CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC - Pdf 69

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC
TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
1.1. Những vấn đề chung về thị trường sức lao động.
1.1.1. Thị trường sức lao động và các yếu tố cấu thành thị trường sức
lao động.
1.1.1.1. Thị trường sức lao động.
Có rất nhiều khái niệm về thị trường sức lao động, mỗi khái niệm có
những đặc điểm riêng phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh, vị trí nhất
định của các tổ chức hoặc các nhà khoa học đưa ra.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường sức lao động là thị
trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình
để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”.
Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua
việc làm được trả công.
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “ Thị trường mà đảm bảo việc làm cho
người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm thì được gọi là thị
trường sức lao động”.
Các nhà khoa học kinh tế Nga thì lại cho rằng: “Thị trường sức lao động
được hiểu như một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội
(trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng
lao động”.
Theo một số nhà khoa học kinh tế Việt Nam thì khái niệm trên được phát
biểu: “Thị trường sức lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập
trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản
nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã
hội, tranh chấp lao động), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là
người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động”.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường sức lao động, do
cách tiếp cận khác nhau, song các quan điểm trên đều thống nhất với nhau về
nội dung cơ bản để tạo nên thị trường sức lao động đó là: không gian, địa điểm,
người bán sức lao động, người mua sức lao động, giá cả sức lao động và những

động không khác gì thị trường hàng hóa thông thường, đó là: tự do, bình đẳng
và ngang giá. Tự do vì người mua và người bán chỉ phục tùng ý chí của mình;
bình đẳng vì họ quan hệ với nhau như ‘‘những chủ sở hữu hàng hóa và trao đổi
vật ngang giá lấy vật ngang giá’’.
Từ đó có thể rút ra : Thị trường sức lao động là một thị trường hàng hoá,
là nơi diễn ra việc trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động, người sử dụng và
người sở hữu sức lao động trao đổi với nhau thông qua một bản hợp đồng, trong
đó xác định quyền tự do, bình đẳng của các chủ thể sở hữu và theo nguyên tắc
trao đổi ngang giá. Ở đây, giá cả của hàng hoá sức lao động biểu hiện dưới hình
thái tiền công và tiền công chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường, trong đó
quan hệ cung và cầu lao động là cơ chế tác động trực tiếp tới sưc thay đổi của
tiền công.
Như vậy, trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ về việc làm, nó xác
định nội dung đích thực của thị trường sức lao động như thị trường việc làm.
Tóm lại, có thể quan niệm một cách chung nhất về thị trường sức lao
động như sau : ‘‘Thị trường sức lao động là một bộ phận của hệ thống thị
trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do
(người bán sức lao động) và một bên là người có nhu cầu sử dụng sức lao động
(người mua sức lao động). Sự trao đổi này được thỏa thuận trên cơ sở các mối
quan hệ như: tiền công, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, ...
thông qua một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng’’.
1.1.1.2. Các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động.
Nói đến thị trường sức lao động là nói đến mối quan hệ giữa người có sức
lao động có thể tìm được việc làm để có thu nhập và người sử dụng sức lao
động có thể thuê được công nhân bằng cách trả công để tiến hành sản xuất-kinh
doanh. Trên thị trường sức lao động, mức cung, cầu về sức lao động ảnh hưởng
tới tiền công lao động. Đối tượng tham gia thị trường sức lao động bao gồm:
những người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, có nhu cầu sử dụng sức lao động và
những người có nhu cầu bán sức lao động có thể có việc làm và thu nhập.
Từ đó ta thấy: Thị trường sức lao động được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ

cung sức lao động sẽ tăng và ngược lại.
+ Ba là, sự di cư lao động, đây là yếu tố có tác động tức thì đến cung sức
lao đông. Nó có thể làm tăng hoặc làm giảm đột ngột đối với cung sức lao động
ở vùng nhập cư và vùng xuất cư.
*. Cầu về sức lao động:
Cầu về sức lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một
địa phương, một ngành hay một doanh nghiệp với những mức tiền công khác
nhau trong một khoảng thời gian nhất định. Nhu cầu này thể hiện qua khả năng
thuê mướn lao động trên thị trường sức lao động.
Cầu về sức lao động được chia làm hai loại :
+ Cầu thực tế về sức lao động: Là nhu cầu thực tế cần sử dụng sức lao
động tại một thời điểm nhất định.
+ Cầu tiềm năng về sức lao động: là nhu cầu lao động cho tổng số chỗ
làm việc có thể có sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo
việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ và các
điều kiện khác.
Cầu tiềm năng về sức lao động = cầu thực tế về sức lao động + số chỗ
làm việc sẽ được tạo ra trong tương lai.
Giống như cung về sức lao đông, cầu về sức lao động cũng được xem xét
cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu:
- Về số lượng: Cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc
độ phát triển sản xuất, nếu năng xuất lao động xã hội không đổi và nó tỷ lệ
nghịch với năng xuất lao động xã hội, nếu quy mô sản xuất không đổi.
- Về chất lượng: Cầu về chất lượng lao động ngày một nâng cao trước sự
đòi hỏi của việc nâng cao năng xuất lao động, mở rộng quy mô sản xuất, tăng
khả năng cạnh tranh . . .
- Về cơ cấu: Cầu lao động cũng được xem xét theo các tiêu chí: lứa tuổi,
giới tính, ngành, nghề, thành phần kinh tế . . .
- Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu sức lao động:
+ Một là, phương thức tăng trưởng kinh tế được lựa chọn: nếu chính phủ

ngược lại), và các yếu tố tạo ra việc làm như: đất đai, vốn, trình độ tổ chức quản
lý, tôn giáo, phong tục tập quán...
*. Giá cả sức lao động:
Tiền công là giá cả sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức
lao động; cũng như các loại hàng hoá khác, giá cả hàng hoá sức lao động không
chỉ bị quy định bởi giá trị của nó, mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệ cung -cầu
sức lao động. Khi cung vượt quá cầu thì giá cả sức lao động sẽ thấp hơn giá trị
sức lao động và ngược lại. Mối quan hệ cung-cầu trên thị trường sức lao động
sẽ dẫn đến việc xác định giá cả sức lao động.
*. Mối quan hệ giữa giá cả và cung -cầu trên thị trường sức lao động.
- Sự hoạt động của thị trường sức lao động được thể hiện thông qua mối
quan hệ giữa giữa giá cả và cung, cầu trên thị trường sức lao động.
Cung, cầu và giá cả sức lao động có mối quan hệ qua lại với nhau trên thị
trường sức lao động. Nếu cung phù hợp với cầu và cung-cầu điều chỉnh linh
hoạt theo tiền công thì thị trường sức lao động vận hành có hiệu quả, thất
nghiệp không xảy ra. Nếu mức cung cao hơn mức cầu thì lao động sẽ thừa, tiền
công giảm xuống và ngược lại. Mặt khác, quan hệ cung cầu về sức lao động
cũng được điều tiết phù hợp với quy luật giá trị. Việc hạ giá hay tăng giá hàng
hoá sức lao động cũng tác động đến cung và cầu. Giá cả của sức lao động cũng
như ‘cái van’ điều chỉnh quan hệ cung, cầu sức lao động.
Cơ sở khách quan của những biến động trong mối quan hệ cung cầu và
giá cả sức lao động là trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và giá trị hàng
hoá sức lao động. Ngoài ra, chúng còn chịu sự tác động của nhà nước thông qua
các chính sách kinh tế vĩ mô, như luật lao động, luật thuế thu nhập, chính sách
bảo hiểm xã hội, lương tối thiểu ...
- Sự hoạt động của thị trường sức lao động tạo ra cạnh tranh mạnh mẽ
trên thị trường này : Đó là sự cạnh tranh giữa người mua (người thuê mướn sức
lao động) và người bán (người cung ứng sức lao động); giữa người mua với
người mua ... từ đó tác động đến việc hình thành giá cả sức lao động. Vì:
Thông qua tín hiệu giá cả, cả người mua và người bán đều theo đuổi tối

khác.
- Thị trường sức lao động tồn tại một số cấu trúc thể chế loại đặc biệt (hệ
thống pháp luật phân nhánh, những chương trình kinh tế - xã hội, dịch vụ việc
làm các tổ chức công đoàn, liên hiệp hội các nhà doanh nghiệp, v.v..) sinh ra
đặc thù quan hệ giữa các chủ thể của thị trường sức lao động. Vì vậy, cần phải
thể chế hóa thật chi tiết mọi hướng hoạt động khác nhau của họ.
- Chất lượng lao động ở từng người lao động có khác nhau theo giới tính,
tuổi tác, thể lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác, động lực làm
việc v.v… Vì vậy, mức độ cá thể hóa cao khi ký kết giao kèo, gắn với trình độ
chuyên môn khác nhau của sức lao động, sự đa dạng của công nghệ và tổ chức
lao động, nên việc đánh giá chất lượng lao động khi tuyển dụng, trả công phù
hợp cho từng người gặp nhiều khó khăn và phức tạp;
- Trong trao đổi hàng hóa sức lao động có nhiều điểm khác so với trao
đổi hàng hóa vật chất. Quá trình trao đổi sức lao động so với trao đổi hàng hóa
vật chất được bắt đầu trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa - quyền sử dụng khả
năng lao động được chuyển sang người mua theo những gì đã được ấn định
trong hợp đồng hay thoả ước lao động tập thể. Quá trình trao đổi được tiếp tục
trong sản xuất dưới hình thức trao đổi sức lao động đang hoạt động, lao động
thực tế thành lương danh nghĩa và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông của cải vật
chất, có nghĩa là trên thị trường hàng hóa và dịch vụ được trao đổi lương danh
nghĩa thành phương tiện sống. Việc trao đổi hàng hóa vật chất được bắt đầu và
kết thúc trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa vật chất.
- Đối với người lao động, vấn đề quan trọng không chỉ là tiền công và
tiền lương, mà còn là nội dung và điều kiện lao động, bảo đảm duy trì chỗ làm
việc, tương lai công việc và triển vọng thăng tiến trong nghề nghiệp, bầu không
khí làm việc trong tập thể và quan hệ giữa người lao động với người thuê lao
động v.v….
1.1.2.2. Vai trò của thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường.
- Trước hết, thị trường sức lao động đảm bảo việc làm cho dân số tích cực
kinh tế, kết nối họ vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận

ở Việt Nam. Vấn đề này đặc biệt quan trọng và khó khăn khi đất nước bước vào
thời kỳ mới; các doanh nghiệp chịu sự sắp xếp lại theo chiều hướng khác nhau:
sáp nhập, giải thể, liên kết, liên doanh, cổ phần hoá, cho thuê hoặc bán doanh
nghiệp, đã làm cho số người mất việc làm trong các doanh nghiệp nhà nước tới
hàng triệu người. Bên cạnh đó, sự cho phép hình thành và phát triển đa dạng các
loại hình sở hữu, nhiều doanh nghiệp mới ra đời đã giải quyết nhiều chỗ làm
việc mới cho người lao động và cả những người dôi dư từ khu vực nhà nước
trong nhiều năm qua. Tỷ trọng lao động trong các thành phần kinh tế, các ngành
nghề, khu vực dân cư dần dần được thay đổi theo cơ cấu ngày càng hợp lý, uyển
chuyển, thích ứng và phù hợp với cấu trúc mới của nền kinh tế.
- Thứ sáu, thị trường sức lao động làm tăng tính cơ động của lao động
giữa các doanh nghiệp trong một ngành, giữa các ngành và các khu vực với
nhau. Trong thời kỳ đầu của cải cách kinh tế ở Việt Nam, dòng chuyển động
này vẫn chưa mang tính cơ động cao vì hàng loạt những nguyên nhân như tính ỷ
lại và trông chờ vào sự sắp xếp công việc của nhà nước là thói quen đã ăn sâu

Trích đoạn Những bài học kinh nghiệm rút ra cho chính quyền thành phố Hải Phòng về vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status