nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - Pdf 26

Mai Thu Thuỷ
-
HS28D
- 1 -
Khoá luận tốt nghiệp
Lời mở đầu
Con ngi l vn quý ca t nhiờn v ca xó hi. Bo v quyn con ngi l
mc tiờu ca cỏc thit ch Nh nc dõn ch v tin b. Bo m thc hin cú hiu
qu quyn cụng dõn l tiờu chớ ỏnh giỏ s vn minh, tin b ca mt xó hi hin i.
Ngy nay, t nc ta ang trờn phỏt trin v mi mt. Song song vi vic phỏt
trin kinh t, ng v Nh nc cng chm lo xõy dng mt Nh nc phỏp quyn
ca dõn, do dõn v vỡ dõn, xõy dng mt h thng phỏp lut bo m cho vic phỏt
trin cỏc quyn t do dõn ch ca cụng dõn.
Quyn bo cha ca ngi b tm gi, b can, b cỏo l mt quyn quan trng ca
cụng dõn khi tham gia t tng vi t cỏch l ngi b tm gi, b can, b cỏo. Nguyờn
tc bo m quyn bo cha l nguyờn tc Hin nh c ghi nhn trong tt c cỏc
bn Hin phỏp ó ban hnh ca nc ta. ng thi õy cng l mt nguyờn tc c
thự ca lut T tng hỡnh s (TTHS).Vic thc hin nguyờn tc ny trờn thc t ó
gúp phn khụng nh vo vic bo v cỏc quyn v li ớch hp phỏp ca ngi b tm
gi, b can, b cỏo; giỳp c quan iu tra (CQT), Vin kim sỏt (VKS) v To ỏn
gii quyt v ỏn mt cỏch khỏch quan, ton din v y .
Tuy nhiờn, thc tin TTHS cho thy, vic bo m quyn bo cha ca ngi b
tm gi, b can, b cỏo cha c thc hin mt cỏch y , nhiu c quan tin hnh
t tng (THTT), ngi THTT v nhng ngi tham gia t tng vn cũn xem nh
nguyờn tc ny. Tỡnh trng bt, giam gi, xột x oan sai vn cũn tn ti trờn thc t t
tng. Mt khỏc, vn lý lun ca nguyờn tc bo m quyn bo cha: khỏi nim,
ch th, ni dung ca quyn bo cha; khỏi nim nguyờn tc bo m quyn bo cha
ca ngi b tm gi, b can, b cỏo... vn cn c nghiờn cu v lm sỏng t.
ti: nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b can, b cỏo
l mt ti mang tớnh lý lun v thc tin sõu sc; õy cng l ti gõy cho em
nhiu hng thỳ nghiờn cu v tỡm hiu trong quỏ trỡnh hc tp ti trng. Mc ớch

Lch s xó hi loi ngi l lch s ca cỏc cuc u tranh ginh cỏc quyn dõn
ch v tin b. Cỏc quyn t do, dõn ch m con ngi cú c ngy nay l kt qu
ca quỏ trỡnh u tranh lõu di, bn b ca nhng lc lng tin b chng li nhng
th lc c ti, phn dõn ch trờn th gii. Mt trong nhng quyn dõn ch m con
ngi ginh c trong cỏc cuc u tranh ny l quyn bo cha. tt c cỏc nc
tin b trờn th gii, quyn bo cha u ó c ghi nhn, c coi l nguyờn tc
Hin phỏp v c c th hoỏ trong nhng quy nh ca B lut TTHS. Tớnh n nay,
Nh nc ta ó ban hnh bn bn Hin phỏp v trong tt c cỏc bn Hin phỏp ú u
ghi nhn nguyờn tc bo m quyn bo cha trong TTHS.
Quyn bo cha l mt ch nh quan trng ca lut TTHS nhng khỏi nim, ch
th, ni dung ca quyn bo cha vn cũn l nhng vn gõy tranh cói gia cỏc nh
khoa hc phỏp lý cng nh nhng cỏn b lm cụng tỏc ỏp dng phỏp lut.
Quan im th nht l quan im trong lut TTHS mt s nc thuc h thng
phỏp lut Common Law: TTHS c coi l bt u t thi im v ỏn hỡnh s c
chuyn sang To ỏn v quyn bo cha ch thuc v b cỏo.
Quan im th hai cho rng: quyn bo cha thuc v b can, b cỏo
(1)
.
Quan im th ba cho rng: trong TTHS, b can, ngi b tỡnh nghi cng nh
nhng cụng dõn tham gia trong t tng vi t cỏch khỏc trong ú cú c ngi b hi
u cn cú s bo v cỏc li ớch cú th b xõm phm. Nh vy, theo tỏc gi thỡ quyn
bo cha cú c trong trng hp m ú khụng cú s buc ti. Cựng quan im nh
vy, mt s tỏc gi khỏc cng cho rng: Khụng ch cú b cỏo m ngi b hi cng
cn n vic bo cha. Nhõn chng, giỏm nh viờn v nhng ngi khỏc cng vy
nu quyn li ca h b xõm hi
(2)
.
Quan im th t: quyn bo cha trong TTHS l tng ho cỏc hnh vi t tng do
ngi b tm gi, b can, b cỏo, ngi b kt ỏn thc hin trờn c s phự hp vi quy
(1)

niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,
người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ
đã có quyết định tạm giữ. (khoản 1 Điều 48 Bộ luật TTHS năm 2003).
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. (khoản 1 Điều 49 Bộ luật TTHS năm 2003).
Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. (khoản 1 Điều 50 Bộ luật
TTHS năm 2003).
Trong các xã hội công dân, đặc biệt là trong xã hội XHCN, người công dân được
hưởng những quyền và lợi ích hết sức rộng lớn, Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và
bảo đảm cho việc thực hiện các quyền này. Điều 71 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN
Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hội về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm…Nghiêm cấm mọi hình
thức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.
Quyền bào chữa là một trong rất nhiều quyền của công dân, là bộ phận hợp thành
của quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. “Bào chữa là hành vi của một người
đưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làm giảm lỗi của
(1)
Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb. Công an nhân dân,
H.1999, tr.29, 30.
(2)
VKSNDTC-Viện khoa học Kiểm sát, Dự án VIE/95/018, Bộ luật TTHS Liên bang Nga 1999
(Bản dịch Tiếng Việt).
(3)
VKSNDTC-Viện khoa học Kiểm sát, Dự án VIE/95/018, Bộ luật TTHS Nhật Bản (Bản dịch
Tiếng Việt).
Mai Thu Thuû
-
HS28D
- 5 -
Kho¸ luËn tèt nghiÖp

hình sự). Ngoài những chủ thể trên, những người khác – không chịu sự buộc tội thì
không có quyền bào chữa, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình họ có thể sử
dụng những quyền năng khác được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện.
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về quyền bào chữa trong
TTHS như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật
nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm
nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”.
(1)
Phạm Hồng Hải, Sđd, tr.23.
(2)
Phạm Hồng Hải, Sđd, tr.26.
(3)
M.X.Xtrôgôvich, Giáo trình luật TTHS Xô Viết, Nxb. Khoa học, M. 1968, t. 1, tr.196.
Mai Thu Thuỷ
-
HS28D
- 6 -
Khoá luận tốt nghiệp
Khỏi nim nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b can, b
cỏo cú th c xỏc nh nh sau: Nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b
tm gi, b can, b cỏo l mt quy nh ca lut TTHS trong ú xỏc nh ngi b tm
gi, b can, b cỏo cú quyn t bo cha v nh ngi khỏc bo cha ng thi quy
nh cỏc c quan THTT cú nhim v bo m cho ngi b tm gi, b can, b cỏo
thc hin quyn bo cha ca h theo quy nh ca phỏp lut.
1.2. C s ca nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi,
b can, b cỏo
1.2.1. C s lý lun
í thc v nhõn quyn v vic thc hin nhõn quyn cú mt quỏ trỡnh lch s lõu
di gn vi lch s xó hi loi ngi v gii phúng con ngi qua cỏc hỡnh thỏi kinh t

ngi, cỏc quyn con ngi cng tip tc phỏt trin.
Trong mi quc gia, quyn cụng dõn l mt ni dung c bn ca quyn con ngi, l
s th hin c th ca quyn con ngi. Chỳng ta cú th thy rừ iu ny qua iu 50 Hin
phỏp 1992 ca nc Cng ho XHCN Vit Nam: nc Cng ho XHCN Vit Nam,
cỏc quyn con ngi v chớnh tr, dõn s, kinh t, vn hoỏ v xó hi c tụn trng, th
hin cỏc quyn cụng dõn v c quy nh trong Hin phỏp v lut.
Quyn con ngi, quyn cụng dõn c chia thnh cỏc nhúm chớnh sau :
+ Cỏc quyn t do, dõn ch v chớnh tr: tham gia qun lý Nh nc, bu c,
bỡnh ng nam n
+ Cỏc quyn v kinh t - xó hi: quyn lao ng, quyn t do kinh doanh, quyn
s hu ti sn hp phỏp, quyn tha k
+ Cỏc quyn dõn s (quyn t do cỏ nhõn): quyn c phỏp lut bo h v tớnh
mng, sc khe, danh d, nhõn phm, quyn khiu ni, t cỏo
(1)
Cỏc quyn con ngi ó tr thnh mt giỏ tr phỏp lý c quc t hoỏ khi i
hi ng Liờn Hp Quc thụng qua bn Tuyờn ngụn v nhõn quyn ngy 10/12/1948.
Khon 1 iu 11 tuyờn ngụn ny khng nh: B cỏo v mt ti hỡnh s c suy
oỏn l vụ ti cho n khi cú bng chng phm phỏp trong mt phiờn to xột x
cụng khai vi y bo m cn thit cho quyn bin h
(2)
.
Nh vy trc khi cú bn ỏn kt ti ca To ỏn cú hiu lc phỏp lut, ngi b tm
gi, b can, b cỏo vn cha b coi l ngi cú ti, h vn l nhng cụng dõn, nhng con
ngi, ch khỏc l h ang chu s buc ti v phi chu nhng bin phỏp t tng.
Nhng bin phỏp t tng c tin hnh i vi h cú th hn ch quyn t do hay
ng chm n quyn bt kh xõm phm v thõn th, quyn c phỏp lut bo h v
danh d, nhõn phm - nhng ni dung c bn ca quyn con ngi. m bo cỏc
bin phỏp ú c tin hnh mt cỏch cn thit v hp phỏp trỏnh c s c oỏn
mt chiu t phớa cỏc c quan THTT, phỏp lut ó quy nh ngi b tm gi, b can, b
cỏo cú quyn bo cha v c ch bo m quyn bo cha c thc hin.

giảm hiệu quả của hoạt động TTHS. Nghiêm trọng hơn, chúng là những cản trở cho
quá trình xác định chân lý khách quan của vụ án và thực hiện mục đích của TTHS như
đã nêu trong Điều 1 của Bộ luật TTHS nước ta.
Chúng ta chắc hẳn đã ít nhiều nghe về “ Vụ án Vườn Điều” - một vụ án kéo dài
vào loại nhất nhì trong lịch sử tố tụng, hơn 12 năm, qua 4 lần xét xử, đến nay chấm dứt
bằng quyết định đình chỉ điều tra vào tháng 12/2006. Năm 1993, từ phát hiện của người
dân, CQĐT Công an Bình Thuận phát hiện nạn nhân nằm chết tại vườn điều nhà ông
Hai Hoàng là bà Dương Thị Mỹ. Công an Bình Thuận đã ra quyết định khởi tố vụ án
nhưng sau đó phải đình chỉ điều tra vì không tìm được thủ phạm. Năm năm sau, cũng
tại địa phương trên lại xảy ra 1 vụ giết, cướp. Hung thủ trong vụ án Công an Bình
Thuận bắt được là Huỳnh Văn Nén (sinh 1962, người địa phương). Qua quá trình tạm
giam Nén và điều tra vụ án này xuất hiện nhiều chi tiết cho thấy Nén có biết vụ án tại
vườn điều nhà ông Hai Hoàng trước đó. Từ lời khai của Nén, Công an Bình Thuận đã
phục hồi điều tra vụ án giết bà Mỹ tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng, đồng thời đưa ra
một kết luận khá tròn trịa. Hung thủ được CQĐT xác định là một tập thể gồm 9 người,
đều là người nhà phía vợ ông Trần Văn Sáng - người tình của nạn nhân. Vụ án đã từng
được đưa ra xét xử phúc thẩm tới lần thứ 2, và tại phiên toà này, đồng loạt các bị cáo
đều phản cung và chối tội. Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh Vân cho biết đã được ĐTV
Mai Thu Thuû
-
HS28D
- 9 -
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
dạy cho 1 tháng mới có các thông tin để khai trong băng video. Còn bị cáo Lâm cho
biết CQĐT đã quay 7 cuộn băng và bắt bị cáo khai đi khai lại nhiều lần để chọn được
cuộn băng hoàn chỉnh nhất. Bị cáo Lâm khi phản cung cũng khẳng định rằng, mình
nhận tội trước đây là do ĐTV đã đánh gãy răng bị cáo và hứa hẹn với bị cáo: “Bà già
rồi, không ai bắt bà làm gì, nếu bà khai ra sẽ được tha”…
(1)
Rõ ràng việc không tôn trọng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị

-
HS28D
- 10 -
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b can, b cỏo ó to
iu kin thun li cho ngi b tm gi, b can, b cỏo cú c hi a ra nhng chng c
minh oan hoc lm gim nh ti cho mỡnh, c hi c tranh tng bỡnh ng trc To
ỏn.
Th t, thc hin nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b
can, b cỏo gúp phn tớch cc vo vic bo v phỏp ch XHCN, cng c lũng tin ca
qun chỳng nhõn dõn vo hot ng ca h thng T phỏp hỡnh s.
Th nm, thc hin nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b
can, b cỏo gúp phn vo vic xỏc nh s tht khỏch quan ca v ỏn, bo m trong
quỏ trỡnh t tng khụng lt ti phm, khụng lm oan ngi vụ ti, bo m iu
tra, truy t, xột x ỳng ngi, ỳng ti, ỳng phỏp lut.
1.4. Lch s hỡnh thnh v phỏt trin ca nguyờn tc bo m quyn bo
cha ca ngi b tm gi, b can, b cỏo Vit Nam
Theo nhn xột ca mt s nh nghiờn cu thỡ quyn bo cha xut hin sm nht
Chõu u cựng vi s xut hin ca To ỏn v ngi bin h xut hin cựng Thm
phỏn. Trong Nh nc Hy Lp c, khi m t chc To ỏn ó hỡnh thnh, b cỏo c
nh ngi thõn thuc ca mỡnh bo cha trc To ỏn. Vo giai on u ca nn
Cng ho th IV trc Cụng nguyờn, ch bo cha bt u phỏt trin. Vic bo
cha xut phỏt t nhiờn nhm minh oan cho bn bố, ngi thõn b giai cp thng tr
bt giam vụ c v trng pht mt cỏch c oỏn. Nú xut phỏt t quyn li ca nhõn
dõn b ỏp bc nờn c nhõn dõn nhit tỡnh ng h.
(1)
Trong lch s, phỏp lut tha nhn nhiu cỏch bo cha khỏc nhau, nhng cỏc ch
xó hi v kiu nh nc khỏc nhau, trong mi giai on phỏt trin khỏc nhau ca lch s do
quan im giai cp khụng ging nhau, quyn bo cha cng c quan nim khỏc nhau.
Thu xa xa, khi mt ngi b tỡnh nghi l phm ti, h c bo cha bng

bảo vệ dân và bảo vệ sự công bằng”, ý chí của vua là luật cao nhất… Tuy nhiên, hệ
thống pháp luật thành văn thời phong kiến, đặc biệt là bộ Quốc triều Hình luật đã ghi
nhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ về việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người
phạm tội, cho phép họ tự bào chữa và bảo đảm việc tranh biện kỹ lưỡng. Điều 691 Bộ
luật Hồng Đức quy định: “Những án xét rồi mà còn nghi ngờ thì chuyển qua quan
viện thẩm hình, hội đồng nghị xét, hỏi tội phạm nhân đến khi họ nhận tội, nếu họ
không chịu nhận tội thì cho phép họ tự bào chữa rồi xét lại kỹ càng…”. Điều 670 còn
quy định: “Các quan xét án, phải theo tờ cáo trạng mà xét hỏi, nếu ra ngoài tờ cáo
trạng, tìm việc khác để buộc tội người, thì xử là cố ý bắt tội người”
(2)
.
Phải nói rằng, những điểm mới, tiến bộ nêu trên đã đi trước hàng thế kỷ so với
các nguyên tắc nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của Pháp 1789.
1.4.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS Việt Nam từ
sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu
lực thi hành
Trước bối cảnh thế giới thuận lợi, cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thành công và Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân và nông dân ở Đông
Nam Á được thành lập. Nhiệm vụ của Nhà nước non trẻ lúc này là củng cố chính
quyền, kịp thời ban hành pháp luật cách mạng làm vũ khí chống lại thù trong, giặc
ngoài, xây dựng xã hội mới. Mặc dù trong những ngày đầu khi cách mạng mới thành
công có biết bao nhiệm vụ cần giải quyết trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống các
loại tội phạm nhưng chính quyền dân chủ nhân dân vẫn rất quan tâm tới nhiệm vụ bảo
vệ các quyền dân chủ của công dân trong đó có quyền bào chữa trước Toà án.
Ngày 13/09/1945 tức là chỉ sau ngày khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được
thành lập đúng 11 ngày, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 33c về việc thiết lập các Toà
1 (1)
Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội,

độc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của công chúng và cho sự đoàn kết của
quốc gia, để đem trừng trị trong những trại giam đặc biệt”. Đối với những người này
sẽ có “nghị định giam”. Và trong 15 ngày, họ (đương sự) có thể nộp đơn “kháng nghị
nghị định giam” để hội đồng phúc thẩm giải quyết. Điều thứ 11 Sắc lệnh 40 quy định :
“Hội đồng phúc thẩm sẽ báo ngay cho đương sự biết ngày hội đồng sẽ xét đơn kháng
nghị. Người đó có quyền gửi bài trần tình hoặc nhờ vợ hay chồng, ông bà con cháu,
anh em ruột, chú bác cô dì, anh em thúc bá hay luật sư đại diện bào chữa cho mình”.
Ngày 23/08/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc tổ chức Toà
án binh lâm thời đặt tại Hà Nội. Điều thứ 10 Sắc lệnh này quy định: “Bị can có thể tự
bênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa cho. Đối với những
tội có thể phạt trên 5 năm tù mà bị can không có luật sư bào chữa cho thì Toà sẽ yêu
cầu hội đồng luật sư chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn”.
Như vậy, pháp luật TTHS của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám đã là vũ khí,
là cơ sở pháp lý để bảo vệ và củng cố các quyền của công dân trong đó có quyền bào
chữa trước Toà án. Có thể thấy rằng, dù chưa rõ ràng và được quy định ở các văn bản
Mai Thu Thuỷ
-
HS28D
- 13 -
Khoá luận tốt nghiệp
phỏp lut khỏc nhau nhng qua cỏc quy nh ó dn trờn, bc u quyn bo cha
ó c xỏc nh bao hm quyn t bo cha, quyn nh ngi khỏc bo cha, v
mt s trng hp ó c ch nh ngi bo cha; ngi b bt giam cng c
quy nh l cú quyn bo cha. Tuy nhiờn, bo m quyn bo cha cha c quy
nh nh l mt nguyờn tc ca lut TTHS Vit Nam; vic nh ngi khỏc bo cha
mi ch c quy nh cho mt s b cỏo; khỏi nim b can, b cỏo cha c lm rừ
v cha c s dng mt cỏch thng nht trong cỏc vn bn phỏp lut; cỏc trng
hp c ch nh ngi bo cha mi bc u c cp, cỏc quy nh cha c
th v vic ch nh lut s bo cha xem ra ph thuc nhiu vo ý kin ca To ỏn.
Song song vi vic ban hnh cỏc vn bn phỏp lut iu chnh nhng quan h

- Hạnh kiểm tốt và chưa can án.
Khi được phép tham gia tố tụng (bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được chuyển sang
Toà án), bào chữa viên nhân dân cũng có địa vị pháp lý như luật sư.
Khoản 1, Điều 4 Nghị định trên còn quy định: “Người bào chữa được cử ra hoặc
thừa nhận để bào chữa có quyền đến phòng lục sự xem xét và chép hồ sơ”.
Việc thừa nhận, khi tham gia tố tụng, bào chữa viên nhân dân có địa vị pháp lý
như luật sư là một trong những điểm mới, tiến bộ nhằm thu hút quần chúng nhân dân
tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là xác định sự thật khách
quan của vụ án cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.
Năm 1956, khi cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thì
ngày 20/06/1956 một văn bản quan trọng đã được thông qua tại hội nghị tư pháp toàn
quốc. Đó là “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo”. Đặc biệt trong đề án đã ghi nhận
các quyền cụ thể của người bào chữa khi tham gia tố tụng: người bào chữa có thể bắt
đầu công tác từ khi mở cuộc thẩm cứu; được có mặt cùng với bị cáo trong các cuộc hỏi
cung; được yêu cầu điều tra thêm nếu chứng cứ không đầy đủ, không rõ ràng; sau khi
công bố việc luận tội, người bào chữa được trình bày lời bào chữa của mình, đề ra
những điểm không đồng ý với công tố viện và biện bác, xuất phát từ quan điểm bảo vệ
pháp luật, chính sách và quyền lợi của bị can; được chống án thay cho bị can nếu bị can
yêu cầu hoặc được sự đồng ý của bị can; có quyền tiếp tục bênh vực cho bị can tại Toà
án cấp trên…So với các văn bản trước đây, “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo” đã
quy định tương đối cụ thể quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng nhằm bảo
đảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả.
Mặt khác, để tạo điều kiện cho bị cáo có đủ thời gian chuẩn bị bào chữa tại phiên
toà, ngày 24/10/1956 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 2225/HCCP trong đó quy
định “việc giao bản cáo trạng cho bị cáo chậm nhất là 3 ngày trước khi mở phiên toà”.
Đây là quy định rất cần thiết để bị cáo và người bào chữa của họ có thể nghiên cứu,
chuẩn bị trước những tình tiết, những chứng cứ có lợi khi tham gia phiên toà.
Hiến pháp 1959 ra đời, quyền bào chữa của bị cáo một lần nữa được ghi nhận tại
Điều 101 với nội dung : “quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”. Như vậy, nếu
Hiến pháp 1946 chỉ dừng lại ở việc quy định quyền bào chữa cho bị cáo thì Hiến pháp

cú th yờu cu To ỏn chp nhn mt cụng dõn khụng cú tờn trong danh sỏch bo cha
cho mỡnh. To ỏn cú th chp nhn hoc khụng chp nhn ngi c b cỏo c ra
bo cha; Thụng t 06 cng ó cú quy nh v cỏc trng hp phi ch nh ngi
bo cha cho b cỏo.
Ngy 27/08/1974, TAND ti cao ó ban hnh Thụng t s 16-TATC, bn hng
dn trỡnh t t tng s thm v hỡnh s ban hnh kốm theo Thụng t ny khng nh:
quyn bo cha l quyn ca b cỏo nờn To ỏn phi bo m cho h thc hin y
quyn ú v phi nghiờn cu nhng li bo cha ca b cỏo mt cỏch khỏch quan.
Theo Thụng t 16-TATC thỡ thi gian giao bn cỏo trng cho b cỏo khụng ch l 3
ngy trc khi m phiờn to nh vn bn trc õy, m l chm nht l 5 ngy
trc khi xột x, b cỏo phi nhn c bn cỏo trng. Thụng t cng hng dn c
th hn nhng trng hp TAND phi ch nh ngi bo cha cho b cỏo, ú l cỏc
trng hp: b cỏo cú th b pht tự chung thõn hoc t hỡnh; b cỏo l v thnh niờn
hoc ngi cú nhc im v th cht (vớ d: mự, cõm, ic) hoc v tinh thn (vớ d:
Mai Thu Thuû
-
HS28D
- 16 -
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
có bệnh động kinh, hoặc trước khi phạm pháp đã bị điên nhưng đã chữa khỏi…); vụ
án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến dư luận của nhân dân.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư pháp của Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có Thông tư số 06 ngày 11/06/1976 về
việc thực hiện chế độ bào chữa ở miền Nam.
Hiến pháp 1980 ra đời, tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo tại Điều
133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, tổ chức luật sư được thành lập để
giúp bị cáo và các đương sự về mặt pháp lý”
Sau khi Việt Nam thống nhất về mặt Nhà nước, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông
tư số 691/QLTA ngày 31/10/1983 về công tác bào chữa trong toàn quốc, trong đó xác
định đoàn bào chữa và bào chữa viên có trách nhiệm góp phần bảo vệ chân lý, bảo vệ

quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
CQĐT,… Bộ luật TTHS năm 1988 xác định không chỉ có bị cáo mà bị can cũng có
quyền bào chữa; Bộ luật cũng đã phân biệt rõ khái niệm bị can, bị cáo, theo đó: “bị
can là người đã bị khởi tố về hình sự. Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra
xét xử” (khoản 1, Điều 34). Đồng thời, tại khoản 2 Điều 34, nhà làm luật khẳng định
lại một lần nữa: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
cho mình”. Như vậy, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong Bộ luật TTHS năm
1988 đã thể hiện rõ 3 nội dung: thứ nhất, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa; thứ hai,
bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa; thứ ba, CQĐT, VKS và Toà án có
nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tiếp tục được khẳng định tại Điều 132 Hiến
pháp 1992: “quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc
nhờ người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp đỡ bị
cáo…”.
Từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ luật TTHS năm 1988 đã qua 3 lần sửa đổi bổ
sung vào các năm 1989, 1992, và năm 2000. Các lần sửa đổi bổ sung này nhằm làm
cho Bộ luật TTHS phù hợp hơn với Hiến pháp 1992 và tiến trình phát triển của xã hội,
tuy nhiên nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tại điều 12 của Bộ luật vẫn
không thay đổi.
Bảo đảm quyền bào chữa cũng được ghi nhận trong Điều 9 Luật tổ chức TAND
năm 1992 và năm 2002 với nội dung: “Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo”.
Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thay thế cho Pháp lệnh Luật sư 1987 là một đảm
bảo pháp lý, góp phần quan trọng cho nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,
bị cáo được thực hiện trên thực tế.
1.4.3. Giai đoạn từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến nay:
Qua gần 15 năm thi hành với 3 lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật TTHS năm 1988 đã
là một trong những căn cứ pháp lý giúp CQĐT, VKS, Toà án tiến hành các hoạt động
của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ góp phần vào việc bảo đảm phát
hiện chính xác, nhanh chóng và xử ký công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tuy nhiên, trong công cuộc đổi

trin ca nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b can, b cỏo
trong lut TTHS cú th rỳt ra mt s nhn xột:
1. Nguyờn tc bo m quyn bo cha ó c ghi nhn trong cỏc iu c
quc t v tr thnh mt giỏ tr phỏp lý c quc t hoỏ. Quy nh nguyờn tc bo
m quyn bo cha l mt s tt yu th hin xu th ca thi i.
2. Quyn bo cha l mt trong nhng ch nh quan trng khụng th thiu
c ca phỏp lut TTHS Vit Nam. Mc dự quyn bo cha ngy nay c quy nh
v tha nhn trong phỏp lut ca cỏc nc trờn th gii nhng xung quanh khỏi nim
v ni dung ca nú cũn nhiu ý kin khỏc nhau cn c xem xột v lm rừ t gúc lý
lun v thc tin.
3. Quyn bo cha thuc v ngi b tm gi, b can, b cỏo - nhng ngi b
buc ti vi ni dung a ra nhng chng c, tỡnh tit chng minh cho s khụng cú
Mai Thu Thuỷ
-
HS28D
- 19 -
Khoá luận tốt nghiệp
ti hoc lm gim nh ti ca mỡnh, nhng ngi khỏc tham gia TTHS khụng cú quyn
bo cha.
4. Nguyờn tc bo m quyn bo cha ca ngi b tm gi, b can, b cỏo c
quy nh xut phỏt t vic bo m thc hin quyn con ngi v nhng quyn c bn
ca cụng dõn. ng thi, vic thc hin tt nguyờn tc bo m quyn bo cha ca
ngi b tm gi, b can, b cỏo cũn giỳp cỏc c quan THTT xỏc nh c s tht
khỏch quan ca v ỏn, giỳp TTHS c tin hnh ỳng mc ớch xột x cụng minh, kp
thi mi hnh vi phm ti, khụng lt ti phm, khụng lm oan ngi vụ ti.
5. Quyn bo cha Vit Nam cú tớnh n nh v tớnh hon cnh lch s. Tớnh
n nh th hin: nguyờn tc bo m quyn bo cha c ghi nhn trong tt c cỏc
bn Hin phỏp ca nc ta. Tớnh hon cnh lch s th hin nhng m bo phỏp lý
v trỏch nhim ca cỏc c quan THTT trong vic bo m quyn bo cha ca ngi
b tm gi, b can b cỏo c tớnh toỏn, cõn nhc phự hp vi iu kin hon cnh

đoạn này, quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ và bị can.
2.1.1.1. Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ
- Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ.
Để bảo đảm cho người bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình, pháp
luật quy định: “Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ” (điểm a,
khoản 2 Điều 48), ngay từ lúc bị bắt, họ được nghe đọc biên bản bắt người và có
quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ghi ý kiến xác nhận. Lý do
tạm giữ được ghi trong quyết định tạm giữ và khi có quyết định này người bị tạm giữ
được giao một bản. Lý do tạm giữ này cũng được bảo đảm về tính cần thiết và có căn
cứ pháp luật khi pháp luật quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm
giữ, quyết định tạm giữ được gửi cho VKS cùng cấp. Nếu thấy việc tạm giữ không có
căn cứ hoặc không cần thiết thì VKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và
người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Mai Thu Thuû
-
HS28D
- 21 -
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
- Người bị tạm giữ có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Không phải người nào khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữ đều có
những hiểu biết về pháp luật nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của mình trong
TTHS nói riêng. Giải thích quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể và cặn kẽ cho người bị
tạm giữ biết sẽ khiến họ yên tâm hơn, tin tưởng vào pháp luật và có thể sử dụng pháp
luật để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để đảm bảo quyền này cho
người bị tạm giữ, pháp luật quy định, người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích
quyền và nghĩa vụ cho người bị tạm giữ theo quy định tại điều 48 Bộ luật TTHS.
- Người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai.
Trong lời khai trước CQĐT, người bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên
quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm. Cơ quan ra quyết định tạm giữ có trách
nhiệm lập biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ. Lời khai của người bị tạm giữ

cùng cấp để phê chuẩn việc khởi tố. CQĐT cũng phải giao ngay quyết định khởi tố bị
can của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của VKS (trong trường hợp VKS ra quyết
định khởi tố bị can) cho bị can. Và sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyết
định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can của VKS, CQĐT phải giao ngay cho người đã bị
khởi tố - đây là một quy định mới của Bộ luật TTHS năm 2003 so với Bộ luật TTHS
năm 1988 giúp tránh được những sai sót trong việc ra quyết định khởi tố bị can, sự chặt
chẽ này cũng làm cho bị can tin tưởng hơn vào tính nghiêm minh của pháp luật.
- Bị can có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Nếu như Bộ luật TTHS năm 1988 quy định gián tiếp quyền được giải thích về
quyền và nghĩa vụ của bị can tại khoản 3 Điều 103: “Cơ quan ra quyết định khởi tố bị
can phải… và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can” thì Bộ luật TTHS 2003 đã quy
định quyền này cho bị can một cách trực tiếp tại điểm b, khoản 2 Điều 49 đồng thời
Bộ luật cũng quy định trách nhiệm cho CQĐT - những người trực tiếp tiến hành
những hành vi tố tụng với bị can phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can.
- Bị can có quyền được trình bày lời khai.
Bị can được khai về những tình tiết của vụ án. Lời khai của bị can là một loại
nguồn chứng cứ và chúng được kiểm tra và đánh giá theo những quy định chung.
Theo quy định của Bộ luật TTHS, việc lấy lời khai của bị can phải do ĐTV tiến hành
ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Trước khi hỏi cung, ĐTV đọc phải đọc
quyết định khởi tố bị can, và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ và “việc
này phải được ghi vào biên bản”. Quy định mới này của Bộ luật TTHS năm 2003 giúp
bị can thực hiện tốt hơn quyền tự bào chữa của mình cũng như nâng cao trách nhiệm
của ĐTV trong việc đảm bảo quyền tự bào chữa của bị can trong quá trình hỏi cung.
Trong khi hỏi cung, bị can có thể thú nhận một phần hay toàn bộ tội lỗi của
mình. Tuy nhiên, lời nhận tội của bị can cần phải được kiểm tra, đối chiếu với các
chứng cứ khác của vụ án. Pháp luật quy định không được dùng lời nhận tội của bị can,
bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (Điều 72 Bộ luật TTHS).
Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản, biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày
của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Và để đảm bảo những lời khai này là được chính
xác, thể hiện ý chí thật sự của bị can, pháp luật quy định nghiêm cấm ĐTV tự mình

cam kt l li khai ca tụi khụng phi do b ộp cung, hự da Sau ú cũn ộp tụi vit
th cm n n cỏc c quan THTT. Hong Linh din t: Trong phũng hi cung, mt
cỏn b iu tra ó núi vi tụi: ụng tng vit bi bờnh vc cho con nh bỏn vộ s v
ỏnh cụng an Tin Giang. Nay ụng ó lt vo tay chỳng tụi, nu khụng khai ỳng ý,
chỳng tụi s treo ụng lờn. Anh ta din t vic treo lờn rt ghờ rn v núi li n 6-7
ln, tụi khụng th t ni ti õy.
(1)
- B can cú quyn a ra ti liu, vt, yờu cu.
B can cú quyn cung cp nhng ti liu, vt cú liờn quan n v ỏn, CQT
khi nhn c cỏc ti liu, vt do b can cung cp phi tin hnh kim tra, ỏnh giỏ
mt cỏch khỏch quan xỏc nh cỏc ti liu, vt ú cú phi l chng c trong v
ỏn hay khụng? B can cng cú quyn a ra nhng yờu cu nh: yờu cu thụng bỏo v
ni dung kt lun giỏm nh; c trỡnh by nhng ý kin ca mỡnh v kt lun giỏm
1(1)
http:// www.vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2003/05/3B9C7CCE/
Mai Thu Thuû
-
HS28D
- 24 -
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
định; được yêu cầu giám định bổ sung, giám định lại. Trong trường hợp CQĐT, VKS
không chấp nhận yêu cầu của bị can thì phải nêu rõ lý do và phải thông báo cho họ
biết (Điều 158); Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại điểm 5 và điểm 6 Điều
107 Bộ luật TTHS mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì CQĐT hoặc
VKS ra quyết định phục hồi điều tra (Điều 165)…
- Bị can có quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch.
Trong quá trình điều tra, bị can có quyền đề nghị thay đổi những người THTT,
người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô
tư trong khi làm nhiệm vụ; việc họ tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ
án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Các cơ quan THTT phải xem

theo quy định của Bộ luật TTHS, từ đó pháp luật cũng quy định các cơ quan THTT phải
tạo điều kiện cho bị can thực hiện các quyền này. Khi đã nắm được toàn bộ những quyết
định, những kết luận tố tụng, những tài liệu về vụ án, bị can có thể khiếu nại đối với
những quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.
Ngày 08/09/2006, TAND Thành phố Hà Nội mở phiên toà xét xử vụ án nhận hối
lộ, trong đó bị cáo Trần Lê Sơn bị VKS Thành phố Hà Nội truy tố về hành vi môi giới
hối lộ. Trước vành móng ngựa, Sơn trình bày rành rẽ : “VKS tống đạt cáo trạng tới bị
cáo, nhưng hôm sau lại thay bằng một bản khác. Cáo trạng đọc tại toà hôm nay là bản
cũ”. Theo Sơn cáo trạng còn trích dẫn không chính xác nhiều lời khai cũng như thời
gian xảy ra vụ án và thời điểm bắt các bị cáo…Bị bất ngờ trước việc này, Thẩm phán
chủ toạ phiên toà đã cho đối chất giữa đại diện VKS và bị cáo. Và khi được luật sư
cung cấp cả hai bản cáo trạng và so sánh thì Toà án thấy rằng hai bản cáo trạng được
tống đạt cho bị cáo Sơn là không giống nhau. Ngày 11/09/2006, sau 3 ngày xét xử,
TAND Thành phố Hà Nội tuyên trả hồ sơ về VKSND Thành phố Hà Nội để tống đạt
lại cho các bị cáo theo đúng thủ tục tố tụng.
(1)
- Bị can có quyền tham gia một số hoạt động điều tra.
Để tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền bào chữa, Bộ luật TTHS quy định,
khi khám nghiệm hiện trường và khi tiến hành thực nghiệm điều tra trong trường hợp
cần thiết bị can cũng có thể tham gia (Điều 150, 153 Bộ luật TTHS).
2.1.2. Đảm bảo quyền tự bào chữa trong giai đoạn xét xử
Sau khi Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị can trở thành bị cáo và quyền
bào chữa của họ tiếp tục được bảo đảm bằng các quy định của Bộ luật TTHS.
- Bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp
dụng, thay đổi, hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án,
quyết định của Toà án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật TTHS.
Các quyết định, các văn bản kể trên liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa vụ
của bị cáo nói chung và quyền bào chữa của bị cáo nói riêng. Nhận được đầy đủ các
quyết định này nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có thể thực hiện tốt quyền bào chữa
cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình. Đồng thời quy định này cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status