ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN QUANG HUY VẤN ĐỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
TRONG CÁC TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT
KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hµ néi - 2007
Hµ néi - 2007 1
2
MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG HÌNH
PHẠT TỬ HÌNH VỚI CÁC TỘI PHẠM
CÓ TÍNH CHẤT KINH TẾ Ở VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
14
2.1.
Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm có
tính chất kinh tế
14
2.1.1.
Khách thể của tội phạm
14
2.1.2.
Mặt khách quan của tội phạm
15
2.1.3.
Chủ thể của tội phạm
16
2.1.4.
Mặt chủ quan của tội phạm
16
2.1.5.
Các hình phạt áp dụng
18
2.2.
Việc áp dụng hình phạt tử hình với các tội phạm có
tính chất kinh tế theo pháp luật Việt Nam và một số
nước trên thế giới
20
3.1.
Cơ sở của việc thay thế hình phạt tử hình với các tội
phạm có tính chất kinh tế
36
3.1.1.
Cơ sở lý luận
36
3.1.2.
Cơ sở thực tiễn
51
3.2.
Giải pháp thay thế hình phạt tử hình với các tội
phạm có tính chất kinh tế ở Việt Nam
54
3.2.1.
Hình phạt chính
54
3.2.2.
Hình phạt bổ sung
55
KẾT LUẬN
64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
66 1
MỞ ĐẦU
Luận án tiến sĩ Luật học: Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, của
Phạm Văn Beo; Luận văn thạc sĩ Luật học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, của Trần Thu Huyền…
Do sự phân chia về các loại tội phạm trong luật hình sự nên các đề tài,
công trình nghiên cứu khoa học, hội thảo… các tác giả chỉ thường tập trung
vào việc phân tích nguyên nhân, điều kiện, thực trạng, đề xuất… trong vấn đề
áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội phạm nói chung hoặc các tội phạm
thuộc một nhóm tội nhất định theo tiêu chí phân loại của Bộ luật Hình sự. Vì
thế, ở một cách tiếp cận khác, luận văn này đề cập vấn đề áp dụng hình phạt
tử hình trong các tội phạm có tính chất kinh tế. Các tội phạm "có tính chất
kinh tế" không chỉ nằm trong một loại tội phạm nhất định mà chúng còn được
qui định ở các loại tội phạm khác nhau. Việc nghiên cứu vấn đề này sẽ cho
chúng ta có một cách tiếp cận toàn diện hơn trong vấn đề áp dụng hình phạt tử
hình đối với các tội phạm có tính chất kinh tế, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
lịch sử hình thành, nguyên nhân, thực trạng, xu hướng của việc áp dụng hình
phạt tử hình đối với loại tội phạm luôn có diễn biến hết sức phức tạp này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích:
Việc nghiên cứu luận văn nhằm mục đích làm sáng tỏ nguyên nhân,
điều kiện hình thành, cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, xu hướng của việc áp
dụng hình phạt tử hình trong các tội phạm có tính chất kinh tế. Từ sự phân
tích thực trạng và xu hướng, tác giả mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về
việc áp dụng hình phạt tử hình trong các tội phạm có tính chất kinh tế.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau: 3
- Phân tích và làm sảng tỏ những vấn đề lý luận về hình phạt tử hình
nói chung như khái niệm, bản chất, đặc điểm, ý nghĩa và bản chất của hình
ta hiện nay, ý nghĩa quan trọng nhất của luận văn, chính là việc làm sáng tỏ
các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề thay thế việc áp dụng hình
phạt tử hình với các tội phạm có tính chất kinh tế ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hình phạt tử hình.
Chương 2: Thực trạng việc áp dụng hình phạt tử hình với các tội phạm
có tính chất kinh tế ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
Chương 3: Cơ sở và giải pháp thay thế việc áp dụng hình phạt tử hình
với các tội phạm có tính chất kinh tế ở Việt Nam. 5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
1.1. KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
1.1.1. Khái niệm
Tử hình là một hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống
hình phạt của luật hình sự các nước nói chung và luật hình sự Việt Nam nói
riêng. Tính đặc biệt của hình phạt này thể hiện ở chỗ chủ thể thực hiện tội
phạm phải có lỗi và họ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Hơn nữa tính đặc
biệt của hình phạt tử hình còn thể hiện ở việc có những chủ thể nhất định
phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này,
hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.
Trong trường hợp người kết án tử hình được ân giảm, thì
hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân [7].
Trên thế giới, hình phạt tử hình vẫn được áp dụng tại nhiều quốc gia
và vùng lãnh thổ khác nhau và mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế
xã hội và chính trị của mình, có những qui định không giống nhau về việc áp
dụng và thi hành hình phạt tử hình. Nhìn chung bản đồ về hình phạt tử hình
trên thế giới có thể khái quát như sau: tại các nước Châu Âu và Châu Mỹ
latinh hình phạt tử hình đã hầu như không còn được áp dụng; các nước Bắc
Mỹ cũng có xu hướng xóa bỏ dần hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt;
tại Châu Đại Dương hình phạt tử hình cũng dần đựợc xóa bỏ; Châu Á và
Châu Phi hiện vẫn là những châu lục có nhiều quốc gia vẫn duy trì hình phạt
tử hình nhất. Trong sự phát triển sôi động và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay,
trong sự đấu tranh ngày càng mạnh mẽ vì quyền sống của các tổ chức dân 7
chủ, tổ chức nhân quyền quốc tế… việc áp dụng hình phạt tử hình nói chung
đang dần giảm trên toàn thế giới.
1.1.2. Đặc điểm
Đặc điểm của hình phạt tử hình chính là những khác biệt cơ bản của
hình phạt này so với các hình phạt khác, theo đó hình phạt tử hình có những
đặc điểm cơ bản sau:
* Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất
Trong hệ thống hình phạt của những quốc gia áp dụng hình phạt tử
hình, tử hình là hình phạt cuối cùng thể hiện sự nghiêm khắc nhất của luật
hình sự đối với người phạm tội. Người bị áp dụng hình phạt tử hình sẽ không
còn có cơ hội tồn tại để sống, họ đã bị tước đi quyền thiêng liêng nhất - quyền
được sống. Sự "nghiêm khắc nhất của hình phạt tử hình" thể hiện rất rõ ở việc
nếu hình phạt tử hình đã được áp dụng thì sau đó dù có chứng minh được
người chết hoàn toàn bị oan thì cũng không có cách nào làm cho họ có thể
sống lại để tiếp tục cuộc sống mà họ đáng được có. Vì thế có thể nói rằng tính
không thể thay đổi là một đặc điểm rất cơ bản của hình phạt tử hình.
1.2. CÁC CĂN CỨ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
Xuất phát từ việc hình phạt tử hình là một hình phạt nghiêm khắc nhất
đối với người thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vì thế việc áp
dụng hình phạt này cần phải được thực hiện cực kỳ thận trọng trên cơ sở
những căn cứ nhất định. Căn cứ cơ bản để áp dụng hình phạt tử hình chính là
việc nghiên cứu và xác định tính chất và hậu quả của hành vi phạm tội.
1.2.1. Tính chất của hành vi phạm tội
Bản thân hành vi phạm tội thông thường đã có tính chất nguy hiểm
cho sự tồn tại và phát triển của một xã hội nói chúng. Song đối với những
hành vi phạm tội dẫn đến việc nhà nước phải áp dụng hình phạt tử hình thì 9
tính chất nguy hiểm của hành vi lại càng thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Hành
vi phạm tội dẫn đến việc phải áp dụng hình phạt tử hình là những hành vi đặc
biệt nguy hiểm đối với xã hội, thể hiện rõ nét nhất lỗi cố tình của người thực
hiện hành vi phạm tội, thể hiện khả năng không thể giáo dục cải tạo người
phạm tội khi họ đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
1.2.2. Hậu quả của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội dẫn đến việc phải áp dụng hình phạt tử hình trong
luật hình sự để lại những hậu quả rất lớn cho người bị hại, cho tài sản, trật tự
quản lý kinh tế của nhà nước, cho những quan hệ kinh tế xã hội nhất định và
cho cả xã hội.
Xét trong phạm vi cá nhân gia đình của người bị hại, hành phạm tội
của người thực hiện tội phạm có thể cướp đi chính sinh mạng của nạn nhân
hoặc chí ít cũng để lại những hậu quả trầm trọng, khó có thể khắc phục. Gia
Tính giai cấp của hình phạt tử hình thể hiện rõ ở việc nó bảo vệ quyền,
lợi ích và địa vị của giai cấp thống trị. Mỗi nhà nước, mỗi giai cấp trong
những thời kỳ lịch sử nhất định đều có những qui định khác nhau về hình phạt
tử hình. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, giai cấp thống trị sử
dụng hình phạt tử hình như một công cụ thể răn đe dân chúng và bảo vệ tối đa
lợi ích của giai cấp mình. Cách thi hành hình phạt tử hình trong giai đoạn này
được tiến hành rất công khai và dã man với mục đích gây đau đớn cho người
phạm tội, triệt tiêu mầm mống của sự trả thù và răn đe dân chúng. Trong xã
hội sau thời phong kiến cho đến nay, hình phạt tử hình vẫn được giai cấp
thống trị sử dụng phổ biến để bảo đảm sự thống trị của mình, tuy nhiên đối
tượng và hành vi phạm tội phải chịu hình phạt tử hình đã giảm đi nhiều, hơn
nữa cách thức thi hành hình phạt cũng không còn dã man như thời kỳ trước
với mục tiêu là mang lại cái chết nhanh nhất và không đau đớn nhất cho
người phạm tội. 11
Bên cạnh đó, hình phạt tử hình còn mang đậm bản tính xã hội của nó.
Bản tính này thể hiện ở việc hình phạt tử hình là một công cụ để giai cấp
thống trị bảo vệ và duy trì trật tự trong xã hội, duy trì một xã hội theo những
định hướng và mục đích mà giai cấp thống trị hướng tới. Do xã hội luôn luôn
vận động và phát triển không ngừng, vì thế việc áp dụng hình phạt tử hình
cũng luôn thay đổi, phù hợp với xu hướng phát triển của đời sống kinh tế xã
hội. Việc qui định những hành vi phạm tội nào thì phải chịu hình phạt cao
nhất là tử hình hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử nhất định và nó luôn phải phù hợp với
chính sách và lợi ích của giai cấp thống trị.
1.3.2. Mục đích
Mục đích của hình phạt nói chung và của hình phạt tử hình nói riêng
là những mục tiêu, những kết quả mà giai cấp thống trị thông qua nhà nước
đổi. Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ và thời kỳ phong kiến quan điểm về việc
áp dụng hình phạt tử hình là trừng trị, trong khi đó quan điểm của thời kỳ sau
phong kiến là phòng ngừa chung trong sự tác động của nhiều học thuyết nhân
đạo và dân chủ. Tuy nhiên một điều cần phải được làm rõ là trừng trị không
phải là mục đích của hình phạt tử hình mà là nội dung của hình phạt tử hình
và quan điểm của giai cấp thống trị.
Mục đích tối thượng và quan trọng nhất của việc áp dụng hình phạt tử
hình trong điều kiện hoàn cảnh hiện nay chính là nhằm đạt đến sự công bằng
trong một xã hội dân chủ và ngăn ngừa các hành vi tương tự có thể xảy ra.
V.I. Lênin đã từng nói: "Tác dụng của hình phạt không phải ở chỗ hình phạt
phải nặng, mà là ở chỗ bất cứ tội phạm nào cũng phải chịu hình phạt". Rõ
ràng vấn đề công bằng xã hội đã được thể hiện sâu sắc trong luận điểm này
của V.I. Lênin. Việc ngăn ngừa các hành vi phạm tội tương tự có thể xảy ra
của việc áp dụng hình phạt tử hình do hành vi tội phạm thường xảy ra hoặc ở
người đã từng thực hiện hành vi phạm tội hoặc những người có cùng động cơ,
có cùng điều kiện để thực hiện hành vi phạm tội tương tự.
Mục đích phòng ngừa trong việc áp dụng hình phạt tử hình thể hiện
trong hai khía cạnh: phòng ngừa riêng được áp dụng với người trực tiếp thực
hiện hành vi phạm tội; phòng ngừa chung áp dụng với tất cả các đối tượng
khác trong xã hội. Theo nhà làm luật nổi tiếng người Italia, Cesar Beccaria, 13
thì mục đích của hình phạt không phải là sự hành hạ và tra tấn con người, mục
đích của hình phạt chính là sự ngăn cản người thực hiện hành vi phạm tội và
phòng ngừa, kiềm chế những người khác trong xã hội khỏi việc thực hiện
hành vi phạm tội [49].
Tóm lại, qua nghiên cứu toàn bộ các nội dung của chương này chúng
ta đã có được một cái nhìn tổng thể về các đặc điểm, các căn cứ, về bản chất
của hình phạt tử hình và mục đích thực sự của việc áp dụng hình phạt này.
hiệu pháp lý đặc trưng của nó.
2.1.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm nói chung chính là các quan hệ xã hội được
pháp luật bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại. Theo đó, khách thể của các
tội phạm có tính chất kinh tế là các quan hệ có tính chất kinh tế, các trật tự quản
lý kinh tế được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm phạm. Đối với sự
phát triển của nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào thì việc bảo vệ để các quan hệ 15
kinh tế được phát triển một cách ổn định và đúng pháp luật là nhiệm vụ tối
quan trọng của hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự. Mọi cá
nhân, tổ chức đều được quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật,
luật pháp cho họ được thực hiện tất cả các hành vi kinh doanh mà pháp luật
không cấm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhà nước phải dùng pháp luật
can thiệp vào các hành vi phá hoại, gây cản trở cho môi trường kinh doanh và
cho trật tự quản lý kinh tế của nhà nước. Mọi hành vi coi thường pháp luật,
phá hoại đến tài sản của nhà nước, gây phương hại đến quan hệ kinh tế được
pháp luật bảo hộ đều phải bị xử lý nghiêm minh theo qui định của pháp luật.
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm chính là những biểu hiện bên ngoài của
tội phạm được diễn ra hoặc thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan.
Mặt khách quan của các tội phạm có tính chất kinh tế chính là những
biểu hiện ra bên ngoài của hành vi phạm tội này, chúng được thể hiện dưới
những dạng hành động hoặc không hành động nhất định và xâm hại đến khách
thể của loại tội phạm này. Tùy theo pháp luật của mỗi quốc, số lượng và sự
thể hiện ra bên ngoài của chúng lại hoàn toàn không giống nhau.
Theo qui định của luật hình sự Việt Nam, mặt khách quan của loại tội
phạm xâm hại đến tài sản nhà nước, tài sản công dân, đến trật tự quản lý kinh
tế của quốc gia bao gồm các hành vi chủ yếu sau: buôn lậu, sản xuất hàng giả,
nhận hối lộ…), đó có thể là dấu hiệu qui định về thẩm quyền khi thi hành
công vụ của người phạm tội (vi phạm qui định về cấp văn bằng bảo hộ) hoặc
các qui định về trách nhiệm trong khi thi hành công vụ (vi phạm các qui định
về sử dụng quỹ trong các tổ chức tín dụng)…
2.1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm chính là những vấn đề liên quan đến lỗi,
động cơ và mục đích của chủ thể khi thực hiện hành vi phạm tội. 17
Đối với các tội phạm có tính chất kinh tế, mặt chủ quan của nó thể
hiện ở trạng thái tâm lý của chủ thể đối với các hành vi phạm tội xâm hại đến
tài sản nhà nước, tài sản của công dân, đến trật tự quản lý kinh tế của nhà
nước. Trạng thái tâm lý này thể hiện ở các vấn đề liên quan đến lỗi, động cơ
và mục đích của chủ thể khi thực hiện hành vi phạm tội.
Theo nguyên tắc chung, lỗi chính là thái độ tâm lý của một người đối
với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và những hậu quả xảy ra hoặc có
thể xảy ra do tác động của hành vi nói trên. Trong các tội phạm có tính chất
kinh tế, thái độ tâm lý của người phạm tội thể hiện ở khả năng, năng lực nhận
thức và điều khiển những hành vi có lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.
Trong loại tội phạm này, không có thái độ tâm lý tồn tại dưới hình thức lỗi
vô ý.
Động cơ phạm tội của các tội phạm có tính chất kinh tế chính là những
động cơ bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm. Động cơ đó có
thể là vì vụ lợi, vì những động cơ cá nhân khác (Điều 167: Tội báo cáo sai
trong quản lý kinh tế - Bộ luật Hình sự 1999). Vì loại tội phạm này không có
lỗi vô ý cho nên người phạm loại tội này luôn có những động cơ nhất định khi
thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, dấu hiệu động cơ không phải là dấu
hiệu bắt buộc của các tội phạm thuộc tiêu chí phân loại này.
Mục đích trong các tội phạm có tính chất kinh tế là những yêu cầu và
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn
giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp luật và các qui tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa
họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [7].
Từ qui định trên, chúng ta có thể thấy rằng, khi áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội, mục đích mà nhà nước cần đạt được chính là những mục 19
đích về phòng ngừa riêng đối với cá nhân người phạm tội và mục đích phòng
ngừa chung đối với các cá nhân khác trong xã hội.
Hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam bao gồm cả hình phạt
chính và hình phạt bổ sung. Theo qui định tại Điều 28 Bộ luật Hình sự năm
1999, hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tại không giam giữ; trục
xuất, tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú;
quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp
dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Đối với các tội phạm có tính chất kinh tế, việc áp hình phạt cũng bao
gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt bổ sung được áp
dụng đối với một số loại tội nhất định, còn hình phạt chính được áp dụng đối
với toàn bộ các tội phạm có tính chất này.
Trong số 73 khung hình phạt được qui định từ các điều từ
153 đến 181 Bộ luật Hình sự, có 114 lượt hình phạt chính, thì có: 3
lượt hình phạt cảnh cáo, chiếm 2,6%; 19 lượt hình phạt tiền, chiếm
16%; 18 lượt hình phạt cải tạo không giam giữ, chiếm 15,7%; 68
lượt hình phạt tù,chiếm 69,5%; 3 lượt hình phạt tù chung thân,
chiếm 2,6% và 3 lượt hình phạt tử hình, chiếm 2,6% [18].
Những con số tổng kết này cho chúng ta thấy được tỷ lệ áp dụng các
loạt các sắc lệnh quan trọng đã được ban hành trong thời kỳ này thể hiện rõ
quan điểm của Đảng, của Chính phủ nhân dân.
Trong các hình phạt được qui định trong các sắc lệnh này, tử hình
luôn được sử dụng với một tỷ lệ khá cao. Chúng ta có thấy đều này được thể
hiện rõ trong các sắc lệnh sau: Sắc lệnh số 6-SL ngày 5/9/1945 qui định việc
cấm nhân dân Việt Nam không được đăng ký đi lính, bán lương thực, thực
phẩm, làm liên lạc, tay sai cho thực dân Pháp, những ai vi phạm sẽ bị Tòa án 21
quân sự nghiêm trị; Sắc lệnh số 22-SL ngày 14/2/1946 qui định việc Tòa án
có quyền xét xử tất cả những người phạm vào một việc gì có thể phương hại
đến nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Sắc lệnh số 26- SL (25/02/1946)
và Sắc lệnh số 27-SL (28/02/1946) qui định về việc áp dụng hình phạt, trong
đó có hình phạt tử hình đối với các hành vi phá hoại cầu cống, đường xe lửa,
đường bộ, đường thủy, đê đập và các hành vi bắt cóc, tống tiền, ám sát; Hành
vi làm suy yếu sức mạnh tinh thần hay vật chất của lực lượng vũ trang cũng
có thể sẽ bị xử tử hình (Sắc lệnh số 106-SL ngày 16/06/1950)…
Tiếp đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Nhà nước lại tiếp
tục ban hành những sắc lệnh để trừng trị những hành vi chống lại chính quyền
nhân dân. Sắc lệnh số 133-SL (20/10/1953) qui định tới 12 hành vi phạm tội
liên quan đến việc trừng trị những đối tượng chống đối, thù địch với chính
quyền nhân dân. Hình phạt tử hình được áp dụng đối với những kẻ chủ mưu,
cầm đầu trong các hành động chống phá nêu trên.
Hòa bình được lập lại năm 1954, đất nước bước vào một giai đoạn
phát triển mới với những thách thức ngày càng lớn hơn. Liên tiếp những văn
bản pháp luật được ban hành để đối phó với những diễn biến của tình hình
mới. Tại thời điểm này, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai
chế độ chính trị khác nhau. Thời điểm này ngoài nhiệm vụ tiếp tục nâng cao
tinh thần cảnh giác chống lại các lực lượng thù địch, nhiệm vụ sản xuất kinh
rắn của Đảng, của Chính phủ đối với các hành vi phạm tội nghiêm trọng
thuộc nhóm này.
Các tội phạm có tính chất kinh tế bị áp dụng hình phạt tử hình trong
thời kỳ này chủ yếu liên quan đến các tội tham ô tài sản nhà nước, tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, tội đầu cơ, tội buôn lậu. Ngày 20/05/1981,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, tiếp
đến ngày 30/06/1982, Hội đồng Nhà nước ban hành tiếp Pháp lệnh Trừng trị
các tội đầu cơ, buôn lậu, tàng trữ hàng cấm, làm hàng giả, kinh doanh trái phép,
vận chuyển trái phép tiền tệ và hàng hóa, sản xuất và buôn bán hàng giả…