Cơ sơ lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hồng Nhung

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự: 7
1.1.1. Khái niệm tranh tụng: 7
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa: 8
1.2. Vai trò tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự: 8
1.3. Đặc điểm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự: 11
1.3.1. Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa: 11
1.3.2. Các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng: 14
1.3.3. Bản chất của điều khiển tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án
hình sự: 16

quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự: 83
3.2.2. Nâng cao trình độ, kĩ năng điều khiển tranh tụng của Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân: 89
3.2.3. Mở rộng, nâng cao quyền bào chữa: 95 3.2.4. Nâng cao chất lượng của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh
tụng tại phiên tòa: 98
3.2.5. Xây dựng cơ sở vật chất, điều chỉnh chính sách tiền lương cho
Thẩm phán, Kiểm sát viên đảm bảo chất lượng tranh tụng: 99
3.2.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi người hiểu
và thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa: 101
Kết luận chƣơng 3 103
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
HĐXX Hội đồng xét xử
TAND Tòa án nhân dân
TNHS Trách nhiệm hình sự
TTHS Tố tụng hình sự
VKS Viện kiểm sát
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa



1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm
trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các
cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã góp
phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy
nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn
chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn
bộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân. Trong khi
chất lượng tranh tụng hiện nay còn nhiều hạn chế như sự có mặt của người
bào chữa tại phiên tòa, quyền bào chữa của bị cáo chưa thực sự được đảm
bảo… Đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và các cán
bộ tư pháp khác chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theo yêu
cầu cải cách tư pháp; kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng còn hạn chế nên
không tránh khỏi khó khăn, lúng túng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày
02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị
ra đời trở thành định hướng chiến lược cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước
ta. Nghị quyết này đề cập nhiều nội dung khác nhau của công tác tư pháp từ
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ tư pháp, trong
đó tăng cường tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự được coi là vấn
đề trọng tâm của Nghị quyết. Theo đó, các quy định trong tố tụng hình sự 2
phải đảm bảo tính khách quan, phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu

y mô
̣
t gia tăng , đây là vấn đề được sự quan
tâm của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Tỉnh uỷ, Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều Nghị quyết và quyết
định yêu cầu các ban, ngành, các tổ chức xã hội đề ra và áp dụng nhiều biện
pháp cụ thể nhằm đấu tranh với các loại tội phạm trên đi
̣
a ba
̀
n . Các cơ quan
bảo vệ pháp luật như Toà án, Viện kiểm sát, Công an là những cơ quan được
giao nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh với các loại tội phạm. Trong đó To
̀
a a
́
n đo
́
ng
vai trò trung tâm trong toàn bộ quá trình tố tụng, thể hiện đầy đủ nhất bản chất
của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng
đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và 3
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Phiên tòa là nơi có sự tham gia đầy đủ
của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những
người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa,
bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến tranh tụng của các bên tham
gia tố tụng, Tòa án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất)

Bài viết “Một số vấn đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng
hình sự với chức năng xét xử của Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp”
của Nguyễn Thương Tín, tạp chí nhà nước và pháp luật số 10/2008;
Bài viết “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo tinh thần cải
cách tư pháp một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Đức Mai, Tạp
chí tòa án nhân dân số 7/2007;
Bài viết “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng
hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 8/2008;
Bài viết “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng
hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Mai, Tạp
chí Tòa án nhân dân số 12/2009;
Bài viết "Về tranh tụng tại phiên tòa hình sự" của tác giả Tống Anh
Hào trong Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2003;
Bài viết "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự" đăng trong
Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003 của tác giả Trần Đại Thắng.
Các bài viết đề cập đến nguyên tắc tranh tụng, vấn đề tranh tụng trong
tố tụng hình sự nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất
định liên quan tranh tụng và còn khá nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh
vấn đề tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ cơ sở lý luận,
quy định của Đảng, Nhà nước, pháp luật tố tụng hình sự và định hướng cải 5
cách tư pháp đặc biệt cải cách hoạt động xét xử; đồng thời đánh giá thực tiễn
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh, từ đó
chỉ ra những bất cập còn tồn tại của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử

và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp.
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương
pháp lịch sử; phương pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với những chuyên gia
đầu ngành, những người làm công tác thực tiễn lâu năm); phương pháp thống
kê xã hội học về vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tranh tụng tại phiên tòa xét
xử vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng xét xử vụ án hình sự và hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
1.1.1. Khái niệm tranh tụng:
Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là

Như vậy, xét về cách hiểu thông thường nhất, “Tranh tụng là việc từng
bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay
toàn bộ quan điểm của phía bên kia” [20].
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa:
Theo từ điển luật học 2006, khái niệm tranh tụng tại phiên tòa được
hiểu như sau: “Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến
hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến,
luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia dưới sự
điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung tâm, trọng tài” [58].
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam năm
2003, những người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người
khác. Thời gian tranh luận không bị hạn chế. Nếu qua tranh luận mà xét thấy
cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi
xong lại tiếp tục tranh luận.
Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa bao giờ cũng gắn liền với hoạt động
tài phán của Tòa án. Tại phiên tòa, Tòa án tiến hành xác định sự thật của vụ
án bằng cách điều tra công khai, chính thức về vụ án, nghe các bên tranh luận về
giải quyết vụ án từ góc độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.
1.2. Vai trò tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
Tranh tụng tại phiên tòa là một trong những nội dung có ý nghĩa rất
quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự (TTHS), là vấn đề có tính thời sự 9
được xã hội quan tâm. Tranh tụng tại phiên tòa hình sự không chỉ là yêu cầu
của việc bảo đảm tính dân chủ, công bằng giữa những người tham gia tố tụng
với Viện kiểm sát (VKS), mà kết quả tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ để Hội
đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự xác định sự thật vụ án. Thực hiện các quy
định của BLTTHS năm 2003 và Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của

đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ
lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Do đó
tranh tụng tại phiên tòa có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định
trong giải quyết vụ án, điều đó thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, phiên tòa là nơi Tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện
thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm
tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh được các chủ thể có quyền, lợi
ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa) thực hiện một cách bình đẳng, dân
chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận.
Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố
tụng. Tại phiên tòa, quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố
tụng được quy định và được bảo đảm thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố
tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi
phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, dùng nhục hình…
Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng
đúng đắn pháp luật. Qua phân tích tranh luận đề nghị của các bên tham gia tố
tụng, Tòa án lựa chọn phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải
quyết vụ án.
Thứ tư, phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục
pháp luật. Thông qua các thủ tục tại phiên tòa, qua tranh luận và công bố bản
án, Tòa án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những người
tham dự phiên tòa nâng cao hiểu biết pháp luật. 11
1.3. Đặc điểm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
1.3.1. Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa:
Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới chứng minh
rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi

cả các bên (bên buộc tội và bên bào chữa). Về cơ bản, các quy định về thủ tục
tố tụng tại phiên tòa trong BLTTHS Việt Nam năm 2003 là phù hợp và trong
thực tiễn áp dụng không có gì vướng mắc lớn. Nghị quyết số 08-NQ/TW
nhấn mạnh đến vấn đề tranh tụng chỉ là nhằm khắc phục tình trạng ở một số
phiên tòa hiện nay đó là Kiểm sát viên quá thụ động, ỷ lại vào HĐXX nên
không tích cực tham gia xét hỏi cũng như tranh luận với người bào chữa, bị
cáo và những người tham gia tố tụng khác. Về phía HĐXX lại quá phụ thuộc
vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên không quan tâm xem xét
các chứng cứ, các yêu cầu và quan điểm bào chữa mà Luật sư và bị cáo đưa ra
tại phiên tòa. Vì vậy, vấn đề quan trọng là không phải là sửa đổi, bổ sung các
quy định của pháp luật về thủ tục tại phiên tòa mà chỉ cần chủ tọa phiên tòa
tăng thời gian để Luật sư và bị cáo được trình bày các ý kiến của mình tại
phiên tòa, không được ngắt lời hay hạn chế thời gian phát biểu của họ, bảo
đảm sự tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố
tụng khác là đủ. Nâng cao tính tranh tụng trong quá trình xét xử có nghĩa là
nâng cao hơn nữa hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, không nên quy định
trong BLTTHS tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS.
Nhóm quan điểm thứ hai thì cho rằng: Tư pháp hình sự ở một số nước
dù được tổ chức theo mô hình tố tụng nào đi nữa (tố tụng xét hỏi hay tố tụng
tranh tụng), thì trong TTHS cũng đều tồn tại ba chức năng với ba nhóm chủ
thể: bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án. Do đó, “tranh tụng là nguyên tắc
quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trưng nổi
bật nhất của tư pháp hình sự” [2]
.
, tùy thuộc vào sự thừa nhận và sự thể hiện 13
nội dung của nguyên tắc này (theo hướng mở rộng hay thu hẹp) trong các giai
đoạn tố tụng mà người ta phân biệt mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố

các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, phải xem
xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội cũng như bên
bào chữa. Bản án của Tòa án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ
giữa các bên [24].
Nguyên tắc tranh tụng chính là điều kiện để bảo đảm việc xác định
đúng đắn sự thật khách quan của vụ án, hình thức tranh tụng giúp cho việc
kiểm tra tại phiên tòa từng chứng cứ, từng chi tiết của vụ án ở cả hai góc độ
buộc tội và gỡ tội. Nhờ đó Tòa án có thể nghiên cứu, đánh giá tất cả những gì
mà bên buộc tội khẳng định cũng như tất cả những gì mà bên gỡ tội phản bác.
Trên cơ sở đó xác định đúng người phạm tội để trừng trị đồng thời không làm
oan người vô tội, tạo tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Tuy nhiên
mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc này trong pháp luật TTHS ở các nước
là khác nhau, phụ thuộc vào quan niệm, truyền thống lập pháp, tổ chức bộ
máy, năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp, đội ngũ Luật sư bào chữa và các điều
kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, trình độ dân trí…
1.3.2. Các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng:
Hệ tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụng
triệt để nguyên tắc tranh tụng. Theo nguyên tắc này thì trong TTHS luôn tồn
tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử. Ba chức năng này
đan quyện qua lại với nhau và trong sự thống nhất của mình, chúng bảo đảm
cho việc giải quyết vụ án. Mỗi chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại và
vận động của hai chức năng kia [35]. Thiếu một trong ba chức năng nêu trên,
tranh tụng trong TTHS sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, các 15
chức năng này không xuất hiện đồng thời. So với chức năng xét xử, thì chức
năng buộc tội và chức năng bào chữa xuất hiện sớm hơn, song song tồn tại và
đối trọng với nhau trong suốt quá trình tố tụng. Khi một nguời bị bắt, bị áp
dụng biện pháp tạm giữ hoặc khi một người bị khởi tố với tư cách là bị can thì

bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người giám định,
người phiên dịch, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…
Trong hệ tố tụng tranh tụng, do có sự phân định rõ ràng giữa các chức
năng cơ bản trong TTHS trên cơ sở nguyên tắc tranh tụng nên các chủ thể
tham gia vào quá trình TTHS được phân thành bốn nhóm (theo chức năng mà
họ tham gia thực hiện):
Nhóm 1: Bên buộc tội: bao gồm các chủ thể tham gia thực hiện chức
năng buộc tội: Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện công tố hay Viện kiểm
sát, Công tố viên hay Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự và
người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ.
Nhóm 2: Bên bào chữa: bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng bào
chữa: Người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết án, nguời bào
chữa, bị đơn dân sự và người đại diện họp pháp (nguời bảo vệ quyền lợi) của
họ. Các chủ thể này tạo thành bên đối lập với bên buộc tội;
Nhóm 3: Toà án (thông qua HĐXX) là chủ thể duy nhất thực hiện chức
năng xét xử. Đây là chủ thể giữ vai trò trọng tài đứng giữa bên buộc tội và
bên bào chữa để phân xử.
Nhóm 4: Các chủ thể tham gia tố tụng khác gồm Thư ký phiên toà,
người làm chứng, giám định viên, người phiên dịch, đại diện các cơ quan,
đoàn thể hay tổ chức xã hội [31].
1.3.3. Bản chất của điều khiển tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
Bản chất của điều khiển tranh tụng tại phiên tòa chính là quá trình xác
định sự thật khách quan về vụ án. Bản chất này chi phối và định hướng mọi

Trích đoạn Tranh tụng trong tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống Xây dựng cơ sở vật chất, điều chỉnh chính sách tiền lương cho Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi người hiểu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status