên cứu về vấn đề trả điều tra bổ sung ở Việt
Nam cho đến nay: GS. TSKH Lê Cảm – TS. Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ 3
biên), “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp
quyền”; PGS.TS Võ Khánh Vinh, “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự”; PGS.TS. Trần Văn Độ, “Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát
hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”; Vụ 1A Viện kiểm sát nhân dân tối
cao 2008, “Chuyên đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung”; Tác giả Nguyễn Ngọc
Kiện, “Một số vấn đề về việc Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung”, Tạp
chí Tòa án nhân dân số 4/2008; Tạp chí kiểm sát, số 6/2008, “Chuyên đề về
việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự”; Tác giả Nguyễn Hải Ninh, “Sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về
điều tra bổ sung”, Tạp chí Luật học, số 7/2008; Tác giả Nguyễn Hữu Hậu,
“Thẩm quyền của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong việc đề ra các yêu
cầu điều tra và điều tra bổ sung”, Tạp chí kiểm sát số 16/2009; Tác giả Lê
các công trình nêu trên còn tản mạn, chƣa có công trình nào tập trung phân
tích đƣợc một cách cơ bản vai trò, ý nghĩa, hậu quả pháp lý của trả hồ sơ điều
tra bổ sung của Tòa án, chƣa giải đáp tổng thể về thực tiễn cũng nhƣ những
giải pháp thực hiện trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự mà hiện nay,
việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS đang tính đến, khi vị trí pháp lý của tòa
án đã khác so với trƣớc khi có Hiến pháp năm 2013.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
liên quan đến việc trả điều tra bổ sung của Tòa án. Đánh giá thực trạng,
nguyên nhân Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
của chế định này trong hoạt động tố tụng hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây: 5
- Nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của Tòa án trong hệ thống cơ quan tƣ
pháp hình sự và quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án.
- Nêu và phân tích thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội;
- Nêu giải pháp hoàn thiện, kiến nghị xung quanh tình trạng trả hồ sơ
để điều tra bổ sung.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa
hai cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án và Viện kiểm sát (trên địa bàn
thành phố Hà Nội);
- Số liệu và tƣ liệu về việc trả điều tra bổ sung của Tòa án từ năm 2009
đến năm 2013.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ
ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA TÒA ÁN
1.1. Mô hình tố tụng hình sự và đặc điểm của mô hình tố tụng hình
sự Việt Nam
Để nghiên cứu chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án trong
tố tụng hình sự Việt Nam, cần xuất phát từ đặc trƣng của mô hình tố tụng
hình sự mà Việt nam đã áp dụng.
Mô hình tố tụng hình sự, theo cách hiểu chung nhất, là sự khái quát cao
những đặc trƣng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động tố
tụng hình sự, cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án. Cách thức tổ
chức này quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực hiện
các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (chức năng buộc tội, chức năng bào
chữa và chức năng xét xử) [26].
Nhƣ vậy, xem xét, đánh giá về mô hình tố tụng hình sự đƣợc tiến hành
trên các yếu tố cơ bản nhƣ: Địa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực
hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự; các mục tiêu, nhiệm vụ tố tụng
năng của mình. Trong quá trình xét xử, công tố viên và luật sƣ bào chữa tranh
luận công khai, đóng vai trò chính trong việc thẩm vấn, đối đáp lẫn nhau. Các
quan toà chỉ tiếp cận thông tin về vụ án thông qua quá trình tranh tụng giữa
Công tố viên và luật sƣ bào chữa. Nguyên tắc tranh tụng xuyên suốt quá trình
tố tụng hình sự, kể từ khi bắt đầu cuộc điều tra cho đến khi Toà án ra phán
quyết (đại diện của mô hình này là các nƣớc theo hệ thống thông luật nhƣ
Anh, Hoa Kỳ, Canada, Ôxtraylia )
Đặc trƣng của mô hình tố tụng hình sự xét hỏi kết hợp với tranh tụng là 9
sự giao thoa, tiếp biến giữa các yếu tố tích cực, tiến bộ của mô hình tố tụng
hình sự thẩm vấn và mô hình tố tụng tranh tụng nhằm hƣớng tới việc xây
dựng mô hình tố tụng hình sự có khả năng giải quyết một cách tối ƣu nhiệm
vụ phát hiện và xử lý tội phạm, đồng thời bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền
con ngƣời, quyền công dân. Sự giao thoa giữa các mô hình tố tụng hình sự
đƣợc thực hiện theo hƣớng kết hợp những yếu tố tích cực của mô hình thẩm vấn
và mô hình tranh tụng. Sự kết hợp này theo tỷ lệ nhƣ thế nào giữa các yếu tố là
do sự lựa chọn của các nhà lập pháp trên cơ sở các điều kiện cụ thể về lịch sử,
chính trị, kinh tế, xã hội của từng quốc gia (điển hình của mô hình này là Liên
Bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc…)
1.1.2. Đặc điểm mô hình tố tụng hình sự Việt Nam
Mỗi mô hình tố tụng hình sự trên đây đều có ƣu điểm nhƣợc điểm hạn
chế nhất định. Đối với Việt Nam, mô hình tố tụng hình sự trong quá trình phát
triển chịu ảnh hƣởng lớn từ mô hình tố tụng hình sự Pháp và mô hình Xô viết
(hai mô hình tố tụng hình sự vốn bắt nguồn từ truyền thống luật Châu Âu lục
địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn.
Hệ thống pháp luật, hệ thống tƣ pháp của Pháp đã hiện diện ở nƣớc ta
trong khoảng 80 năm - bên cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống tƣ pháp phong
kiến bản xứ - đã ảnh hƣởng sâu sắc đến truyền thống, tƣ duy pháp lý ở nƣớc ta.
quyền của các chủ thể trong tố tụng hình sự. Pháp luật trao trách nhiệm tìm
kiếm chứng cứ, xác định sự thật vụ án cho các cơ quan tiến hành tố tụng và
ngƣời tiến hành tố tụng.
+ Tố tụng hình sự Việt Nam xác định việc tìm kiếm sự thật vụ án bằng
phƣơng pháp điều tra, thẩm vấn. Trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên thực
hiện mọi biện pháp điều tra do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ. 11
Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát tiếp tục kiểm tra hồ sơ vụ án để ra
quyết định truy tố hoặc không truy tố ngƣời phạm tội. Tại phiên tòa áp dụng
chủ yếu phƣơng pháp điều tra, thẩm vấn mà không phải là sự đối tụng giữa
bên buộc tội và bên bào chữa. Phƣơng pháp điều tra đƣợc thực hiện dƣới hình
thức xét hỏi. Hội đồng xét xử đặt những câu hỏi về từng tình tiết của vụ án
nhằm xác minh tính trung thực, tính đúng đắn của các chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án; thẩm tra các nhân chứng; xem xét những vật chứng liên quan Sau
việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, pháp luật quy định thẩm quyền hỏi của
Kiểm sát viên, ngƣời bào chữa, ngƣời bảo vệ quyền lợi của đƣơng sự.
+ Tố tụng hình sự Việt Nam phân chia quá trình giải quyết vụ án thành
các giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Ở mỗi
một giai đoạn thực hiện bởi các chủ thể khác nhau và gắn với quyền hạn,
nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể nhƣng đều hƣớng tới mục tiêu chung là làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án. Các giai đoạn tố tụng đƣợc tiến hành gắn liền
và kế tiếp nhau, giai đoạn tố tụng trƣớc làm tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau,
giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt đƣợc của giai đoạn tố tụng
trƣớc đó. Việc phân chia các giai đoạn tố tụng gắn với quyền hạn, trách nhiệm
các chủ thể tiến hành tố tụng nhƣ vậy làm cho các hoạt động tố tụng có tính
chuyên nghiệp, tạo nên hiệu quả hoạt động tố tụng đáp ứng yêu cầu điều tra,
xử lý tội phạm phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, hạn chế việc
vi phạm quyền của bị can, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và từng bƣớc đáp
ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
trong điều kiện trình độ dân trí cũng nhƣ kinh tế còn thấp. 13
1.2. Chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án trong mô hình
tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1. Vị trí, vai trò của Tòa án trong tố tụng hình sự
Mang đặc điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn nên tồn tại hồ sơ vụ án
hình sự và sự phân chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành các giai đoạn
tố tụng hình sự.
Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự
theo quy định của pháp luật. Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt
động của cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
tòa án); ngƣời tiến hành tố tụng (thủ trƣởng, phó thủ trƣởng cơ quan
điều tra, điều tra viên; viện trƣởng, phó viện trƣởng viện kiểm sát,
kiểm sát viên; chánh án, phó chánh án tòa án, thẩm phán, hội thẩm
và thƣ kí tòa án); ngƣời tham gia tố tụng (ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị
cáo; ngƣời bào chữa; ngƣời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngƣời bảo vệ
quyền lợi của đƣơng sự; ngƣời làm chứng; ngƣời giám định và ngƣời
phiên dịch), của cá nhân, cơ quan và tổ chức khác góp phần vào việc
giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự [31, tr. 9].
Giai đoạn tố tụng hình sự là bƣớc của quá trình tố tụng hình sự tƣơng
ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tƣ pháp hình sự của từng loại
chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án
hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp
phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ quyền hợp pháp của công
trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc chuyển toàn 15
bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và
đề nghị truy tố bị can.
Giai đoạn này có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp
dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội
phạm và ngƣời phạm tội, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng
thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp
khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm bắt đầu của giai đoạn này kể
từ khi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ
quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trƣớc Tòa án hoặc
đình chỉ vụ án hình sự tƣơng ứng. Đây là giai đoạn hết sức quan trọng, trực
tiếp chứng minh hành vi phạm tội thông qua các chứng cứ đã thu thập đƣợc,
ngăn chặn việc thông qua quyết định khởi tố bị can một cách không thận
trọng, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
trong toàn xã hội.
Giai đoạn truy tố: trong giai đoạn này Viện kiểm sát căn cứ vào các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm
đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của vụ án hình sự (bao
gồm cả kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra
chuyển đến và trên cơ sở đó Viện kiểm sát ra quyết định: Truy tố bị can trƣớc
Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ
sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.
Giai đoạn này có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định
kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ
quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của
Viện kiểm sát đƣợc chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm
17
các giai đoạn xét xử của Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tƣ pháp hình
sự của Nhà nƣớc nói chung. Một điều dễ dàng nhận ra là trong tố tụng thẩm
vấn, Toà án không giữ vai trò trọng tài nhƣ trong tố tụng tranh tụng, mà có vai
trò lớn hơn rất nhiều. Toà án trong tố tụng thẩm vấn đƣợc xem nhƣ cơ quan
thực thi chính sách tƣ pháp hình sự, do đó có sự hợp tác chặt chẽ với Cơ quan
công tố. Điều này lý giải vai trò của Thẩm phán giám sát trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự.
Vai trò chính của Toà án trong tố tụng thẩm vấn là chủ trì việc xem xét
công khai các kết quả của giai đoạn điều tra, truy tố đƣợc thể hiện trong hồ sơ
vụ án. Quá trình đó đƣợc xem nhƣ là việc kiểm tra lại nội dung hồ sơ vụ án.
Các Thẩm phán xét xử có trách nhiệm đọc, nghiên cứu kỹ lƣỡng hồ sơ vụ án
trƣớc khi xét xử, kiểm tra công khai bị cáo và các nhân chứng trên cơ sở các
tình tiết chứa đựng trong hồ sơ, chú ý đến những gì Công tố viên và Luật sƣ
bào chữa nêu về vụ án và sau đó đƣa ra phán quyết. Những nhận thức về nội
dung vụ án đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án có ảnh
hƣởng khá đậm nét với các Thẩm phán trong quá trình xét xử và ra phán
quyết tại phiên toà.
Chức năng xét xử chỉ có thể đạt đƣợc kết quả tốt khi có quá trình chuẩn
bị tốt. Công việc chuẩn bị phải tuân theo một trình tự, thủ tục bắt buộc theo
quy định của Bộ luật TTHS. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải thực
hiện một số công việc và trong một khoảng thời gian nhất định theo qui định
pháp luật. Qua quá trình chuẩn bị, tùy từng vụ án cụ thể, Tòa án sẽ có cách
thức giải quyết khác nhau: quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết
định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, quyết định đƣa vụ án ra xét xử. Nhƣ
vậy, Tòa án chỉ quyết định đƣa vụ án ra xét xử khi có đủ điều kiện, nếu chƣa
đủ các điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án có thể lùi lại một khoảng
đƣợc vai trò tích cực và cho đến nay khi mà Hiến pháp 2013 ra đời thay thế
cho Hiến pháp 1992 thì chế định này càng thể hiện rõ nét hơn ý nghĩa của
mình trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung, và đối với Tòa án nói
riêng, cơ quan nhân danh Nhà nƣớc thực hiện chức năng xét xử.
Điều 102 Hiến pháp 2013 khẳng định “Tòa án là cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [23]. So
với Hiến pháp 1992 thì ngoài chức năng xét xử thì Tòa án nhân dân còn thực
hiện quyền tƣ pháp. Về các nội dung cụ thể của “quyền tƣ pháp” cho đến hiện
nay vẫn chƣa đƣợc làm rõ nhƣng nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm quyền
tƣ pháp trƣớc hết là quyền xét xử, quyền xét xử là đỉnh cao nhất, hội tụ nhất
của quyền tƣ pháp. Có ý kiến cho rằng quyền tƣ pháp phải đƣợc thể hiện ở tất
cả các giai đoạn trƣớc, trong và sau xét xử, Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý
nên những vấn đề liên quan đến quyền con ngƣời, quyền công dân phải do
Tòa án quyết định. Tòa án: là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tƣ pháp. Khi
thực hiện quyền tƣ pháp, tòa án nhân danh Nhà nƣớc để xét xử, phán quyết
về một vi phạm pháp luật hay một tranh chấp. Phán quyết của tòa án không
phải là sự đánh giá hay phản ứng của hội đồng xét xử mà là hình thức biểu
lộ quan điểm của nhà nƣớc đối với vụ án đó. Đây là đặc trƣng có tính chất
cơ bản, cốt lõi, bao trùm nhất của tòa án, thể hiện tính chính danh của
quyền tƣ pháp. Từ đó, quyền tƣ pháp đƣợc thể hiện qua việc kiểm soát của
tòa án đối với hoạt động điều tra, truy tố, đó là việc thẩm định lại các
chứng cứ, các quyết định tƣ pháp của cơ quan điều tra, viện kiểm sát (quyết
định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ điều tra…). Là
cơ quan thực hiện quyền tƣ pháp, về nguyên tắc, tòa án có trách nhiệm
kiểm soát tính đúng đắn và hợp pháp của các quyết định của cơ quan điều
tra, viện kiểm sát liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân, quyền tài sản
của cá nhân, tổ chức trong hoạt động tƣ pháp.