Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ PHƯƠNG HIỀN

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2007
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội



mở đầu
1

Chương 1: khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
5
1.1.
Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự 1999
5
1.1.1.
Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
5
1.1.2.
Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
6
1.1.3.
Chủ thể
18
1.1.4.
Mặt chủ quan
19
1.2.
Lịch sử lập pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ
1945 đến nay
21
1.2.1.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Bộ


tài sản
2.1.1.
Hình phạt
39
2.1.2.
Các biện pháp tư pháp
48
2.1.3.
Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
49
2.2.
Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
những trường hợp đặc biệt
50
2.2.1.
Chuẩn bị phạm tội
50
2.2.2.
Phạm tội chưa đạt
51
2.2.3.
Đồng phạm
52

Chương 3: Thực trạng và các biện pháp phòng chống tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
55
3.1.
Khái quát tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nước ta

Một số biện pháp đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trong giai đoạn hiện nay
77
3.3.1.
Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động đấu tranh phòng chống
tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
77
3.3.2.
Các biện pháp đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản
85

kết luận
101
danh mục tài liệu tham khảo
102 1
MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Một trong những quyền quan trọng luôn được pháp luật nói chung và
pháp luật hình sự nói riêng bảo vệ tránh sự xâm hại của các hành vi phạm tội
là quyền sở hữu. Trong thời gian qua các tội phạm xâm phạm sở hữu diễn ra
rất phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản nhà nước, tài sản của công
dân, ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là

việc nghiên cứu làm sáng rõ nội dung pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, thực trạng và các biện pháp đấu tranh
phòng ngừa thích hợp là điều rất quan trọng, nhằm góp phần áp dụng pháp luật
một cách đúng đắn khi xử lý người phạm tội, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi và
tiến tới loại bỏ tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
trong xã hội hiện nay. Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: "Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn" để viết luận văn tốt
nghiệp cao học luật.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, nhiều tác giả đi sâu phân tích tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc
độ lý luận hình sự và tội phạm học như Trịnh Hồng Dương, Vũ Thiện Kim,
Võ Khánh Vinh… nhưng do tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn này đã có
nhiều tay đổi, các công trình nghiên cứu trước kia đã không còn phù hợp, do đó
cần phải đi sâu nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn hiện
nay, làm rõ các dấu hiệu pháp lý cũng như nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội
phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tìm ra các biện pháp hữu hiệu để đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng.
2. Mục đích, phạm vi, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là làm sáng rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, đánh
giá thực trạng, nguyên nhân và điều kiện phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

3
ở nước ta trong thời gian qua, từ đó đề ra một số biện pháp góp phần nâng cao
hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả của luận văn đặt cho mình các
nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Bộ
luật hình sự 1999.
- Nghiên cứu quá trình lập pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài

cực làm phong phú thêm lí luận và cơ sở thực tiễn trong hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nước ta hiện nay.
Khi viết luận văn tác giả có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
cụ thể như: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích so sánh, tổng hợp,
phương pháp logic, phương pháp lịch sử và phương pháp hệ thống.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản.
Chương 2: Các hình thức trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự
trong những trường hợp đặc biệt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Chương 3: Thực trạng và các biện pháp phòng chống tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.

5
Chương 1
KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ
CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999
1.1.1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Bộ luật hình sự 1999 quy định 13 điều tại chương XIV về các tội xâm
phạm sở hữu. Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm chung đối với các tội
xâm phạm sở hữu như sau: "Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại

* Khách thể
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại.
Những quan hệ xã hội được luật hình sự Việt Nam bảo vệ là những
quan hệ xã hội được xác định trong Điều 1 và Điều 8 của Bộ luật hình sự, đó
là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính
trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, tự do, tài sản, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về tài
sản, đây là quan hệ xã hội chủ yếu mà hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm
hại, không giống một số các tội xâm phạm sở hữu khác như tội cướp tài sản,
cưỡng đoạt tài sản… ngoài quan hệ sở hữu thì quan hệ nhân thân cũng là
khách thể của các tội phạm này.
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ. Quan hệ xã hội này bị tội phạm

7
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thông qua việc làm biến đổi tình trạng
bình thường của những đối tượng vật chất (tài sản) là một bộ phận của quan
hệ sở hữu [45].
Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005, tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản [5].
Tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể thuộc bất
cứ hình thức sở hữu nào được pháp luật thừa nhận và phải được thể hiện dưới
dạng vật chất vì những gì không thuộc về thế giới vật chất sẽ không thể là đối
tượng của hành vi chiếm đoạt. Vì vậy, quyền về tài sản không phải mọi
trường hợp đều là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ví dụ
như bản di chúc về quyền thừa kế tài sản của một người, nhưng những giấy tờ
thể hiện quyền về tài sản như hóa đơn lĩnh hàng…lại có thể là đối tượng của

khách quan của tội phạm vì thế có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu đặc
trưng sau:
Thứ nhất, dấu hiệu hành vi
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội là
nội dung cơ bản nhất và được biểu hiện dưới hai hình thức hành động là việc
chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm và hành vi phạm tội bằng không hành
động là việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc
dù có đủ điều kiện để làm nhằm tránh nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao
gồm hai hành vi thực tế: hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.
- Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật
nhằm để người khác tin đó là sự thật.

9
Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông
tin giả. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong
muốn người khác tin đó là sự thật. Hành vi lừa dối là biểu hiện cụ thể của thủ
đoạn gian dối.
Về thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nhiều
hình thức thực hiện khác nhau. Việc nghiên cứu các hình thức thực hiện này
không có ý nghĩa trong việc định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng xem
xét hình thức thực hiện có giá trị lớn trong công tác đấu tranh, phòng chống
tội phạm này.
- Hành vi chiếm đoạt: Được hiểu là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp
luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt xét về mặt khách quan là hành vi làm
cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản của mình, tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. Xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm

sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối tạo điều kiện cho hành
vi chiếm đoạt được thực hiện một cách công khai, dễ dàng.Trong thực tế có
những biểu hiện gian dối nhằm mục đích khác không phải là hành vi khách
quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Ví dụ: Đối tượng A vào một cửa hàng
văn phòng phẩm, giả vờ hỏi mua rất nhiều mặt hàng và yêu cầu người bán
hàng đóng gói những mặt hàng đó vào thùng cactông, trong khi người bán
hàng mải chọn và đóng gói hàng hóa, A đã nhanh tay chiếm đoạt 02 chiếc
máy tính cá nhân cất vào túi xách của mình. Sau đó A nói dối là quên tiền ở
nhà, yêu cầu người bán hàng để nguyên số hàng đã đóng gói vào một chỗ, chờ
A về nhà lấy tiền sẽ quay lại lấy hàng. Chờ mãi không thấy A quay lại, người
bán hàng mở thùng cactông ra kiểm tra mới phát hiện bị A chiếm đoạt tài sản.
Trong vụ án này A có thực hiện hành vi gian dối để cho chủ sở hữu mất cảnh
giác, không tập trung quản lý tài sản nhằm dễ dàng chiếm đoạt tài sản, nhưng
hành vi chiếm đoạt là lén lút, che giấu không cho chủ sở hữu biết, đây là hành

11
vi khách quan của tội trộm cắp tài sản. Không phải hành vi gian dối nào cũng
là biểu hiện khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối của người phạm
tội bao giờ cũng phải có trước, sau đó mới diễn ra việc giao tài sản giữa người bị
hại với người phạm tội, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận
được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà tùy từng trường
hợp cụ thể thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là
hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thông
thường hành vi chiếm đoạt xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi lừa dối. Nhưng
cũng có trường hợp giữa hai hành vi này có khoảng cách nhất định về thời
gian.
Tuy nhiên có những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng được Bộ luật hình sự quy định thành tội
phạm độc lập thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo

thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 500.000 đồng thì
phải kèm theo dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính
về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo
Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP [9]
hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu"
của Bộ luật hình sự năm 1999 thì các dấu hiệu định tội trên được giải thích như sau:
- Gây hậu quả nghiêm trọng: Hậu quả ở đây không phải là hậu quả
trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản
mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mà là hậu quả gián tiếp do tội phạm
gây ra. Đây là trường hợp do thực hiện hành vi phạm tội đã gây ra những thiệt
hại nghiêm trọng về vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại hoặc cho xã hội.
Thông thường hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị coi là gây hậu
quả nghiêm trọng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Làm chết một người.

13
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai
người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên.
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn
người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%.
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với
tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100% nếu không
thuộc các trường hợp trên.
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với
tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị
từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.
+ Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu
đồng [9].
Ngoài những thiệt hại về sức khỏe hoặc tài sản có thể xác định được nêu

tài sản, tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản [9].
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn
vi phạm: Là trường hợp trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, người phạm tội đã bị Tòa án kết án về một trong các tội có tính chất
chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 63, 64, 65, 77
Bộ luật hình sự 1999. Tội chiếm đoạt tài sản là một trong các tội sau: Cướp
tài sản (Điều 133 Bộ luật hình sự), bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134
Bộ luật hình sự), cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 Bộ luật hình sự), cướp giật tài
sản (Điều 136 BLHSĐ), công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 Bộ luật
hình sự), trộm cắp tài sản (Điều 138 Bộ luật hình sự), lừa đảo chiếm đoạt tài
sản (Điều 139 Bộ luật hình sự), lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều
140 Bộ luật hình sự), tham ô tài sản (Điều 278 Bộ luật hình sự), lạm dụng
chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 Bộ luật hình sự) [9].
Ngoài các trường hợp cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu
trên, theo quy định tại phần chung Bộ luật hình sự 1999 nếu người phạm tội

15
có ý định chiếm đoạt tài sản và đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc đã có
những hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm nhưng chưa chiếm đoạt được vì
những nguyên nhân khách quan vẫn có thể bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội tùy vào
từng trường hợp cụ thể [7].
Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Người chuẩn bị phạm
một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện".
Điều 18 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "…Người phạm tội chưa
đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt".
Đối chiếu hai điều luật trên với Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 ta
thấy:
- Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, chỉ xem xét các tình tiết thuộc

cơ quan điều tra cần lấy lời khai của những người biết về tài sản này để xác
định đó là tài sản gì, nhãn mác của tài sản đó như thế nào, giá trị tài sản đó
theo thời giá thực tế tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm là bao
nhiêu, tài sản đó còn khoảng bao nhiêu phần trăm… để có kết luận cuối cùng
về giá trị tài sản bị xâm phạm.
+ Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành
vi phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý định xâm phạm đến tài sản có giá
trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản đó để xem xét việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm. Nếu người
phạm tội có ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không quan tâm đến giá
trị của tài sản bị chiếm đoạt, thì căn cứ vào giá trị thực của tài sản bị xâm
phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
+ Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới
mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình
sự 1999 và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách
nhiệm hình sự (gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết

17
án nhưng chưa được xóa án tích…), đồng thời trong các hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời
hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt bằng
hoặc trên mức 500.000 đồng thì người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự đối với tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu:
- Các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách liên
tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.
- Việc thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất
chuyên nghiệp, lấy tài sản bị chiếm đoạt làm nguồn sống chính.
- Với mục đích chiếm đoạt, nhưng do điều kiện khách quan nên việc
lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài

tài sản của người phạm tội.
Vì việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội có thể gây ra
những hậu quả nguy hiểm khác cho xã hội nên việc xác định mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả trên không chỉ có ý nghĩa về mặt định tội
mà còn có ý nghĩa trong quyết định hình phạt.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành tội phạm vật chất nên tội
phạm hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, tức là lúc
người phạm tội đã làm chủ được tài sản bị chiếm đoạt và người bị hại đã mất
khả năng làm chủ được tài sản đó trên thực tế.
1.1.3. Chủ thể
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ
tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể [16].
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy. Theo
luật hình sự Việt Nam, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đã đạt

19
độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng
không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 Bộ luật hình sự 1999) [7], [9].
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 Bộ luật hình sự 1999
quy định:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [7].
Như vậy, theo Điều 12 Bộ luật hình sự 1999, chúng ta thấy chủ thể
của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn độ tuổi sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự trong mọi

sản nhưng không nêu dấu hiệu lỗi của người phạm tội, tuy nhiên xét theo bản
chất và tính chất của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì về mặt chủ quan
của tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản.
* Dấu hiệu lỗi
Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc
cơ bản. Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc "quy
tội khách quan", nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ trên cơ sở
hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ. "Một hành vi gây thiệt hại cho
xã hội sẽ bị coi là có lỗi, nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và
quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ
quan để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã
hội" [21].
Lỗi cố ý trực tiếp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện:

21
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác, nhận
thức rõ những thủ đoạn đưa ra là hoàn toàn không có thật, nhằm làm người
khác tin đó là sự thật. Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước khi
thực hiện hành vi lừa dối đã có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác.
- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối đưa đến kết
quả là chiếm đoạt được tài sản của người khác.
* Dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội
Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm
tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.
Mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mong
muốn chiếm đoạt được tài sản. Mục đích này bao giờ cũng có trước khi thực
hiện hành vi phạm tội. Có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt
buộc của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, người phạm tội
có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status