ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HOÀNG LAN NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TUỔI
CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn: GS.TS. Võ Khánh Vinh
Chương 2 57
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN QUA 57
2.1.2. Tình hình vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do tác động của yếu tố độ tuổi 65
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua 67
2.2.1. Về cách tính tuổi 67
2.2.2. Về thời điểm tính tuổi 69
2.2.3. Căn cứ xác định tuổi 72
2.3. Đánh giá việc áp dụng các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua 79
2.3.1. Thuận lợi 79
2.3.2. Khó khăn 81
2.3.3. Tác động xã hội của vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua 83
Kết luận chương 2 83
Chương 3 84
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TUỔI 84
CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 84
3.1.2. Xu hướng xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các nước trên thế
giới.
86
3.1.3. Các yếu tố khác tác động đến vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự
91
3.2. Các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện những quy định của PLHS Việt Nam hiện
hành về tuổi chịu TNHS
92
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam năm 1999
92
Xây dựng cơ sở pháp lý phục vụ công tác xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
98
chưa thành niên thường là những hành vi đơn giản, ít nghiêm trọng, phạm tội do
hoàn cảnh, không gây ảnh hưởng đến trật tự an xã hội, đến cơ cấu gia đình và
thuần phong mỹ tục của dân tộc, thì những năm 1999 trở lại đây, hành vi phạm tội
của người chưa thành niên thường là rất nghiêm trọng, cướp tài sản, hiếp dâm, giết
người Ví dụ, năm 1998, Tòa án nhân dân xử 4.022 bị cáo chưa thành niên nhưng 4
có đến 114 bị cáo phạm tội cướp tài sản, 183 bị cáo phạm tội hiếp dâm và đến
năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 con số này tăng lên gần gấp đôi.
Cũng theo số liệu thống kê của Cục cảnh sát điều tra tội phạm hình sự (Bộ
Công an), chỉ riêng trong 5 năm (2000-2005) thực hiện Đề án Đấu tranh phòng
chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên thuộc
Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, đã phát hiện 47.000 vụ phạm pháp
hình sự do 64.500 em vị thành niên gây ra; trung bình hàng năm chiếm 1/4 tổng số
vụ phạm pháp hình sự trên toàn quốc. Trong đó đối tượng dưới 14 tuổi chiếm
13%, từ 14 đến 16 tuổi chiếm 34,7%, từ 16 đến 18 tuổi chiếm 52%. Từ năm 2005
đến nay, tình hình phạm tội ở lứa tuổi thành niên đang có dấu hiệu ngày càng cao
hơn, cả về mức độ lẫn sự nghiêm trọng của các vụ án. Chỉ trong năm 2006, riêng
trẻ em dưới 14 tuổi có gần 8.000 vụ vi phạm pháp luật, chiếm đến 70% tội phạm
vị thành niên và năm 2007, 2008 thì trung bình cũng chiếm hơn 8.100 vụ vi phạm
pháp luật. Con số này là một lời cảnh báo về tình trạng trẻ em nhỏ tuổi phạm tội.
Ngoài ra, một vấn đề cũng đáng lo ngại là cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, thời gian gần đây (hầu hết là ở những thành phố lớn, nơi đô thị có điều
kiện kinh tế xã hội phát triển) đã nổi lên tình trạng một số thanh niên, học sinh,
sinh viên, độ tuổi từ 14 đến 18, tụ tập ăn chơi thác loạn hoặc hình thành các băng
nhóm tội phạm có tổ chức, tổ chức các vụ đánh nhau, cướp giật, giết người, sử
dụng ma tuý hết sức nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận mà các phương tiện thông
tin đại chúng đã thường xuyên đăng tải.
Những con số trên cho thấy tội phạm chưa thành niên diễn biến khá phức
người cao tuổi đặt ra cho nhiều ngành khoa học (tâm lý-xã hội học, luật tố tụng
hình sự… ) đặc biệt là luật hình sự nên chăng có sự điều chỉnh về độ tuổi chịu
TNHS khi độ tuổi của những người thực hiện hành vi phạm tội ngày càng thấp
hoặc là quá cao so với trước đây. Hơn nữa, thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự
(BLHS) năm 1999 cho thấy việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự
(PLHS) về độ tuổi chịu TNHS còn nhiều bất cập, tồn tại và dẫn đến vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng. Công việc xác định tuổi của bị can, bị cáo cũng như người
bị hại còn nhiều khó khăn. Hiện nay, chưa có văn bản cụ thể nào hướng dẫn chi tiết
về việc xác định tuổi và áp dụng các quy định về tuổi đối với người phạm tội.
Ngoài ra, trong xã hội thực trạng làm giả giấy tờ, giấy tờ không thống nhất hoặc
không có giấy tờ để xác minh tuổi của người phạm tội ngày càng phổ biến với
nhiều lý do khác nhau, làm cho công tác điều tra, truy tố và xét xử gặp nhiều khó 1
Xem cụ thể hơn: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2006, tr.63. 6
khăn, đặc biệt đối với những trường hợp người phạm tội là người chưa thành niên.
Đặc biệt, việc áp dụng tuổi chịu TNHS ở nhiều nơi, ở từng thời kỳ còn chưa thật
thống nhất. Ngoài ra, điều kiện kinh tế mỗi vùng miền ở mỗi thời điểm là khác
nhau, do đó không thể giống nhau. BLHS năm 1999 quy định có phần sơ sài về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đồng nhất mọi cá thể ở các điều kiện kinh tế - xã hội
khác nhau trong cùng một độ tuổi, nhất là chủ thể đặc biệt với dấu hiệu độ tuổi chịu
TNHS còn thiếu quy phạm trong Phần chung của Bộ luật hay định nghĩa lập pháp
về tuổi và độ tuổi, về căn cứ xác định tuổi của người phạm tội dẫn đến việc hiểu và
áp dụng chưa thống nhất đòi hỏi cần phải hoàn thiện về mặt lập pháp.
Một vấn đề nữa đó là loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người cao tuổi
Nguyễn Ngọc Hòa; 5) Luận văn thạc sĩ luật học “Chủ thể của tội phạm theo luật
hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đăng Doanh, Trường đại học Luật Hà Nội,
1999; v.v…
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có liên quan đến tuổi
chịu TNHS, ví dụ như: Nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình phạt
của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ; bài về Xác định tuổi của người chưa thành
niên như thế nào cho đúng? của tác giả Lưu Đình Nghĩa; Nhân thân người phạm
tội - Một số vấn đề lý luận cơ bản của GS.TSKH. Lê Văn Cảm; Tiếp tục hoàn
thiện những quy định của BLHS trước yêu cầu mới của đất nước của tác giả Trịnh
Tiến Việt; v.v… đã được đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân và Tạp chí Kiểm sát
(tham khảo thêm ở phần danh mục tài liệu tham khảo ở cuối đề cương này).
3. Nhiệm vụ của luận văn
Tuổi chịu TNHS là một trong những dấu hiệu quan trọng thuộc chủ thể của
tội phạm của cấu thành tội phạm và là đặc điểm thiết yếu thuộc về nhân thân
người phạm tội. Nghiên cứu tuổi chịu TNHS có ý nghĩa to lớn trong việc đấu
tranh phòng và chống tội phạm, dựa trên đặc điểm về tâm lý độ tuổi.
Tuổi của người phạm tội là dấu hiệu cho phép xác định tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, ảnh hưởng của độ tuổi đến việc thực hiện tội
phạm, mà nó còn là dấu hiệu mang tính chất pháp lý có ý nghĩa quan trong việc xử
lý người chưa thành niên phạm tội. Tuổi chịu TNHS là vấn đề vô cùng quan trọng
khi người phạm tội là người chưa thành niên, nó liên quan đến vấn đề có TNHS
hay không. Vì vậy, khi nghiên cứu về chế định này, cần phải giải quyết được một
số vấn đề sau: 8
1) Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 về chế định tuổi chịu TNHS
trong sự so sánh với quy định của một số nước trên thế giới, sự ảnh hưởng của lịch
sử có dựa trên các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm tâm-sinh lý của
con người trong từng thời kỳ để từ đó đưa ra một số nhận xét có giá trị tham khảo
áp dụng.
Luận văn có giá trị là tư liệu tham khảo cho các nhà lập pháp, hoạch định
chính sách, các nhà tâm lý - xã hội học, các nhà khoa học - thực tiễn, sinh viên,
học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành luật hình sự.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm ba chương chính với nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật
hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
trong hoạt động áp dụng luật hình sự ở Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của tuổi chịu TNHS
1.1.1. Khái niệm tuổi chịu TNHS
Theo Đại từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa thông tin năm 1998 tr.1750 thì
tuổi là: “Năm, dùng làm đơn vị tính thời gian sống của người, là khoảng thời gian
từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào đó”.
Như vậy, tuổi của một người được tính từ khi người đó sinh ra cho đến thời
điểm tính tuổi của người đó. Tuổi được tính theo năm vì đó là quãng thời gian kết
thúc một chu kỳ sinh học của con người phù hợp với sự vận động, phát triển
chung của thế giới kết thúc một vòng quy của trái đất quanh mặt trời.
Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu
quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình”[ Từ điển giải thích thuật ngữ
luật học, Nxb. Công an nhân dân 1999 tr.21]
định theo từng ngành luật. Mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về dộ tuổi.
Chính vì vậy, về nguyên tắc, khi xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chúng ta 11
cần căn cứ vào những quy định của luật hình sự mà không viện dẫn các quy định
của các ngành luật khác. Chỉ trong những trường hợp luật hình sự dẫn chiếu sang
quy định của các ngành luật khác thì chúng ta mới sử dụng cách tính tuổi của
ngành luật đó để xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
1.1.2.2. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là tuổi tròn
Mỗi ngành luật đều có cách thức để xác định tuổi của chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật do ngành luật mình điều chỉnh. Đối với chủ thể của tội phạm, luật
hình sự Việt Nam xác định tuổi là theo tuổi tròn. Điều này thể hiện trong các quy
định cụ thể. Tại điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm
hình sự đều quy định: “người từ đủ 16 tuổi ” và “người từ đủ 14 tuổi”. tuổi tròn ở
đây là ngưỡng để tỉnh tuổi tối thiểu của người phạm tội và tuổi tối đa của người bị
hại trong trường hợp tuổi của người bị hại chi phối tới việc xác định trách nhiệm
hình sự của người phạm tội. Cách tính tuổi tròn được xác định bằng cách lấy ngày
sinh nhật gần nhất của người đó để tính.
Trong một số trường hợp đặc biệt, khi luật hình sự dẫn chiếu sang ngành luật
khác thì chúng ta áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó.
1.1.2.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự tính từ thời điểm người đó sinh ra đến
thời điển người đó thực hiện hành vi phạm tội
Thời điểm đầu để xác định tuổi của người phạm tội là ngày người đó được
sinh ra. Thời điểm sinh được xác định dựa và các loại giấy tờ có giá trị pháp lý
gắn liền với nhân thân của người đó như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng
minh thư nhân dân, cá loại văn bằng, chứng chỉ Nhưng trên thực tế không phải
khi nào chúng ta cũng có các loại giấy tờ trên để xác định tuổi. Trong nhiều trường
hợp, chúng ta không có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định ngày sinh của người
phạm tội. Trong những trường hợp này, chúng ta phải xác định ngày sinh của
cũng hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ… vì trẻ em
có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó, sự khác nhau giữa
trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất. Những nghiên cứu của tâm lý học
duy vật biện chứng đã khẳng định: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ
em là trẻ em, nói vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em. Ngay từ khi cất
tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội. Việc
nuôi nấng, dạy dỗ nó khải khác với con vật. Để nó tiếp thu được nền văn hóa xã
hội của loài người, đòi hỏi phải nuôi dạy theo kiểu người, trẻ phải được bú sữa mẹ,
được ăn chín, ủ ấm và nhất là cần được âu yếm, thương yêu. Ngay từ khi ra đời 13
đứa trẻ đã có nhu cầu đặc trưng của con người - nhu cầu giao tiếp với người lớn.
Người lớn cần có những hình thức riêng, “ngôn ngữ” riêng để giao tiếp với trẻ.
Quan niệm duy tâm coi sự phát triển tâm lý trẻ em chỉ là sự tăng lên hoặc
giảm đi về số lượng các hiện tượng đang phát triển mà không có sự chuyển biến
về chất lượng. Ví dụ: họ coi sự phát triển tâm lý trẻ em là sự tăng số lượng từ của
trẻ, tăng tốc độ hình thành kỹ xảo, tăng thời gian tập trung chú ý, hay khối lượng
tri thức được giữ lại trong trí nhớ… Sự tăng về số lượng của các hiện tượng tâm lý
có ý nghĩa nhất định trong sự phát triển của trẻ, nhưng không thể giới hạn toàn bộ
sự phát triển tâm lý của trẻ em vào những chỉ số ấy. Từ đó, những người theo quan
niệm này đã nhìn nhận không kém sai lầm về nguồn gốc của sự phát triển tâm lý.
Quan niệm này xem sự phát triển của mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra
một cách tự phát. Sự phát triển diễn ra dưới ảnh hưởng của một sức mạnh nào đó
mà người ta không thể điều khiển được, không nhận thức được.
Những quan điểm duy tâm thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất
biến hoặc tiền định, hoặc do tiềm năng sinh vật di truyền, hoặc là ảnh hưởng của
môi trường bất biến. Với quan niệm như vậy thì trong trường hợp nào con em của
tầng lớp có đặc quyền, đặc lợi cũng đều có trình độ phát triển tâm lý hơn hẳn con
em giai cấp bóc lột (do có yếu tố di truyền tốt hơn hoặc do họ sống trong môi
nhi đồng ) có sự cải biến về chất của các quá trình tâm lý và toàn bộ nhân cách
của trẻ.
Sự phát triển tâm lý trẻ em là một quá trình trẻ em lĩnh hội văn hoá - xã hội
của loài người dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của người lớn thông qua hoạt động của
bản thân làm cho tâm lý của trẻ được hình thành và phát triển.
Trẻ em không tự lớn lên giữa môi trường, nó chỉ lĩnh hội được những kinh
nghiệm xã hội khi có vai trò trung gian của người lớn. Nhờ sự tiếp xúc với người
lớn và hướng dẫn của người người lớn mà những quá trình nhận thức, kỹ năng, kĩ
xảo và cả những nhu cầu xã hội của trẻ được hình thành. Người lớn giúp trẻ em
nắm được ngôn ngữ, phương thức hoạt động…
Có thể nói, sự phát triển tâm lý là một quá trình kế thừa. Bất cứ một mức độ
nào của trình độ trước cũng là sự chuẩn bị cho trình độ sau. Yếu tố tâm lý lúc đầu
ở vị trí thứ yếu, chuẩn bị cho tâm lý sau chuyển sang vị trí chủ yếu.
Sự phát triển của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng, là một quá
trình liên tục ngay từ khi mới sinh ra, nó phát triển cùng với sự phát triển sinh lý.
Quá trình này không phẳng lặng mà có khủng hoảng và đột biến. Chính hoạt động
của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lí của trẻ được hình thành và 15
phát triển. Đồng thời, các nhà tâm lí duy vật biện chứng cũng thừa nhận rằng, sự
phát triển tâm lí chỉ có thể xảy ra trên nền của một cơ sở vật chất nhất định (cơ thể
trẻ em). Những đặc điểm cơ thể là điều kiện cần thiết, là tiền đề của sự phát triển
tâm lí trẻ em. Sự phát triển tâm lí mỗi người dựa trên những điều kiện riêng của cơ
thể, nhưng những điều kiện này không quyết định trước sự phát triển tâm lí, không
phải là động lực của sự phát triển tâm lí. Sự phát triển tâm lí còn phụ thuộc vào
một tổ hợp những yếu tố khác nữa. Trẻ phải sống và hoạt động trong điều kiện xã
hội tương ứng thì tâm lí của nó mới được phát triển.
Căn cứ vào những thay đổi cơ bản trong điều kiện sống và hoạt của trẻ, căn
cứ vào những thay đổi trong cấu trúc tâm lí của trẻ và cả sự trưởng thành cơ thể
tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ
tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau
như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị “
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách
dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn(người trưởng thành)
tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển : thể chất, trí tuệ,
tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.
Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người
lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều
kiện sống, hoạt động…của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển
các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt
động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt. Những yếu điểm
của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập,
không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt
động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.
Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng
về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong
đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có
tính độc lập, tự chủ hơn.
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các
hướng sau:
Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng
còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít. 17
Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến
những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với thời cuộc xã hội, coi trọng việc giao
tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong
18
vẻ bề ngoài của mình. Chỉ một sự mỉa mai chế giễu nhẹ nhàng đều có thể gây cho
các em những phản ứng mạnh mẽ, điều này lý giải việc trẻ thực hiện những hành
vi vi phạm pháp luật hình sự một cách bột phát, nhất thời.
Sự phát triển của hệ tim - mạch cũng không cân đối, thể tích tim tăng nhanh,
hoạt động mạnh hơn nhưng đường kính phát triển chậm hơn. Điều này gây nên rối
loạn tạm thời của hệ tuần hoàn máu, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay nhức đầu,
chóng mặt và mệt mỏi khi làm việc.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến giáp trạng), thường dẫn
đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh. Do đó, trẻ em trong độ tuổi từ 11 đến dưới
15 thường dễ xúc động, dễ bực tức, nổi khùng. Vì thế, có thể thấy các em thường có
những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động.
Hệ thần kinh của trẻ trong độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi còn chưa có khả năng
chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài. Do tác động của những kích
thích như thế, thường gây cho các em tình trạng bị ức chế hay ngược lại xảy ra
tình trạng bị kích động mạnh dẫn đến những hành động không điều khiển hành vi
của mình một cách chuẩn mực. Vì vậy, tất cả những sự tác động từ bên ngoài đến
não bộ đều ảnh hưởng lớn đến tâm lý của trẻ trong lứa tuổi này, có thể làm cho các
em ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, tản mạn, có thể cả thực hiện những hành vi vi
phạm pháp luật, không đúng với bản chất của các em.
Một đặc điểm sinh lý cần phải chú ý đến lứa tuổi này, đó là thời kỳ phát dục.
Sự phát dục ở lứa tuổi từ 11 đến 15 là một hiện tượng bình thường, diễn ra theo
quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội.
Sự phát dục ở các em trai vào khoảng 15, 16 tuổi, ở các em nữ vào khoảng
13, 14 tuổi, biểu hiện ở thời kỳ này là cơ quan sinh dục phát triển và xuất hiện
những dấu hiệu phụ của giới tính. Thời kỳ phát dục sớm hay muộn cũng như sự
phát triển sinh lý ở các em chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố dân cư và yếu tố khí
hậu. Các em miền Nam thường phát dục sớm hơn các em miền Bắc. Ngoài ra còn
phụ thuộc vào chế độ sinh hoạt cá nhân, sức khỏe bệnh tật, ăn uống, lao động,
hành vi nguy hiểm của họ không xuất phát hoàn toàn từ bản chất con người họ.
Hơn nữa nhận thức và tri thức của lứa tuổi này còn rất hạn chế, vì vậy việc trừng
trị họ bằng các chế tài hình sự là chưa cần thiết mà cần có các biện pháp khác để
tiếp tục nuôi dướng giáo dục họ hình thành nhân cách. Từ thực tiễn đó cho nên 20
luật hình sự Việt Nam hiện hành xác định người dưới 14 tuổi không phải chịu
trách nhiệm hình sự về bất kỳ hành vi nguy hiểm nào do họ gây ra.
Lứa tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là lứa tuổi đã hình thành cơ bàn về nhân
cách, các xử sự của họ đã thể hiện tính độc lập cao hơn rất nhiều so với lứa tuổi
dưới 14. Tuy nhiên hoạt động của họ vẫn đang nằm dưới sự giám sát của gia đình,
nhà trường và xã hội vì vậy tỉ lệ lứa tuổi này xâm phạm vào các quan hệ được luật
hình sự bảo vệ vẫn còn rất ít. Hoạt động của họ vẫn chứa đựng nhiều yếu tố cảm
tính, trước những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Nhưng thực tiễn cũng đã cho thấy
một số trường hợp, hành vi của những người ở lứa tuổi này cũng đã gây ra cho xã
hội những thiết hại rất lớn và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng thậm chí đặc
biệt nghiêm trọng. Vì vậy, trách nhiệm hình sự đối với lứa tuổi này cũng chỉ được
xác định trong những trường hợp nhất định.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng cho thấy những người từ 16
tuổi trở lên là lứa tuổi phổ biến nhất thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm
phạm và các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Thực tiễn cũng cho thấy, bắt
đầu từ 16 tuổi trở lên, hầu như các hành động của cá nhân trong quá trình giao tiếp
xã hội đều do họ tự quyết định. Vì vậy pháp luật hình sự nước ta mới xác định từ
lứa tuổi này trở lên họ phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm do họ gây ra.
Cũng trên cơ sở thực tiễn, hiện nay đang có ý kiến cho rằng tỉ lệ người già
phạm tội là rất ít, đặc biệt là các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, vì vậy luật hình
sự nên quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già phạm tội.
Tóm lại để xác định các vấn đề liên quan đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
trong luật hình sự, các nhà làm luật cần phải căn cứ vào cả hai yếu tố là cơ sở tâm
của từng quốc gia cũng như phụ thuộc vào từng vùng miền trong một quốc gia hay
phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của quốc gia đó ở các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Ngược lại nếu một người chưa đạt đến một độ tuổi nhất định thì không thể coi là
người đó có năng lực trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự gắn liền
với đặc điểm tâm sinh lý của người thực hiện hành vi, và người thực hiện hành vi
đó chỉ có thể có khả năng nhận thức cũng như điêu khiển hành vi khi đã trải qua
quá trình hoạt động và giáo dục nhất định, hay là phải đạt đến một độ tuổi cụ thể
theo quy định của Pháp luật.
Luật hình sự các quốc gia dựa trên cơ sở kết quả các công trình nghiên cứu,
khảo sát tâm lí cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của mình đã quy định độ
tuổi bắt đầu có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và độ tuổi có năng lực trách
nhiệm hình sự đầy đủ, mức tuổi cụ thể của tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm 22
hình sự và tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ được xác định ở mỗi quốc
gia và có thể ở mỗi thời gian nhất định trong các quốc gia không giống nhau.
- Mối quan hệ giữa tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con
người cụ thể. Nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi
thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự. Tội phạm theo luật hình sự
Việt Nam phải có tính có lỗi. Do vậy, chỉ những người có điều kiện để có lỗi khi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm và chỉ
đối với những người này việc áp dụng viện pháp trách nhiệm hình sự mới đạt
được mục đích giáo dục, cải tạo.
1.3. Những quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự qua các thời kỳ lịch sử
Việt Nam
1.3.1. Thời kỳ phong kiến
Đặc tính giai cấp của Luật Hình sự được thể hiện rõ nét trong sự hình thành
và phát triển của lịch sử Nhà nước Việt Nam. Sự hình thành Nhà nước trong lịch
thư để dân thi hành cho tiện. Trong Bộ luật hình thư, nhà Lý quy định thể lệ chuộc
tội bằng tiền cho những người già phạm tội (trên 70 tuổi), cho trẻ em dưới 15 tuổi,
cho người tàn tật, cho những người thân thích của nhà vua trừ phạm vào thập ác
tội (10 tội): phản quốc, đại nghịch, giết vua, giết chưa mẹ, nổi loại, phản bội, hung
ác bạo nghịch, không có đạo đức, bất kính, bất hiếu, loạn luân. Như vậy đã có
nhưng quy định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho những độ tuổi nhất định. Hình
phạt được sử dụng cực kỳ dã man: chặt đầu, chặt chân tay, chôn sống; treo đầu
trên cây tre
Từ thế kỷ thứ XIII đến thế kỷ XV là thời kỳ thống trị đất nước của nhà Trần
(Trần Thái Tông, Trần Dụ Tông ). Nhà Trần đã sử dụng Bộ Hình thư của nhà Lý
để trị vì đất nước. Nhưng đến năm 1244, nhà Trần có xây dựng Bộ Hình thư mới,
trong đó nhà Trần vẫn sử dụng lệ chuộc tiền, nhưng có quy định thêm: mưu phản
thì giết hết thân tộc vì đó là tội lớn nhất; phạm tội trộm thì chặt tay hoặc cho voi
xéo Cuối thế kỷ XIV nhà Trần trở nên mục rỗng, thối nát. Trong hoàn cảnh đó,
Hồ Quý Ly phế truất vua Trần, lập ra triều Hồ. Mặc dù trong thời gian ngắn ngủi.
Hồ Quý Ly đã có nhiều cải cách táo bạo nhằm cải tổ đất nước, xây dựng pháp luật
trên các lĩnh vực, nghiêm khắc trừng trị những kẻ làm bạc giả, hành nghề mê tín dị
đoan, nấu rượu lậu và cờ bạc. 24
Thế kỷ XV, là thời kỳ nhà Lê, sau chiến thắng của Lê Lợi chống quân xâm
lược nhà Minh, Nhà nước Việt Nam thời kỳ đó phát triển thành Nhà nước phong
kiến Trung ương tập quyền, huỷ bỏ dần quyền tự trị của công xã, đẩy mạnh quá
trình phong kiến hóa cơ cấu xã hội Việt Nam, phát triển các lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật và các bộ môn khoa học khác (khắc tên tuổi những người đỗ tiến sỹ ở
Văn Miếu). Trong lĩnh vực xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, bắt đầu từ
thời Lê Thái Tổ, đến thời Lê Thánh Tông đã xây xong Bộ Luật Hồng Đức, thường
được gọi là Bộ Quốc Triều Hình Luật gồm 6 quyển, 13 chương với 722 điều luật.
Bộ Luật Hồng Đức là đỉnh cao trong thành tựu luật pháp của các Nhà nước phong