Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI BẢO TRÂM

NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2008

Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Lời mở đầu
1

Chương 1: khái quát chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
7
1.1
Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS.

7
1.1.1
Khái niệm quyền bào chữa.
7
1.1.2
Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.

10
1.1.2.1
Khái niệm.
10

20
1.4
Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền
bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam.

23
1.4.1
Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật
TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành.

24
1.4.2
Giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến
năm 2003.
29
1.4.3
Giai đoạn từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến nay.
31

Kết luận chƣơng 1.
33

Chương 2: nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tths việt nam. 34
2.1
Bảo đảm quyền tự bào chữa.
34

59
2.2.3
Bảo đảm quyền nhờ người khác bào chữa trong giai đoạn xét xử.
65
2.2.4
Nghĩa vụ của người bào chữa khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

66
2.3
Bảo đảm quyền có người bào chữa trong những trường hợp pháp
luật quy định.

2.4
Nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm
quyền bào chữa.

69

Kết luận chƣơng 2.
73

Chương 3: thực tiễn áp dụng và những giảI pháp nhằm hoàn thiện,
nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt nam.
1


1.1.2
Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.

10
1.1.2.1
Khái niệm.
10
1.1.2.2
Chủ thể thực hiện quyền bào chữa.
11
1.1.2.3
Hình thức thực hiện quyền bào chữa.
12
1.1.3
Cơ sở để quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS.

13
1.1.3.1
Cơ sở lý luận.
13
1.1.3.2
Cơ sở thực tiễn.
16
1.1.3.3
Cơ sở pháp lý.
18
1.2
Vị trí, vai trò của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị

Chương 2: nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tths việt nam. 34
2.1
Bảo đảm quyền tự bào chữa.
34
2.1.1
Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố.

2.1.1.1
Bảo đảm quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ.
34
2.1.1.2
Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can.
37
2.1.2
Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn xét xử.
43
2.2
Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa.
50
2.2.1
Địa vị pháp lý của người bào chữa trong pháp luật TTHS.
50
2.2.1.1
Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa.
52
2.2.1.2

Chương 3: thực tiễn áp dụng và những giảI pháp nhằm hoàn thiện,
nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt nam.
3

4

74
3.1
Thực tiễn áp dụng .
74
3.1.1
Những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

74
3.1.1.1
Đối với quyền tự bào chữa.
74
3.1.1.2
Đối với quyền nhờ người khác bào chữa và quyền có người bào
chữa trong các trường hợp do pháp luật quy định của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.

76
3.1.2
Những hạn chế, vướng mắc trong việc bảo đảm quyền bào chữa của

3.2.3.2
Đội ngũ luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp.
97
3.3
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện
nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo.

100
3.3.1
Về hoàn thiện pháp luật.
100
3.3.2
Về tổ chức.
106
3.3.3
Về nhận thức.
107

Kết luận chương 3.
108

Kết luận
110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
111

của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống pháp luật bảo đảm cho việc
phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân. Quyền bào chữa là một quyền
quan trọng của công dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo. Quyền bào chữa đã được ghi nhận thành nguyên tắc hiến định trong
tất cả các bản Hiến pháp của nước ta đồng thời đây cũng là nguyên tắc đặc thù
của luật tố tụng hình sự (TTHS).
Việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế đã góp phần không nhỏ vào
việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
giúp cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và toà án giải quyết vụ án
một cách khách quan, toàn diện và chính xác. Tuy vậy, thực tiễn TTHS cho thấy
việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được
thực hiện triệt để, các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT và người
tham gia tố tụng còn xem nhẹ nguyên tắc này. Chất lượng công tác tư pháp nói
chung và công tác xét xử nói riêng còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ,
còn bộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến
các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân (theo số liệu
thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, tuy số lượng án oan có giảm dần, nhưng
vẫn còn: năm 2002 toàn bộ ngành Tòa án có 23 trường hợp bị kết tội oan, năm 2003
còn 7 trường hợp, năm 2004 còn 5 trường hợp), gây nhiều hậu quả đáng tiếc cho
người bị kết án oan, người thân và xã hội. Tình trạng bắt, giam giữ, xét xử oan sai
vẫn còn tồn tại trong thực tế tố tụng. Việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để
làm sáng tỏ về mặt khoa học các quy định của pháp luật TTHS hiện hành về
quyền bào chữa, vấn đề áp dụng trong thực tiễn đồng thời đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền này cũng như nâng
cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc trong thực tiễn không những có ý 3
nghĩa quan trọng về mặt lý luận - thực tiễn pháp lý mà còn là vấn đề mang tính
cấp thiết.

bào chữa trong Bộ luật TTHS 2003, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 5/2004.
- Lê Hồng Sơn: Vấn đề thực hiện quyền của người bào chữa trong
TTHS, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2002
Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất định, chưa
nghiên cứu được tất cả các chủ thể của quyền bào chữa theo quy định hiện hành.
Liên quan đến vấn đề này vẫn còn khá nhiều ý kiến trái ngược nhau trong lý luận
nhận thức, quá trình thực thi, xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Bảo đảm quyền bào chữa là một trong những vấn đề có nội dung phong
phú và phức tạp, vẫn đang là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc và
toàn diện hơn nữa trong khoa học Luật TTHS cũng như thực tiễn áp dụng ở nước
ta hiện nay.
3. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý
luận và thực tiễn, quá trình hình thành, nội dung của nguyên tắc, chỉ ra những kết
quả và những bất cập còn tồn tại khi áp dụng nguyên tắc ở nước ta hiện nay. Qua
đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc trong thực
tiễn và hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, chính xác, khách
quan và toàn diện trong hoạt động TTHS.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt
ra là: 5
1. Nghiên cứu quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS như: khái niệm, cơ sở
của nguyên tắc; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nguyên tắc.
2. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam
3. Tìm hiểu nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS Việt Nam

sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp
luật, về cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phân tích và phương
pháp tổng hợp kết hợp với việc phân tích thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa thông qua các vụ án cụ thể, điều luật cụ thể để tổng hợp các tri
thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng để nghiên cứu.
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp
lịch sử; kết hợp với việc phân tích thực tiễn.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. 7
Chương 2: Nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng
cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO
CHỮA CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO

1.1. Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào
chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS.
1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa
Trong khoa học pháp luật TTHS, khái niệm quyền bào chữa được nhìn

cũng có những quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền bào chữa.
Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định: “Người bào chữa được tham gia
tố tụng từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị
tình nghi thực hiện tội phạm bị giam giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm
giam trước khi khởi tố bị can thì khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam” [44].
Theo giáo sư M.X.Xtrôgôvích thì : “Quyền bào chữa là tổng hòa các
hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc
nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can” [36]. 9
Theo Bộ luật TTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị
tình nghi và bị cáo. Điều 30 Bộ luật này quy định: “Bị cáo hoặc người bi tình
nghi có thể lựa chọn luật sư bất cứ lúc nào” [19].

Quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của công dân. Điều 17
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm…. Nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của công dân”.
Có thể hiểu: “Bào chữa là hành vi của một người đưa ra các tình tiết và
chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làm giảm lỗi của mình”. Vì vậy,
quyền bào chữa chỉ thuộc về người nào bị coi là có lỗi bao gồm cả lỗi kỷ luật, lỗi
hành chính, lỗi dân sự, lỗi hình sự. Quyền bào chữa với ý nghĩa là khái niệm
chung bao hàm cả quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ
luật, quyền bào chữa của bị đơn dân sự (trong tố tụng dân sự) và quyền bào chữa
của người bị coi là có lỗi hình sự (quyền bào chữa trong TTHS).
Người nào bị coi là có lỗi hình sự, bị buộc tội thì có quyền bào chữa
trong TTHS.

TTHS năm 2003 có sự sửa đổi quan trọng, đó là sự bổ sung vào nguyên tắc này
là ngoài bị can, bị cáo thì người bị tạm giữ cũng có quyền không những tự bào
chữa mà cả quyền nhờ người khác bào chữa. Quy định này thể hiện quan điểm
bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung và trong TTHS nói riêng.
1.1.2. Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị
tạm giữ, bị can, bị cáo
1.1.2.1. Khái niệm 11
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
được hiểu như sau: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là một quy định của luật TTHS trong đó xác định người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đồng thời quy
định các cơ quan THTT có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật”. Để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình họ có thể sử dụng những quyền năng khác
được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện.
Khái niệm đã làm rõ chủ thể thực hiện quyền bào chữa; hình thức thực
hiện; quyền, nghĩa vụ của chủ thể cũng như cơ quan THTT trong việc bảo đảm
quyền đó.
1.1.2.2. Chủ thể thực hiện quyền bào chữa
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
đã khẳng định rõ, chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới được bảo đảm
quyền bào chữa theo quy định của pháp luật.
- Người bị tạm giữ: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp
khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người
phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (Khoản 1 Điều
48 Bộ luật TTHS năm 2003).
Như vậy chỉ có những người bị bắt trong các trường hợp nêu tại Khoản 1

Đồng thời tại khoản 2 điều 56 quy định những người sau đây không được
bào chữa: 13
- Người đã THTT trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc
đang THTT trong vụ án đó.
- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người
giám định hoặc người phiên dịch.
Như vậy theo quy định tại khoản 1 điều 56 Bộ luật TTHS, người bào
chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bao gồm 3 đối tượng là: LS, người đại
diện hợp pháp và bào chữa viên nhân dân. So với qui định tại khoản 1 điều 35
Bộ luật TTHS năm 1988 thì trong khoản 1 điều 56 Bộ luật TTHS năm 2003
được bổ sung thêm người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ cũng có thể là
người bào chữa cho người bị tạm giữ.
1.1.3. Cơ sở để quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS.
Cũng giống như những quy phạm pháp luật mang tính nền tảng, chỉ đạo
cho việc xây dựng và ban hành những quy phạm pháp luật thực định khác. Khi
ban hành quy phạm pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, các nhà làm luật phải căn cứ vào cơ sở lý luận và cơ sở
thực tiễn để xây dựng và ban hành quy phạm pháp luật đó được chính xác, có
hiệu lực pháp lý cao.
1.1.3.1. Cơ sở lý luận
Có thể khẳng định rằng những căn cứ đầu tiên có tính chất nền móng và
cơ sở để quy định quyền bào chữa trở thành một nguyên tắc cơ bản, đặc thù
trong pháp luật TTHS xuất phát từ quyền con người. Tìm hiểu những nội dung
về quyền con người ta sẽ thấy rõ điều đó.
Những ý tưởng về: "quyền con người" ra đời rất sớm cùng với sự phân
chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước. Khác với các Nhà nước

15
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác
động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Pháp luật ghi nhận các quyền của
con người được xã hội thừa nhận. Thông qua pháp luật, quyền con người được
bảo vệ. Để bảo đảm quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và
những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi
phạm quyền con người. Quyền con người được pháp luật xác lập là thiêng liêng,
không thể xâm hại một cách tuỳ tiện và được bảo vệ bằng các biện pháp giáo
dục, thuyết phục và cưỡng chế của xã hội, Nhà nước. Điều 50 Hiến pháp 1992
khẳng định: quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là những
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng, phục tùng.
Nhà nước ban hành pháp luật là tạo cơ sở vững chắc cho mọi người tôn
trọng, nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện các giá trị xã hội được thừa nhận,
bảo vệ, mà nổi bật trong các giá trị đó là quyền con người "Nhà nước quản lý xã
hội bằng pháp luật" (Điều 12 Hiến pháp 1992). Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu
hiệu của Nhà nước để bảo đảm thực hiện quyền con người.
Quyền con người, quyền công dân được chia thành các nhóm chính sau:
- Các quyền tự do, dân chủ về chính trị: tham gia quản lý nhà nước, bầu
cử, bình đẳng nam nữ
- Các quyền về kinh tế – xã hội: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh,
quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền thừa kế
- Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân): quyền được pháp luật bảo hộ
về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo … [27].
Tuyên ngôn về nhân quyền ngày 10/12/1948 khẳng định: “Bị cáo về một
tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp 16
trong một phiên toà xét xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền
biện hộ” Khoản 1 điều 11 [41].

bị tạm giữ, bị can, bị cáo góp phần đảm bảo cho việc giải quyết vụ án nhanh
chóng chính xác, đòi hỏi CQĐT, cơ quan THTT thực hiện nghiêm chỉnh chức
năng, nhiệm vụ của mình. Điều 4 Bộ luật TTHS qui định: “Khi THTT, Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS,
KSV, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi
trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện
pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy
có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”.
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ được đảm bảo
khi các cơ quan THTT, người THTT thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Vì
vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan THTT cần tạo điều kiện thuận
lợi để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện được quyền bào chữa mà pháp
luật đã qui định. Mọi biểu hiện ngăn cản người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực
hiện quyền bào chữa đều là vi phạm pháp luật nghiêm trọng và bị xử lý.
Do vậy, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan THTT,
người THTT trong các hoạt động TTHS, tránh việc cơ quan và người THTT lạm
quyền trong khi thi hành công vụ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân
đã được pháp luật bảo vệ.
Thực tiễn cho thấy việc tôn trọng thực hiện quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế; đó là trong các việc thu thập, đưa ra các tài
liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh sự vô tội hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS;
quyền được gặp gỡ bị can, bị cáo khi bị tạm giam; đảm bảo để bị cáo thực hiện 18
quyền bào chữa tại phiên toà, tranh luận với KSV mà ta sẽ xem xét tại Phần 3
luận văn này.
Trước tình hình vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ theo thủ tục
tố tụng ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, làm mất lòng tin của quần

quyết vụ án hình sự.
Thứ nhất: Là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS,
nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cho ta
cái nhìn tổng quan, thấy được bản chất của nguyên tắc cũng như những bất cập,
hạn chế của nó để định hướng cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật. Đồng
thời góp phần vào việc bảo đảm cho quá trình THTT được thực hiện một cách
thống nhất.
Thứ hai: Nguyên tắc là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân khi tham gia TTHS,
Thứ ba: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính dân chủ XHCN
trong hoạt động TTHS.
Nguyên tắc được quy định tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có cơ hội đưa ra những chứng cứ minh oan hoặc làm giảm nhẹ tội
cho mình, cơ hội được tranh tụng bình đẳng trước Toà án.
Thứ tư: Việc thực hiện nguyên tắc góp phần tích cực vào việc bảo vệ
pháp chế XHCN, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của
hệ thống tư pháp hình sự; góp phần động viên và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ 20
chức và mọi công dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm và dân
chủ hóa quá trình tố tụng.
Thứ năm: Việc thực hiện nguyên tắc góp phần vào việc xác định sự thật
khách quan của vụ án, bảo đảm trong quá trình tố tụng không để lọt tội phạm,
không làm oan người vô tội, bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật; tránh sự áp đặt duy ý chí chủ quan của một bên.
Thứ sáu: Khi đã hiểu sâu, nắm vững bản chất của nguyên tắc sẽ giúp cho
các chủ thể trong quan hệ TTHS chủ động sử dụng quyền cũng như nghiêm
chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật,

thiết cho các cơ quan, cá nhân THTT và tránh được lạm dụng mà trước hết và
chủ yếu là để bảo vệ con người, giúp mọi người biết rõ pháp luật để phòng tránh
việc vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời cũng biết được quyền của mình
mà thực hiện, bảo vệ.
Để bảo đảm quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự,
pháp luật đưa ra một loạt các quy định buộc các bên tiến hành và tham gia tố
tụng phải tuân thủ. “Pháp luật bảo đảm quyền con người trong xét xử hình sự là
tổng thể các qui phạm pháp luật qui định về tội phạm, hình phạt và xét xử hình
sự cùng các quy định khác nhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của
bị cáo và các bên có liên quan không bị xâm hại trái pháp luật”.
Như vậy, việc bảo đảm quyền con người trong xét xử hình sự phải được thể
hiện trên tất cả các phương diện vừa nêu. Nó không dừng lại ở việc qui định tội
phạm, hình phạt mà còn qui định việc xét xử các vụ án hình sự. Có nghĩa là nó phải
được bảo đảm ở trong cả lĩnh vực lập pháp và áp dụng pháp luật, ở cả trong luật nội
dung và luật hình thức. Ở đó, quyền, nghĩa vụ của các bên tiến hành và tham gia tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status