Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Con người là vốn quý của tự nhiên và của xã hội. Bảo vệ quyền con người
là mục tiêu của các thiết chế Nhà nước dân chủ và tiến bộ. Bảo đảm thực hiện có
hiệu quả quyền công dân là tiêu chí đánh giá sự văn minh, tiến bộ của một xã
hội hiện đại. Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển về mọi mặt. Song
song với việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng chăm lo xây dựng một
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống pháp
luật bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân.
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quyền quan
trọng của công dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc Hiến định được ghi
nhận trong tất cả các bản Hiến pháp đã ban hành của nước ta. Đồng thời đây
cũng là một nguyên tắc đặc thù của luật Tố tụng hình sự (TTHS).Việc thực hiện
nguyên tắc này trên thực tế đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; giúp cơ quan điều tra
(CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và Toà án giải quyết vụ án một cách khách quan,
toàn diện và đầy đủ.
Tuy nhiên, thực tiễn TTHS cho thấy, việc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được thực hiện một cách đầy đủ, nhiều cơ
quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT và những người tham gia tố tụng
vẫn còn xem nhẹ nguyên tắc này. Tình trạng bắt, giam giữ, xét xử oan sai vẫn
còn tồn tại trên thực tế tố tụng. Mặt khác, vấn đề lý luận của nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa: khái niệm, chủ thể, nội dung của quyền bào chữa; khái niệm
nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo... vẫn
cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ.
Đề tài: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo” là một đề tài mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc; đây cũng là đề
tài gây cho em nhiều hứng thú nghiên cứu và tìm hiểu trong quá trình học tập tại
trường. Mục đích nghiên cứu của em khi lựa chọn đề tài này là: Nghiên cứu
1

ghi nhận, được coi là nguyên tắc Hiến pháp và được cụ thể hoá trong những quy
định của Bộ luật TTHS. Tính đến nay, Nhà nước ta đã ban hành bốn bản Hiến
pháp và trong tất cả các bản Hiến pháp đó đều ghi nhận nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa trong TTHS.
Quyền bào chữa là một chế định quan trọng của luật TTHS nhưng khái
niệm, chủ thể, nội dung của quyền bào chữa vẫn còn là những vấn đề gây tranh
cãi giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như những cán bộ làm công tác áp dụng
pháp luật.
Quan điểm thứ nhất là quan điểm trong luật TTHS một số nước thuộc hệ
thống pháp luật Common Law: TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ án
hình sự được chuyển sang Toà án và quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo.
Quan điểm thứ hai cho rằng: quyền bào chữa thuộc về bị can, bị cáo
(1)
.
Quan điểm thứ ba cho rằng: trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũng
như những công dân tham gia trong tố tụng với tư cách khác trong đó có cả
(1)
Bộ Tư pháp-Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa-Nxb. Tư pháp,
H.2006, tr. 33.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người bị hại đều cần có sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm phạm. Như vậy, theo
tác giả thì quyền bào chữa có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội.
Cùng quan điểm như vậy, một số tác giả khác cũng cho rằng: “ Không chỉ có bị
cáo mà người bị hại cũng cần đến việc bào chữa. Nhân chứng, giám định viên và
những người khác cũng vậy nếu quyền lợi của họ bị xâm hại”
(2)
.
Quan điểm thứ tư: quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố
tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù

(Bản dịch Tiếng Việt).
(3)
VKSNDTC-Viện khoa học Kiểm sát, Dự án VIE/95/018, Bộ luật TTHS Nhật Bản (Bản dịch
Tiếng Việt).
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả
tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và
đối với họ đã có quyết định tạm giữ. (khoản 1 Điều 48 Bộ luật TTHS năm
2003).
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. (khoản 1 Điều 49 Bộ luật TTHS năm
2003).
Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. (khoản 1 Điều 50
Bộ luật TTHS năm 2003).
Trong các xã hội công dân, đặc biệt là trong xã hội XHCN, người công
dân được hưởng những quyền và lợi ích hết sức rộng lớn, Hiến pháp và pháp
luật ghi nhận và bảo đảm cho việc thực hiện các quyền này. Điều 71 Hiến pháp
nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hội về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm…Nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của công dân”.
Quyền bào chữa là một trong rất nhiều quyền của công dân, là bộ phận hợp
thành của quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. “Bào chữa là hành vi của
một người đưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc
làm giảm lỗi của mình”. Vì vậy, quyền bào chữa chỉ thuộc về người nào bị coi là
có lỗi bao gồm cả lỗi kỷ luật, lỗi hành chính, lỗi dân sự, lỗi hình sự. Quyền bào
chữa với ý nghĩa là khái niệm chung bao hàm cả quyền bào chữa của người bị
coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ luật, quyền bào chữa của bị đơn dân sự (trong tố
tụng Dân sự) và quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hình sự (quyền bào
chữa trong TTHS).

giảm lỗi của mình (lỗi hình sự). Ngoài những chủ thể trên, những người khác –
không chịu sự buộc tội thì không có quyền bào chữa, để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình họ có thể sử dụng những quyền năng khác được pháp luật
quy định và bảo đảm thực hiện.
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về quyền bào chữa
trong TTHS như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng
do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định
của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan
THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án
hình sự”.
Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo có thể được xác định như sau: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quy định của luật TTHS trong đó xác
(2)
Phạm Hồng Hải, Sđd, tr.26.
(3)
M.X.Xtrôgôvich, Giáo trình luật TTHS Xô Viết, Nxb. Khoa học, M. 1968, t. 1, tr.196.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa và nhờ người khác
bào chữa đồng thời quy định các cơ quan THTT có nhiệm vụ bảo đảm cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của
pháp luật”.
2. Cơ sở của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo
2.1. Cơ sở lý luận
Ý thức về nhân quyền và việc thực hiện nhân quyền có một quá trình lịch
sử lâu dài gắn với lịch sử xã hội loài người và giải phóng con người qua các
hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp qua đó quyền con
người trở thành giá trị chung của nhân loại. Xuất phát từ con người là một thực

qua Điều 50 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: “Ở nước Cộng
hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và
xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến
pháp và luật”.
Quyền con người, quyền công dân được chia thành các nhóm chính sau :
+ Các quyền tự do, dân chủ về chính trị: tham gia quản lý Nhà nước, bầu
cử, bình đẳng nam nữ…
+ Các quyền về kinh tế - xã hội: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh,
quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền thừa kế…
+ Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân): quyền được pháp luật bảo hộ
về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo…
(1)
Các quyền con người đã trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hoá
khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bản Tuyên ngôn về nhân quyền
ngày 10/12/1948. Khoản 1 Điều 11 tuyên ngôn này khẳng định: “Bị cáo về một
tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp
trong một phiên toà xét xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền
biện hộ”
(2)
.
Như vậy trước khi có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật, người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn chưa bị coi là người có tội, họ vẫn là những công
1()
Trần Ngọc Đường, Bàn về quyền con người quyền công dân, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.
2004.
(2)
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948).
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dân, những con người, chỉ khác là họ đang chịu sự buộc tội và phải chịu những

Website: Email : Tel : 0918.775.368
động TTHS. Nghiêm trọng hơn, chúng là những cản trở cho quá trình xác định
chân lý khách quan của vụ án và thực hiện mục đích của TTHS như đã nêu trong
Điều 1 của Bộ luật TTHS nước ta.
Chúng ta chắc hẳn đã ít nhiều nghe về “ Vụ án Vườn Điều” - một vụ án
kéo dài vào loại nhất nhì trong lịch sử tố tụng, hơn 12 năm, qua 4 lần xét xử, đến
nay chấm dứt bằng quyết định đình chỉ điều tra vào tháng 12/2006. Năm 1993, từ
phát hiện của người dân, CQĐT Công an Bình Thuận phát hiện nạn nhân nằm
chết tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng là bà Dương Thị Mỹ. Công an Bình Thuận
đã ra quyết định khởi tố vụ án nhưng sau đó phải đình chỉ điều tra vì không tìm
được thủ phạm. Năm năm sau, cũng tại địa phương trên lại xảy ra 1 vụ giết, cướp.
Hung thủ trong vụ án Công an Bình Thuận bắt được là Huỳnh Văn Nén (sinh
1962, người địa phương). Qua quá trình tạm giam Nén và điều tra vụ án này xuất
hiện nhiều chi tiết cho thấy Nén có biết vụ án tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng
trước đó. Từ lời khai của Nén, Công an Bình Thuận đã phục hồi điều tra vụ án
giết bà Mỹ tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng, đồng thời đưa ra một kết luận khá
tròn trịa. Hung thủ được CQĐT xác định là một tập thể gồm 9 người, đều là
người nhà phía vợ ông Trần Văn Sáng - người tình của nạn nhân. Vụ án đã từng
được đưa ra xét xử phúc thẩm tới lần thứ 2, và tại phiên toà này, đồng loạt các bị
cáo đều phản cung và chối tội. Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh Vân cho biết đã
được ĐTV dạy cho 1 tháng mới có các thông tin để khai trong băng video. Còn bị
cáo Lâm cho biết CQĐT đã quay 7 cuộn băng và bắt bị cáo khai đi khai lại nhiều
lần để chọn được cuộn băng hoàn chỉnh nhất. Bị cáo Lâm khi phản cung cũng
khẳng định rằng, mình nhận tội trước đây là do ĐTV đã đánh gãy răng bị cáo và
hứa hẹn với bị cáo: “Bà già rồi, không ai bắt bà làm gì, nếu bà khai ra sẽ được
tha”…
(1)
Rõ ràng việc không tôn trọng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như trên mà vụ án đã rơi vào bế tắc, gây ảnh
1(1)

Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là biểu hiện của tính dân chủ XHCN trong hoạt động TTHS.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã
tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có cơ hội đưa ra những
chứng cứ minh oan hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình, cơ hội được tranh tụng bình
đẳng trước Toà án.
Thứ tư, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, củng cố
lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ thống Tư pháp hình sự.
Thứ năm, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo
đảm trong quá trình tố tụng không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội,
bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
4. Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam
Theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu thì quyền bào chữa xuất hiện
sớm nhất ở Châu Âu cùng với sự xuất hiện của Toà án và người biện hộ xuất
hiện cùng Thẩm phán. Trong Nhà nước Hy Lạp cổ, khi mà tổ chức Toà án đã
hình thành, bị cáo được nhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Toà án.
Vào giai đoạn đầu của nền Cộng hoà thứ IV trước Công nguyên, chế độ bào
chữa bắt đầu phát triển. Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho
bạn bè, người thân bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách
độc đoán. Nó xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên được nhân dân
nhiệt tình ủng hộ.
(1)
Trong lịch sử, pháp luật thừa nhận nhiều cách bào chữa khác nhau, nhưng ở các
chế độ xã hội và kiểu nhà nước khác nhau, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của
lịch sử do quan điểm giai cấp không giống nhau, quyền bào chữa cũng được quan niệm

biệt là bộ Quốc triều Hình luật đã ghi nhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ về việc
bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người phạm tội, cho phép họ tự bào chữa và
bảo đảm việc tranh biện kỹ lưỡng. Điều 691 Bộ luật Hồng Đức quy định:
“Những án xét rồi mà còn nghi ngờ thì chuyển qua quan viện thẩm hình, hội
đồng nghị xét, hỏi tội phạm nhân đến khi họ nhận tội, nếu họ không chịu nhận
tội thì cho phép họ tự bào chữa rồi xét lại kỹ càng…”. Điều 670 còn quy định:
“Các quan xét án, phải theo tờ cáo trạng mà xét hỏi, nếu ra ngoài tờ cáo trạng,
tìm việc khác để buộc tội người, thì xử là cố ý bắt tội người”
(2)
.
(2)
Vũ Đức Khiển, Phạm Xuân Chiến, Họ vẫn chưa bị coi là có tội, Nxb. Pháp lý, H.1989, tr. 50.
1 (1)
Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội,
H.1968, t.1, tr.36; Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hoà, Lịch sử các chế định chính trị và pháp
quyền Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1997, t.1, tr.32
(
2)
Quốc triều Hình luật (Luật Hình triều Lê), Nxb. Pháp lý, H.1991
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phải nói rằng, những điểm mới, tiến bộ nêu trên đã đi trước hàng thế kỷ
so với các nguyên tắc nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789.
4.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS Việt Nam từ sau
Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu
lực thi hành
Trước bối cảnh thế giới thuận lợi, cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thành công và Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân và

cách được phép ra lệnh bắt những người xét ra lời nói hay việc làm có thể làm
hại cho sự đấu tranh giành độc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của công
chúng và cho sự đoàn kết của quốc gia, để đem trừng trị trong những trại giam
đặc biệt”. Đối với những người này sẽ có “nghị định giam”. Và trong 15 ngày,
họ (đương sự) có thể nộp đơn “kháng nghị nghị định giam” để hội đồng phúc
thẩm giải quyết. Điều thứ 11 Sắc lệnh 40 quy định : “Hội đồng phúc thẩm sẽ báo
ngay cho đương sự biết ngày hội đồng sẽ xét đơn kháng nghị. Người đó có
quyền gửi bài trần tình hoặc nhờ vợ hay chồng, ông bà con cháu, anh em ruột,
chú bác cô dì, anh em thúc bá hay luật sư đại diện bào chữa cho mình”.
Ngày 23/08/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc tổ chức
Toà án binh lâm thời đặt tại Hà Nội. Điều thứ 10 Sắc lệnh này quy định: “Bị can
có thể tự bênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa cho.
Đối với những tội có thể phạt trên 5 năm tù mà bị can không có luật sư bào chữa
cho thì Toà sẽ yêu cầu hội đồng luật sư chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn”.
Như vậy, pháp luật TTHS của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám đã là
vũ khí, là cơ sở pháp lý để bảo vệ và củng cố các quyền của công dân trong đó
có quyền bào chữa trước Toà án. Có thể thấy rằng, dù chưa rõ ràng và được quy
định ở các văn bản pháp luật khác nhau nhưng qua các quy định đã dẫn ở trên,
bước đầu quyền bào chữa đã được xác định bao hàm quyền tự bào chữa, quyền
nhờ người khác bào chữa, và một số trường hợp đã được chỉ định người bào
chữa; người bị bắt giam cũng được quy định là có quyền bào chữa. Tuy nhiên,
bảo đảm quyền bào chữa chưa được quy định như là một nguyên tắc của luật
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
TTHS Việt Nam; việc nhờ người khác bào chữa mới chỉ được quy định cho một
số bị cáo; khái niệm bị can, bị cáo chưa được làm rõ và chưa được sử dụng một
cách thống nhất trong các văn bản pháp luật; các trường hợp được chỉ định
người bào chữa mới bước đầu được đề cập, các quy định chưa cụ thể và việc chỉ
định luật sư bào chữa xem ra phụ thuộc nhiều vào ý kiến của Toà án.
Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh những

- Hạnh kiểm tốt và chưa can án.
Khi được phép tham gia tố tụng (bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được chuyển
sang Toà án), bào chữa viên nhân dân cũng có địa vị pháp lý như luật sư.
Khoản 1, Điều 4 Nghị định trên còn quy định: “Người bào chữa được cử
ra hoặc thừa nhận để bào chữa có quyền đến phòng lục sự xem xét và chép hồ
sơ”.
Việc thừa nhận, khi tham gia tố tụng, bào chữa viên nhân dân có địa vị
pháp lý như luật sư là một trong những điểm mới, tiến bộ nhằm thu hút quần
chúng nhân dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là
xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của bị cáo.
Năm 1956, khi cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, thì ngày 20/06/1956 một văn bản quan trọng đã được thông qua tại hội nghị
tư pháp toàn quốc. Đó là “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo”. Đặc biệt trong đề
án đã ghi nhận các quyền cụ thể của người bào chữa khi tham gia tố tụng: người
bào chữa có thể bắt đầu công tác từ khi mở cuộc thẩm cứu; được có mặt cùng với
bị cáo trong các cuộc hỏi cung; được yêu cầu điều tra thêm nếu chứng cứ không
đầy đủ, không rõ ràng; sau khi công bố việc luận tội, người bào chữa được trình
bày lời bào chữa của mình, đề ra những điểm không đồng ý với công tố viện và
biện bác, xuất phát từ quan điểm bảo vệ pháp luật, chính sách và quyền lợi của bị
can; được chống án thay cho bị can nếu bị can yêu cầu hoặc được sự đồng ý của
bị can; có quyền tiếp tục bênh vực cho bị can tại Toà án cấp trên…So với các văn
bản trước đây, “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo” đã quy định tương đối cụ
thể quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho bị cáo thực
hiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặt khác, để tạo điều kiện cho bị cáo có đủ thời gian chuẩn bị bào chữa
tại phiên toà, ngày 24/10/1956 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 2225/HCCP
trong đó quy định “việc giao bản cáo trạng cho bị cáo chậm nhất là 3 ngày trước

Ngoài những hướng dẫn cụ thể trên, Thông tư 06 còn hướng dẫn việc thực
hiện chế độ bào chữa chữa viên nhân dân: danh sách bào chữa viên nhân dân do
các đoàn thể nhân dân giới thiệu. Đây là những người có trình độ chính trị khá,
có khả năng làm công tác bào chữa, có nhiệt tình và điều kiện thiết thực và có tư
cách đạo đức tốt. Điểm đáng chú ý là, mặc dù đã có danh sách những người bào
chữa nhưng bị cáo vẫn có thể yêu cầu Toà án chấp nhận một công dân không có
tên trong danh sách bào chữa cho mình. Toà án có thể chấp nhận hoặc không
chấp nhận người được bị cáo cử ra để bào chữa; Thông tư 06 cũng đã có quy
định về các trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo.
Ngày 27/08/1974, TAND tối cao đã ban hành Thông tư số 16-TATC, bản
hướng dẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ban hành kèm theo Thông tư này
khẳng định: quyền bào chữa là quyền của bị cáo nên Toà án phải bảo đảm cho
họ thực hiện đầy đủ quyền đó và phải nghiên cứu những lời bào chữa của bị cáo
một cách khách quan. Theo Thông tư 16-TATC thì thời gian giao bản cáo trạng
cho bị cáo không chỉ là “3 ngày trước khi mở phiên toà” như văn bản trước đây,
mà là “chậm nhất là 5 ngày trước khi xét xử, bị cáo phải nhận được bản cáo
trạng”. Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể hơn những trường hợp TAND phải chỉ
định người bào chữa cho bị cáo, đó là các trường hợp: bị cáo có thể bị phạt tù
chung thân hoặc tử hình; bị cáo là vị thành niên hoặc người có nhược điểm về
thể chất (ví dụ: mù, câm, điếc) hoặc về tinh thần (ví dụ: có bệnh động kinh, hoặc
trước khi phạm pháp đã bị điên nhưng đã chữa khỏi…); vụ án có tính chất
nghiêm trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến dư luận của nhân dân.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư pháp của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có Thông tư số 06 ngày
11/06/1976 về việc thực hiện chế độ bào chữa ở miền Nam.
Hiến pháp 1980 ra đời, tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo tại
Điều 133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, tổ chức luật sư được
thành lập để giúp bị cáo và các đương sự về mặt pháp lý”
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368

20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhờ người khác bào chữa. CQĐT,… Bộ luật TTHS năm 1988 xác định không
chỉ có bị cáo mà bị can cũng có quyền bào chữa; Bộ luật cũng đã phân biệt rõ
khái niệm bị can, bị cáo, theo đó: “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. Bị
cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử” (khoản 1, Điều 34). Đồng
thời, tại khoản 2 Điều 34, nhà làm luật khẳng định lại một lần nữa: “bị can, bị
cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”. Như vậy,
nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong Bộ luật TTHS năm 1988 đã thể hiện
rõ 3 nội dung: thứ nhất, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa; thứ hai, bị can, bị
cáo có quyền nhờ người khác bào chữa; thứ ba, CQĐT, VKS và Toà án có
nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tiếp tục được khẳng định tại Điều
132 Hiến pháp 1992: “quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể
tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được
thành lập để giúp đỡ bị cáo…”.
Từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ luật TTHS năm 1988 đã qua 3 lần sửa đổi
bổ sung vào các năm 1989, 1992, và năm 2000. Các lần sửa đổi bổ sung này
nhằm làm cho Bộ luật TTHS phù hợp hơn với Hiến pháp 1992 và tiến trình phát
triển của xã hội, tuy nhiên nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tại điều
12 của Bộ luật vẫn không thay đổi.
Bảo đảm quyền bào chữa cũng được ghi nhận trong Điều 9 Luật tổ chức
TAND năm 1992 và năm 2002 với nội dung: “Toà án bảo đảm quyền bào chữa
của bị cáo”.
Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thay thế cho Pháp lệnh Luật sư 1987 là một
đảm bảo pháp lý, góp phần quan trọng cho nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo được thực hiện trên thực tế.
4.3. Giai đoạn từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến nay
Qua gần 15 năm thi hành với 3 lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật TTHS năm
1988 đã là một trong những căn cứ pháp lý giúp CQĐT, VKS, Toà án tiến hành

đảm quyền bào chữa ở nước ta.
Qua nghiên cứu một số khái niệm về quyền bào chữa, lịch sử hình thành
và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo trong luật TTHS có thể rút ra một số nhận xét:
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đã được ghi nhận trong các điều
ước quốc tế và trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hoá. Quy định nguyên
tắc bảo đảm quyền bào chữa là một sự tất yếu thể hiện xu thế của thời đại.
2. Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng không thể
thiếu được của pháp luật TTHS Việt Nam. Mặc dù quyền bào chữa ngày nay
được quy định và thừa nhận trong pháp luật của các nước trên thế giới nhưng
xung quanh khái niệm và nội dung của nó còn nhiều ý kiến khác nhau cần được
xem xét và làm rõ từ góc độ lý luận và thực tiễn.
3. Quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - những
người bị buộc tội với nội dung đưa ra những chứng cứ, tình tiết chứng minh cho
sự không có tội hoặc làm giảm nhẹ tội của mình, những người khác tham gia TTHS
không có quyền bào chữa.
4. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo được quy định xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người và
những quyền cơ bản của công dân. Đồng thời, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo
đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn giúp các cơ quan
THTT xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp TTHS được tiến hành
đúng mục đích xét xử công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội.
5. Quyền bào chữa ở Việt Nam có tính ổn định và tính hoàn cảnh lịch sử.
Tính ổn định thể hiện: nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được ghi nhận trong
tất cả các bản Hiến pháp của nước ta. Tính hoàn cảnh lịch sử thể hiện ở những
đảm bảo pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc bảo đảm
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can bị cáo được tính toán, cân nhắc phù

1.1.1. Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ
- Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ.
Để bảo đảm cho người bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình,
pháp luật quy định: “Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm
giữ” (điểm a, khoản 2 Điều 48), ngay từ lúc bị bắt, họ được nghe đọc biên bản
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bắt người và có quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ghi ý
kiến xác nhận. Lý do tạm giữ được ghi trong quyết định tạm giữ và khi có quyết
định này người bị tạm giữ được giao một bản. Lý do tạm giữ này cũng được bảo
đảm về tính cần thiết và có căn cứ pháp luật khi pháp luật quy định trong thời
hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ được gửi cho
VKS cùng cấp. Nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì
VKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ
phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
- Người bị tạm giữ có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Không phải người nào khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữ
đều có những hiểu biết về pháp luật nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của
mình trong TTHS nói riêng. Giải thích quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể và cặn
kẽ cho người bị tạm giữ biết sẽ khiến họ yên tâm hơn, tin tưởng vào pháp luật và
có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để
đảm bảo quyền này cho người bị tạm giữ, pháp luật quy định, người thi hành
quyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị tạm giữ theo
quy định tại điều 48 Bộ luật TTHS.
- Người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai.
Trong lời khai trước CQĐT, người bị tạm giữ trình bày về những tình tiết
liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm. Cơ quan ra quyết định tạm giữ
có trách nhiệm lập biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ. Lời khai của
người bị tạm giữ chỉ được coi là một loại nguồn chứng cứ trong TTHS khi nó
được thể hiện hợp pháp với biên bản kèm theo. Biên bản ghi lời khai của người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status