Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành án phạt tù ở Việt Nam - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐẶNG QUANG THẮNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS.TSHK LÊ VĂN CẢM

Hà Nội - 2012
2


Tố tụng Hình sự năm 1988 42
2.2. Các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù từ khi có Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988 đến Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 48
2.3 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 57
Chương III 65
THỰC TRẠNG THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ Ở VIỆT NAM VÀ CÁC
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ Ở
VIỆT NAM 65
3.1. Thực trạng tình hình thi hành án phạt tù 65
3

3.1.4 Những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng thi hành án
phạt tù ở Việt Nam hiện nay 75
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù ở nước ta hiện nay
87
3.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù 87
3.2.2. Hoàn thiện những quy định của pháp luật về tổ chức thi hành án
phạt tù 94
3.2.3. Hoàn thiện những quy định của pháp luật thi hành án phạt tù cần
nghiên cứu, vận dụng của các nước ngoài 99
3.2.4. Giải pháp về tổ chức, bộ máy của các cơ quan có nhiệm vụ thi
hành án phạt tù 108
3.2.5. Giải pháp về tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án, Viện Kiểm sát,
Công an và các cơ quan hữu quan khác 110
3.2.6. Giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành
án phạt tù 110
3.2.7. Giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế trong thi hành án phạt tù
113
3.2.8. Giải pháp về cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị cho các cơ
quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù 114

từng bước được thay đổi. Nền kinh tế chuyển từ chế độ quản lý tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay trong xã hội xảy ra rất nhiều hiện
tượng tiêu cực như nạn tham nhũng , buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác đã
trở thành một trong những nguy cơ đe doạ sự ổn định xã hội, sự nghiệp đổi
mới của toàn dân.
Việc đấu tranh chống tội phạm đươc tiến hành bằng tổng thể các biện
pháp kinh tế - xã hội và pháp lý, trong đó Thi hành án phạt tù đã phát huy tác
dụng tích cực và có hiệu quả trong lĩnh vực quản lý, giam giữ, giáo dục, cải
tạo phạm nhân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh phòng, chống
tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của
nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực vào công
cuộc đổi mới. Thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng là
một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết
định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn. Bản án, quyết định của Tòa án
được thi hành chính là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống. Nhiệm vụ
của giai đoạn này nhằm mục đích cảm hoá tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn
hóa, kỹ năng lao động nhằm mục đích làm cho người thụ án trở thành một
công dân tốt cho xã hội, mặt khác góp phần răn đe, ngăn ngừa chung. Đặc
trưng cơ bản của thi hành án (THA) phạt tù là tính cưỡng chế nghiêm khắc.
Người phải THA phạt tù bị cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường sống bình
5

thường và phải chịu sự quản lý, giáo dục trong môi trường tách biệt với
những quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt.
THA phạt tù là một vấn đề quan trọng thể hiện quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với công tác cải tạo, giáo dục những
người lầm lỗi. Hoạt động THA phạt tù của chúng ta một mặt nhằm đề cao
tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao pháp chế XHCN, mặt khác, đó là quá
trình giáo dục, cải tạo phạm nhân để giúp họ nhận thức một cách sâu sắc sai

định của Tòa án, góp phần giữ vững trật tự kỷ cương và ổn định xã hội. Tuy
nhiên bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống tổ chức và hoạt động thi hành
án cũng bộc lộ những mặt hạn chế nhất định.
Vì vậy, đổi mới tổ chức và hoạt động Thi hành án hình sự nói chung và
thi hành án phạt tù nói riêng là yêu cầu khách quan nhằm tạo lập một cơ chế
hữu hiệu đảm bảo thực thi có hiệu quả các bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật trong toàn xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp
luật, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và
môi trường pháp lý tin cậy trong mọi mặt sinh hoạt của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,
của cải cách tư pháp theo đường lối của Đảng. Thực tiễn thi hành án phạt tù
đã bộc lộ một số mặt hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc
đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. do vậy việc nghiên cứu
đề tài : “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành án phạt tù ở Việt Nam”
7

để trên cơ sở đó giải quyết các vướng mắc trong lý luận và thực tiễn và góp
phần hoàn thiện hơn về mặt lập pháp các quy định thi hành án phạt tù.
2. Tình hình nghiên cứu
Thi hành án phạt tù là một vấn đề đã được nhiều nhà luật học trên thế
giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Tác giả Hoàng Ngọc Nhất có công
trình "Một số vấn đề cấp bách về thi hành án hình sự", trong đó có đề cập đến
thi hành án tù (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1 năm 2001); tác giả Đỗ
Văn Chỉnh có công trình " người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng
được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù- những tồn tại và vấn đề cần hướng
dẫn” (Tạp chí tòa án nhân dân số 04/2006); tác giả Đỗ Văn Chỉnh với bài viết
“ Bàn về thi hành án hình sự” ( Tạp chí Tòa án nhân dân số 08/2010); tác giả
Nguyễn Phong Hòa công trình nghiên cứu “Thực trạng công tác thi hành án
hình sự và những kiến nghị” (Tạp chí tòa án nhân dân tháng 11/2006) ; tác
giả Mai Bộ với công trình “ Về việc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù”

Bộ Công an, Vụ Kiểm sát cải tạo và giam giữ, Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các
phương pháp sau: phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc,
so sánh, thống kê.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan
trọng đối với hoạt động thi hành án phạt tù ở Việt Nam. Việc đề xuất hệ
9

thống các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù có ý nghĩa góp
phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù, hướng dẫn
áp dụng thống nhất các quy định về thi hành án phạt tù, giúp các cơ quan thi
hành án phạt tù có các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo phạm nhân,
tái hòa nhập họ với cộng đồng.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận thi hành án phạt tù ở Việt Nam.
- Chương II: Các quy định về thi hành án phạt tù trong pháp luật Việt
Nam.
- Chương III: Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành
án phạt tù ở Việt Nam.
10

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ Ở VIỆT
NAM

các biện pháp tư pháp như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm,
trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, bắt
buộc chữa bệnh; các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành
niên phạm tội như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo
dưỡng. Như vậy, thi hành án hình sự và hình phạt, biện pháp tư pháp có quan
hệ hữu cơ, tác động qua lại, chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ này, hình
phạt và biện pháp tư pháp giữ vai trò quyết định, quy định nội dung, phương
pháp, hình thức, thời gian thi hành án hình sự. Có thể dễ dàng chứng minh
điều này, vì thi hành hình phạt tử hình khác với thi hành hình phạt tù, khác
với thi hành các hình phạt không phải là tù và tử hình và càng khác với thi
hành các biện pháp tư pháp. Ngược lại, thi hành án hình sự có tác động trở lại
đối với hình phạt, biện pháp tư pháp, làm cho mục đích của hình phạt, biện
pháp tư pháp được thực hiện trên thực tế, đảm bảo tính nghiêm minh của
pháp luật.
Thực chất của thi hành án hình sự là việc tổ chức thi hành các hình
phạt, biện pháp tư pháp được quy định trong bản án hoặc quyết định hình sự
có hiệu lực pháp luật trên thực tế. Đó chính là việc thực thi công lý trên cơ sở
chân lý đã được hoạt động tố tụng hình sự chứng minh.
Nội dung thi hành án hình sự rất rộng, bao gồm: thủ tục, chế độ, tổ
chức thi hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hóa,
xã hội và thực hiện chế độ, chính sách đối với người bị kết án. Các quan hệ
12

xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như:
việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi hành án, tổ chức lực
lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho thi hành án; quản lý nhà nước về công tác
thi hành án; quy định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án; nghĩa vụ
của cơ quan nhà nước hữu quan do pháp luật thi hành án hình sự quy định.
Qua nghiên cứu pháp luật thi hành án hình sự, lý luận và thực tiễn thi
hành án hình sự ở một số nước trên thế giới có thể thấy, lý luận thi hành án

Việc nghiên cứu thi hành án phạt tù, ngoài ý nghĩa về mặt lý luận, còn
có ý nghĩa phục vụ nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các
cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung về sự cần thiết phải thực hiện đúng, đầy
đủ, chặt chẽ các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù, góp phần nâng
cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; giúp công dân có cơ sở pháp
lý tham gia vào hoạt động thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù
nói riêng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho người phải chấp hành án phạt tù
được tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, nó có ý
nghĩa cung cấp cứ liệu khoa học cho việc hoàn thiện các quy định của pháp
luật về thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng và phục
vụ các cơ quan chức năng trong việc hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy
định về thi hành án phạt tù. Như vậy, việc nghiên cứu thi hành án phạt tù có ý
nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
1.2 Vai trò của thi hành án phạt tù
1.2.1 Trong công tác giáo dục những người bị kết án
Công tác thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng là
giai đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp
14

hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội
chủ nghĩa:góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ
vững ổn định chính trị- xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà
nước. Chính vì lẽ đó, vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của thi hành án đã
được quy định ngay tại điều 136 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992: “ Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có
hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người
và đơn vị hữu quan phải nghiêm minh chấp hành”. Đặc trưng cơ bản của thi
hành án (THA) phạt tù là tính cưỡng chế nghiêm khắc. Người phải THA phạt

luyện, cải tạo mình, giúp họ sớm tìm lại chân giá trị của mình trong đời sống
xã hội. Đồng thời, việc sử dụng các biện pháp quản lý, giáo dục và thực hiện
tốt các chế độ chính sách đối với người phạm tội trong các trại giam chính là
sự phản ánh về trình độ, năng lực quản lý của nhà nước; sự quan tâm của nhà
nước, xã hội đối với những người bị lầm lỗi; sự thể hiện thái độ của nhà nước
về các quyền của con người. Có thể nói, về vấn đề này nhiều nước đã có
nhiều sáng tạo và kinh nghiệm tốt trong quản lý, giáo dục cũng như thực hiện
các chính sách mang tính nhân đạo đối với người bị áp dụng hình phạt tù.
Các nhà tâm lý học, tội phạm học Việt Nam từ trước đến nay đều thống nhất
quan điểm cho rằng, việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người
lương thiện là điều hoàn toàn có thể làm được. Quan điểm này hoàn toàn phù
hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong
lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa
xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng" [50, tr.
558].
16

Giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội trong giáo
dục học được gọi là giáo dục lại người phạm tội. Đây là quá trình nhằm làm
thay đổi những quan điểm, nhận thức không đúng đắn của người phạm tội,
cải tạo các thói quen, hành động sai trái đã hình thành ở người phạm tội.
Những nhận thức, hành động sai trái của người phạm tội không phải là
bản tính vốn có của họ, mà là do ảnh hưởng của những yếu tố không lành
mạnh trong môi trường gia đình, nhà trường, xã hội, của những điều kiện
thuận lợi cho tội phạm phát sinh, phát triển, những thiếu sót trong quản lý xã
hội của các cơ quan chức năng Những nhận thức, thói quen xấu ở người
phạm tội hoàn toàn có thể cải tạo được, nếu tổ chức đúng đắn việc giáo dục
lại người bị kết án trong thi hành án hình sự.
1.2.2 Trong hoạt động tư pháp hình sự
Thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng có vai trò

phạt tù sẽ góp phần cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng củng cố niềm tin
của nhân dân vào hiệu lực của bộ máy Nhà nước, vào hiệu quả và sức mạnh
của pháp luật và pháp chế, vào một loạt các tư tưởng pháp lý cao cả và tiến
bộ được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại (như: công bằng, nhân
đạo, dân chủ và pháp chế), cũng như vào thắng lợi huy hoàng của chính nghĩa
đối với tàn bạo, của công lý đối với bất công, của cái thiện đối với cái ác, vào
các giá trị quí báu của xã hội dân sự và các nguyên tắc được thừa nhận chung
của nhà nước pháp quyền với bảy nguyên tắc cơ bản:
1. Nhà nước pháp quyền là tổ chức công quyền (quyền lực công khai)
trong hệ thống chính trị của xã hội dân sự.
18

2. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được xây dựng trên các tư tưởng
pháp lý tiến bộ của nhân loại như công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế.
3. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đảm bảo thực sự việc tôn trọng
và bảo vệ các quyền và tự do của con người.
4. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đảm bảo thực sự điạ vị ngự trị
của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của đời sống xã hội.
5. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đảm bảo thực sự tính tối thượng
của luật trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước.
6. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đảm bảo thực sự nguyên tắc phân
công quyền lực thành ba nhánh – lập pháp, hành pháp và tư pháp.
7. Nhà nước pháp quyền đảm bảo thực sự chủ quyền của nhân dân .
1.2.3 Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Hệ thống pháp luật đấu tranh phòng chống tội phạm là tổng thể những
văn bản pháp luật thống nhất có chứa các chế định và các quy phạm pháp luật
do nhà nước ban hành trong lĩnh vực tư pháp hình sự bao gồm các văn bản
pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự cũng như một số văn
bản pháp luật khác có liên quan đến tổ chức hoạt động tư pháp hình sự với tư
cách là những căn cứ pháp lý điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội phát sinh

một công dân tốt cho xã hội, mặt khác góp phần răn đe, ngăn ngừa chung. Với
ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành án
có mối quan hệ hữu cơ với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nếu mục
đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều
tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa. Nếu như một bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành
không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị
xem thường. Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định
của Tòa án là một yêu cầu khách quan trong hoạt động quản lý Nhà nước.
1.3.2. Đặc điểm thứ hai – là tính cưỡng chế nghiêm khắc của thi hành án phạt
tù. Người phải THA phạt tù bị cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường sống bình
thường và phải chịu sự quản lý, giáo dục trong môi trường tách biệt với những
quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt. Bằng hoạt động thi hành án phạt tù, các
bản án kết tội có hiệu lực pháp luật (tù có thời hạn, tù chung thân) được đảm
bảo thi hành trong thực tiễn bằng sức mạnh cưỡng chế nghiêm khắc nhất.
1.3.3. Đặc điểm thứ ba- THA phạt tù là một vấn đề quan trọng thể
hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với công
tác cải tạo, giáo dục những người lầm lỗi. Giáo dục người phạm tội là một
trong những mục đích của hình phạt được quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình
sự năm 1999: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn
giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật
và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới".
Mục đích của hình phạt là thành tố có tính chất quyết định, quy định
nội dung, phương pháp, hình thức, tiêu chí, biện pháp kiểm tra, đánh giá kết
quả của thi hành án hình sự. Mục đích của hình phạt có đạt được hay không
phụ thuộc vào Cơ quan thi hành án hình sự và người bị kết án, đặc biệt là phụ
21

thuộc vào việc cán bộ, nhân viên Cơ quan thi hành án hình sự có ý thức được
đầy đủ ý nghĩa của mục đích của hình phạt hay không? Do đó, quán triệt mục

người khác về ý thức tôn trọng pháp luật và tham gia vào quá trình phòng
ngừa, đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm pháp luật.
Đặc trưng cơ bản của thi hành án phạt tù là tính cưỡng chế nghiêm
khắc. Người phải thi hành án phạt tù bị cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường
sống bình thường và phải chịu sự quản lý, giáo dục trong môi trường tách
biệt với những quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt.
Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã
hội trong một thời gian nhất định.
Tù có thời hạn là hình thức phạt phổ biến được quy định trong hầu hết
các điều luật thuộc Phần các tội phạm riêng. So với hình phạt cải tạo không
giam giữ thì tù có thời hạn có nội dung cưỡng chế nghiêm khắc nhiều hơn.
Nếu như cải tạo không giam giữ tác động đến người bị kết án mà không cần
phải cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường sống và hoạt động bình thường của
họ trước khi phạm tội thì đối với tù có thời hạn người bị kết án bị tước tự do
bị giam giữ trong một môi trường chịu sự chi phối ngặt nghèo. Hạn chế sự tự
do của người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lý chủ yếu của hình
phạt này. Nói cách khác tù có thời hạn tác động đến quyền lợi thiết thân trong
những quyền cơ bản của con người đó là quyền tự do. Theo điều 33 Bộ luật
Hình sự quy định: “tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành
23

hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với
người phạm một tội có mức tối thiểu là 3 tháng, mức tối đa là hai mười năm.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ
mỗi ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù”. Hình phạt tù có thời hạn nó
bao hàm kết hợp giữa trừng trị và cải tạo giáo dục, giữa cưỡng chế và thuyết
phục cũng như phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm, tuy nhiên khi nghiên
cứu tìm hiểu giữa hình phạt tù và các hình phạt khác còn có một khoảng cách
quá xa về nội dung cưỡng chế cũng như chế độ chấp hành nên hạn chế sự lựa
chọn của tòa án khi xét xử.

trên thế giới

1.5.1. Thi hành án phạt tù tại Nga [51]

Tình hình hiện nay
Vào tháng 6-2009, số tù nhân ở Liên bang Nga là 894.855 người, tức là
635 tù nhân trên 100.000 người dân. Tù nhân được giam giữ tại 1.051 cơ sở,
bao gồm 766 khu cải tạo, 216 trại cách ly hay trại giam chờ xét xử (SIZO), 7
nhà tù và 62 khu giam giữ phạm nhân lứa tuổi vị thành niên.
Trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù thuộc về cơ quan thi hành án Liên
bang (FSES) được thiết lập ngày 9-3-2004 theo Nghị định số 314 của Tổng
thống. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm soạn thảo các văn bản pháp lý liên quan
25

tới các vấn đề về nhà tù, song FSES là cơ quan phụ trách riêng về việc thực
hiện. cơ quan này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng Tổng thống.
Cơ quan thanh tra thi hành án hình sự, trực thuộc FSES, chịu trách
nhiệm về những đối tượng bị kết án với những chế tài thay thế và được phóng
thích. Các chế tài thay thế bao gồm lao động công ích và quản thúc tại gia.
FSES chịu trách nhiệm tiến hành giáo dục và điều trị tâm lý chẩn đoán
trong nhà tù. Về việc giúp cho phạm nhân xây dựng lại cuộc sống, cơ quan
thanh tra phối hợp chặt chẽ với các trung tâm môi giới việc làm và các địa
phương để tìm ra giải pháp cho các vấn đề xã hội mà những đối tượng bị kết
án với những chế tài thay thế hay được phóng thích phải đối mặt.
Chuyển giao trách nhiệm
Một trong những điều kiện để kết nạp Nga vào Hội đồng Châu Âu là
chuyển giao tất cả các cơ sở giam giữ và cơ quan quản lý, điều hành việc xử
phạt những đối tượng bị kết án từ Bộ Nội vụ của Nga sang Bộ Tư pháp Liên
bang Nga. Điều kiện này đã được đáp ứng vào ngày 31-8-1998 khi hệ thống
quản lý phạm nhân hình sự được sát nhập vào Bộ Tư pháp (trừ các hình thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status