Tội cướp giật tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò là nền tảng kinh tế - xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là
một trong những vấn đề trọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp
trong đó có biện pháp hình sự. Điều này được thể hiện trong việc xử lý các
hành vi xâm phạm tới chế độ sở hữu. Hiện nay, các tội phạm xâm phạm sở
hữu xảy ra rất phổ biến trong đó tội cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ khá lớn. Chỉ
trong vòng 9 năm tính từ năm 1998 đến năm 2007, toàn quốc đã có17655 vụ
phạm tội cướp giật tài sản được xét xử sơ thẩm trong tổng số 465945 vụ phạm
tội được tòa án xét xử, chiếm tỷ lệ 3,78 %
1
. Nhiều vụ cướp giật tài sản đã gây
thương tích thậm chí gây chết người.
Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa X thông qua và có hiệu lực kể
từ ngày 01/7/2000 đã trở thành là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan
pháp luật áp dụng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, để
áp dụng đúng các qui định của pháp luật trong thực tiễn rất cần được nhận
thức và hướng dẫn áp dụng thống nhất.
Tội cướp giật tài sản - những vấn đề lí luận và thực tiễn là một trong
những đề tài được nhiều nhà khoa học, tác giả quan tâm. Có rất nhiều bài viết
trên các tạp chí chuyên ngành pháp luật như: Tạp chí Luật học có bài: “Trách
nhiệm hình sự đối với những người xâm phạm sở hữu”. Bài “Đối tượng của
các tội xâm phạm sở hữu” của Nguyễn Ngọc Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước
- Pháp luật số 2/1998 .v.v.
Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án cũng đề cập đến đề tài này
như: “Các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam” luận văn của
thạc sĩ Lương Văn Thức...Các công trình, tài liệu trên đã góp phần tạo nên sự
phong phú cho nền tảng lí luận cũng như thực tiễn áp dụng tội cướp giật tài
1
Theo bảng số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Văn phòng Tổng hợp – Toà án nhân dân tối cao.

hành Bộ luật hình sự năm 1985
Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giành lại chủ quyền cho đất nước,
tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Sau thắng lợi đó, Nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự để bảo vệ thành quả
cách mạng. Một trong những nội dung được đặc biệt coi trọng là chế độ sở
hữu - nền tảng kinh tế xã hội của đất nước. Các qui định của pháp luật đã
phản ánh tương đối rõ nét các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
cũng như kỹ thuật lập pháp của nước ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt
thể hiện rõ chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với các hành vi xâm phạm
sở hữu.
Tại Điều 12 - Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản
của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Việc qui định như vậy, đã tạo nên cơ
sở pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, là điều kiện ổn định
sinh hoạt vật chất của mỗi con người. Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành
hàng loạt các Sắc lệnh như: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25 tháng 2 năm 1946
1qui
định các hành vi phá hoại công sản, Thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955
hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu như trộm cắp,
cướp của, lừa đảo, bội tín...Tuy nhiên, ở đó, tội cướp giật tài sản chưa được
quy định thành một điều luật cụ thể.
Đến năm 1959, sau khi nước ta cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo
XHCN thì việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH là nhiệm vụ
trọng tâm hàng đầu. Bởi vậy, việc bảo vệ sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể là
vấn đề cấp bách, được đặc biệt coi trọng. Điều 40 - Hiến pháp 1959 ghi nhận:
“Tài sản công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng
1
Tập hợp hoá Luật về Hình sự - Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội, 1975, tr 201

như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo....Điều 4 Sắc Luật số 03 qui định:
Điều 4: Tội xâm phạm tài sản công cộng
....b. “Phạm các tội như : trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật
thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù
đến 15 năm”.
Như vậy, cùng với hai pháp lệnh trên, Sắc Luật số 03 đã được áp dụng
chung trong cả nước sau khi nước nhà thống nhất, để đấu tranh chống các tội
phạm về sở hữu. Các qui định bước đầu về tội cướp giật tài sản trong các văn
bản đó là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm
này.
2. Tội cướp giật tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật
hình sự năm 1999.
Sự hình thành và phát triển của pháp luật luôn dựa trên nền tảng chính
tri - kinh tế - xã hội. Vào những năm 1980, đất nước với nền kinh tế có nhiều
thay đổi, với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, các quan hệ pháp luật mới
nảy sinh cũng như những qui định pháp luật cũ, trước đây không còn phù hợp
nữa. Vì vậy, sự ra đời của BLHS 1985 (27/06/1985) là một tất yếu khách
quan. Đây là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng
chống tội phạm, góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến
trình đổi mới và sự nghiệp phát triển của xã hội.
Trong BLHS 1985, tội cướp giật tài sản được qui định thành hai tội là:
tội cướp giật tài sản XHCN tại Điều 131 với nội dung: “Người nào cướp giật
hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường
hợp quy định tại Điều 129 thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm” và tội
cướp giật tài sản riêng của công dân được qui định tại Điều 154 với nội dung:
“Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác, nếu
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 151 thì bị phạt tù từ ba tháng đến
ba năm”. Xét về nội dung, hai tội này có dấu hiệu pháp lí tương tự nhau: về
mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm; chỉ khác nhau về dấu
hiệu khách thể của tội phạm. Do tính chất quan hệ sở hữu được luật hình sự

kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất kinh doanh) thì việc tiếp tục áp dụng
các qui định của BLHS 1985 để xử lý tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn và
vướng mắc, nhất là trong việc định tội danh. Ngoài ra, nếu đặt vấn đề là trong
BLHS cần qui định các tội xâm phạm sở hữu tương ứng với 7 hình thức sở
hữu theo qui định của BLDS là không cần thiết. Vì thế, hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử trở lên khó khăn khi mà BLHS 1985 không qui định hành vi
xâm hại tài sản đến các hình thức sở hữu khác, ngoại trừ hình thức sở hữu
XHCN và hình thức sở hữu công dân.
Với những lí do trên, Điều 136 BLHS 1999 quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một
năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba
năm đến mười năm:
a, Có tổ chức;
b, Có tính chất chuyên nghiệp;
c, Tái phạm nguy hiểm;
d, Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ, Hành hung để tẩu thoát;
e, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 11% đến 30%;
g, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai
trăm triệu đồng;
h, Gây thiệt hại nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
bảy năm đến mười lăm năm:
a, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm
trăm triệu đồng;
c, Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

nhận thấy, sự phát triển, hoàn thiện trong kỹ thuật lập pháp của các nhà làm
luật. Với các qui định tại Điều 136 BLHS 1999, tội cướp giật tài sản đã được
quy định một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn. Điều này là cơ sở cho việc thực
thi luật được minh bạch, thuận lợi và chính xác.
Ngày16/03/1973, Thông tư liên bộ của Tòa án nhân dân tối cao - Viện
kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an hướng dẫn nội dung tội cướp giật tài
sản được hiểu là: “Trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở vướng mắc của
người giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tay người giữ tài sản...với ý
thức không che giấu hành vi phi pháp của mình, rồi chạy trốn hoặc bỏ đi
không dùng bạo lực”. Hướng dẫn này đã khái quát tội cướp giật tài sản với
hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt. Đồng thời, hướng
dẫn còn nêu đặc điểm của hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật tài sản là
chiếm đoạt một cách nhanh chóng và công khai.
Đến nay Điều 136 BLHS 1999 quy định tội cướp giật tài sản với định
nghĩa: “Tội cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một
cách công khai”.
1
Tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người
có trách nhiệm quản lý tài sản một cách công khai, tức là người phạm tội
không ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình. Một hành vi chiếm đoạt có
tính chất công khai nếu hình thức thực hiện của nó cho phép chủ tài sản có
khả năng biết ngay có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra.
Ví dụ:
1
Giáo trình Luật Hình sự, Đại học Luật Hà Nội, tr378
Trưa ngày 14/02/2005, Vũ Huy Hoàng (18 tuổi, trú tại số nhà 12, ngõ
62 Trần Quý Cáp), Nguyễn Chiến Thắng (20 tuổi, trú tại ngõ Linh Quang,
Văn Chương), Phạm Quang Duy (19 tuổi, trú tại Khâm Thiên), Đinh Việt
Cường (21tuổi, trú tại ngõ Thanh Miếu, Văn Miếu) và đối tượng nữ nhuộm
tóc vàng là Trần Bích Diệp (16 tuổi, trú tại ngõ Yên Bái II, phường Phố Huế),

coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác
định trong Điều 8 của BLHS 1999. Đồng thời, mỗi một tội phạm đều gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hai cho một trong những khách thể nhất định.
Khách thể của tội phạm là một căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính
chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Trong tội cướp giật tài sản, khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở
hữu về tài sản mà đối tượng tác động là những tài sản nhỏ, gọn, dễ mang đi do
tính chất của hành vi là nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Khi người phạm tội
thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã gây ra thiệt hại về quyền sở hữu của tài
sản cho chủ tài sản và sự gây thiệt hại này phản ánh đầy đủ bản chất nguy
hiểm của hành vi phạm tội.
Ngoài ra, không phải mọi tài sản đều là đối tượng tác động của tội cướp
giật tài sản. Đối tượng tác động của tội này thường là những tài sản gọn nhẹ,
có thể lấy và mang đi một cách dễ dàng như: dây chuyền, lắc, túi xách...rất ít
khi tội phạm lấy những tài sản cồng kềnh, khó di chuyển, mang vác theo. Tuy
vậy, không loại trừ tội phạm cướp giật những tài sản cồng kềnh như: xe máy,
xe đạp...bởi sau khi người phạm tội cướp tài sản xong lại sử dụng chính
những tài sản đó làm phương tiện để tẩu thoát.
Tài sản nói ở đây thông thường là tài sản hợp pháp, thuộc quyền sở hữu
của chủ tài sản. Nói như vậy không có nghĩa là những hành vi chiếm đoạt tài
sản bất hợp pháp của người khác thì người phạm tội sẽ không bị coi là tội
cướp giật tài sản.
Ví dụ:
Anh Nguyễn Văn A vừa trộm cắp được xe máy của chị Trần Thị B.
Nguyễn Văn C biết được điều này nên C đã giả vờ hỏi A đi nhờ xe và C xin
cầm lái. Khi C nổ xe máy, A chưa kịp ngồi lên xe, C đã phóng đi mất. A đứng
nhìn mà không làm gì được. Như thế, trong trường hợp này, hành vi chiếm
đoạt của anh C vẫn bị cấu thành tội cướp giật tài sản mặc dù xe máy là tài sản
bất hợp pháp do A trộm cắp.
Đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản là tài sản nói chung trừ một

2.1.Dấu hiệu công khai chiếm đoạt.
Trước hết, dấu hiệu công khai được hiểu là người phạm tội không có ý
thức che giấu hành vi phạm tội của mình và khi thực hiện việc chiếm đoạt cho
phép chủ tài sản biết ngay có hành vi chiếm đoạt xảy ra. Dấu hiệu này vừa chỉ
tính khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa thể hiện ý thức chủ quan của
người phạm tội. Về khách quan, người phạm tội không che giấu hành vi
chiếm đoạt, công khai và ngang nhiên thực hiện hành vi đó. Ngay sau khi
thực hiện hành vi, người xung quanh có thể nhận thấy ngay hành vi của người
phạm tội. Về mặt chủ quan, người phạm tội không có ý định che giấu hành vi
phạm tội của mình mà cố ý thực hiện hành vi là chiếm đoạt bằng được tài sản
của chủ tài sản.
Tính chất công khai của hành vi cướp giật tài sản là công khai khi thực
hiện hành vi đó đối với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản
bị cướp giật. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi vào ban đêm hoặc với
những thủ đoạn làm cho chủ sở hữu tài sản không nhận được người phạm tội
như: đeo mặt nạ, hóa trang công khai, chiếm đoạt tài sản thì hành vi phạm tội
vẫn bị coi là hành vi cướp giật tài sản.
Đặc trưng của tội cướp giật tài sản là công khai và không dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn uy hiếp tinh thần nào đối với người
khác để chiếm đoạt tài sản. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt với các tội
phạm khác.
Hành vi chiếm đoạt thông thường là: giật lấy, giằng lấy, đoạt
lấy...nhưng không phải bất kỳ ai cũng có một trong những hành vi đó đều
phạm tội cướp giật tài sản.
Tội cướp giật tài sản với dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp, người phạm tội còn có thủ đoạn lừa dối để
“đánh lừa” chủ tài sản hoặc người khác để dễ dàng chiếm đoạt được tài sản.
Nhưng đấy chỉ là thủ đoạn để tiếp cận tài sản, để có thể dễ dàng thực hiện
hành vi chiếm đoạn mà thôi. Ví dụ như: thủ đoạn giả vờ trà trộn thành khách

đúng đắn.
Dấu hiệu công khai là dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản,
không thể thiếu trong cấu thành tội phạm. Nhưng chỉ công khai thôi thì chưa
đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự một người về tội cướp giật tài sản.
Bởi trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có nhiều tội mà hành vi chiếm đoạt
tài sản cũng có dấu hiệu công khai.
2.2.Dấu hiệu nhanh chóng chiếm đoạt.
“Nhanh chóng” là khái niệm nói đến sự gấp gáp, khẩn trương
2
trong
việc thực hiện hành vi phạm tội. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt vừa nhanh
chóng vừa công khai, người phạm tội đã có thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ
tài sản hoặc người phạm tội chủ động tạo ra sơ hở này rồi nhanh chóng tiếp
cận, nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Thủ đoạn nhanh
chóng chiếm đoạt có thể diễn ra dưới các hình thức khác nhau, tùy thuộc vào
đặc điểm tài sản chiếm đoạt, vị trí, cách thức giữ tài sản cũng như hoàn cảnh
1
Tạp chí Toà án 1999, số 7, tr 25
2
Từ điển Luật học, tr 156
khác nhau. Thông thường hình thức nhanh chóng có thể là giật lấy tài sản,
giằng lấy tài sản, chộp lấy tài sản và nhanh chóng tẩu thoát.
Dấu hiệu nhanh chóng tẩu thoát ở đây dùng để chỉ sự lẩn tránh khỏi sự
tìm kiếm của chủ tài sản. Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh mà sự lẩn tránh này
có thể được thực hiện ở một trong những cách sau: chạy đi nhanh chóng hoặc
đứng im một chỗ có lợi. Thực tiễn xét xử, gặp nhiều trường hợp, người cướp
giật tài sản nhanh chóng tẩu thoát bằng cách chạy trốn, do đó có quan điểm
cho rằng chạy trốn là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội này.
Trong tội cướp giật tài sản, người phạm tội không sử dụng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn nào khác nhằm làm tê liệt ý chí của chủ tài

vi của anh C vẫn bị cấu thành tội cướp giật tài sản đã hoàn thành theo qui
định của Điều 136 BLHS 1999.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt là một trong những hình thức thể hiện của
hành vi khách quan trong các tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, ở từng tội
phạm cụ thể, hành vi này thể hiện một cách khác nhau. Trong tội cướp giật tài
sản, hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng hình thức: công khai và nhanh
chóng. Đây cũng là những dấu hiệu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định
tội, xác định trách nhiệm hình sự một cách đúng đắn.
Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở chỗ, tội phạm đã gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ. Sự gây thiệt hại này là một trong những nội dung biểu hiện của yếu tố
mặt khách quan của tội phạm. Đó là hậu quả nguy hiểm cho xã hội - hậu quả
của hành vi khách quan.
Như vậy, hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi khách quan phạm
tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Trong tội
cướp giật tài sản, hậu quả nguy hiểm cho xã hội trực tiếp là những thiệt hại
về vật chất nhưng dấu hiệu này không là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội
phạm song nó có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm
đã thực hiện.
3.Chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể
là con người cụ thể. Nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của
tội phạm khi thực hiện hành vi được qui định trong luật hình sự. Tội phạm
theo luật hình sự Việt Nam phải là hành vi có lỗi. Do vậy, chỉ những người có
điều kiện có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ
thể của tội phạm. Người có đủ điều kiện có lỗi, để trở thành chủ thể của tội
phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hai điều kiện: năng lực
trách nhiệm hình sự và độ tuổi là những dấu hiệu pháp lí bắt buộc của chủ thể
tội phạm. Như vậy, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm
hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.

cứu, quần chúng và dân phòng đã đuổi theo và truy bắt được cả hai tên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm sơ thẩm số 120 ngày 15/03/2001 của Tòa án
nhân dân tỉnh H tuyên: chỉ có Hoàng Ngọc T là chủ thể của tội cướp giật tài
sản vì T đã 20 tuổi, nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội
nhưng vẫn thực hiện hành vi đó, còn Lê Quốc N phải không phải chịu trách
nhiệm hình sự vì tính tại thời điểm đó, N mới 13 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự.
Chủ thể tội cướp giật tài sản là một trong bốn yếu tố trong cấu thành tội
phạm, nếu thiếu yếu tố này thì không cấu thành tội phạm.
4.Mặt chủ quan của tội phạm.
Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Mặt
khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là
hoạt động tâm lí bên trong của người phạm tội. Với ý nghĩa là một mặt của
hiện tượng thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại độc lập mà
luôn luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm. Mặt khách quan của tội
phạm là hoạt động tâm lí bên trong của người phạm tội, bao gồm các nội
dung: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Đối với tội cướp giật tài sản, mặt chủ
quan của tội phạm gồm dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực
hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội biết mình có hành vi công khai,
nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác, thấy trước hậu quả nguy
hiểm do hành vi của mình gây ra nhưng lại mong muốn hậu quả đó xảy ra,
mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trình phạm tội.
Trong mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản, ngoài lỗi là dấu hiệu bắt
buộc còn có động cơ và mục đích phạm tội.
Động cơ của tội cướp giật tài sản được hiểu là động lực bên trong thúc
đẩy người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một
cách cố ý.
Mục đích của tội cướp giật tài sản là kết quả trong ý thức chủ quan mà
người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status