ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG Khai thác chung trong luật biển quốc tế và
thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam
với các nước láng giềng
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến
Hà nội - 2005
1.5.3. Các phán quyết của Toà án quốc tế và khuyến nghị của Uỷ ban
hòa giải: 40
CHƢƠNG 2 43
CÁC DẠNG KHAI THÁC CHUNG ĐIỂN HÌNH 43
TRÊN THẾ GIỚI 43
2.1. KHAI THÁC CHUNG DẦU KHÍ 43
2
2.1.1 Khai thác chung nơi đƣờng biên giới chƣa đƣợc xác định 44
2.1.2 Khai thác chung nơi đƣờng biên giới đã đƣợc xác định 54
2.2. KHAI THÁC CHUNG NGHỀ CÁ 59
2.2.1 Hiệp định ngư nghiệp giữa CHND Trung Hoa và Nhật Bản ngày
11/11/1997 60
2.2.2 Hiệp định ngư nghiệp giữa Nhật Bản và Đại Hàn Dân Quốc ngày
28/11/1998 63
2.3. KHAI THÁC CHUNG HỖN HỢP 66
2.3.1 Thỏa thuận Ghinê Bitxao - Xênêgan ngày 14-10-1993 66
2.3.2 Hiệp định Côlômbia - Jamaica ngày 12 - 11 - 1993 68
CHƢƠNG 3 KHAI THÁC CHUNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƢỚC
LÁNG GIỀNG 72
3.1 TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT
NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP 72
3.1.1 Tình hình tranh chấp ở biển Đông 72
3.1.2. Quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp 77
3.2. KHAI THÁC CHUNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƢỚC
LÁNG GIỀNG 79
3.2.1 Hiệp định Vùng nƣớc lịch sử Việt Nam - Cămpuchia 7/7/1982 . 79
3.2.2 Khai thác chung giữa Việt Nam và Malayxia 90
3.2.3. Việt Nam với Trung Quốc và Hiệp định Hợp tác Nghề cá Vịnh
chồng lấn lên nhau. Và như vậy, tiếp theo đó cần phải có những thoả thuận về
đường ranh giới phân chia thẩm quyền giữa các bên. Tuy nhiên để đạt được
những thoả thuận này không phải là việc đơn giản mà đòi hỏi một quá trình
2
lâu dài và hết sức tốn kém, thậm chí có thể gây ra sự căng thẳng về chính trị,
xung đột về quân sự v.v.
Trù định cho tình huống đó, Công ước Luật Biển 1982 có những quy
định làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển chung những vùng tranh chấp này.
Theo khoản 3 điều 74 và điều 83 của Công ước: "trong khi chờ đợi ký các
thoả thuận mới ở khoản 1 các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và
hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực
tiễn và không để phương hại hay cản trở đến việc ký kết các thoả thuận dứt
khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại
đến việc hoạch định cuối cùng ".
"Các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn” đã được các quốc gia vận
dụng linh hoạt và thể hiện qua những thoả thuận khai thác chung. Trong khi
đàm phán giải quyết tranh chấp gặp bế tắc, nhu cầu khai thác tài nguyên lại rất
lớn đã khiến các bên tìm đến giải pháp này.
Trên thực tế các quốc gia còn tìm đến giải pháp khai thác chung ở cả
những nơi đã có đường biên giới xác định, đó là những trường hợp khi có mỏ
tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới hoặc để quản lý hiệu quả
những đàn cá xuyên quốc gia. Điều này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các quốc gia liên quan.
Có thể nói, khai thác chung là giải pháp tương đối khả thi nhằm chung
hoà lợi ích giữa các quốc gia, giảm thiểu căng thẳng chính trị, góp phần giải
quyết nhu cầu kinh tế cấp bách cho sự phát triển của các quốc gia ven biển.
Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài với diện tích vào khoảng 1 triệu
km
biển quốc tế, cùng với việc phân tích các dạng khai thác chung điển hình trên
thế giới, rút ra những ưu điểm và những hạn chế của các mô hình. Đồng thời
nghiên cứu những nhân tố pháp lý cơ bản nhất của các thỏa thuận khai thác
4
chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, thấy được những thuận lợi và
khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất những kiến nghị để góp
phần khai thác và quản lý hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên trong vùng khai
thác chung, bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ vững chủ quyền, quyền chủ
quyền của quốc gia. Đưa ra và phân tích những đóng góp của các mô hình
khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng đối với việc làm
phong phú thêm cho lý luận và thực tiễn khai thác chung trên thế giới.
Trong phạm vi đề tài, tôi chú trọng tập trung nghiên cứu các phần chính
sau đây:
+ Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về khai thác
chung. Trong đó bao gồm các vấn đề như định nghĩa, đặc điểm, nội dung của
khai thác chung, lịch sử khai thác chung, cơ sở pháp lý của khai thác chung
+ Nghiên cứu và đưa ra một bức tranh tổng quan về các dạng khai thác
chung điển hình trên thế giới.
+ Thực tiễn áp dụng mô hình khai thác chung giữa Việt Nam với các
nước láng giềng, qua đó đưa ra thực trạng và một số ý kiến đề xuất xung
quanh việc áp dụng khai thác chung giữa Việt Nam với các nước trong khu
vực, dự báo về khả năng tiến hành khai thác chung trong tương lai giữa Việt
Nam với các nước liên quan.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu cơ bản dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương
pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
4. Kết cấu của luận văn:
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC
CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
1.1. KHÁI NIỆM KHAI THÁC CHUNG
1.1.1. Định nghĩa khai thác chung
Biển chiếm hơn 2/3 diện tích bề mặt trái đất, biển không những đem đến
cho con người giá trị vật chất mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần,
biển chứa đựng tiềm năng về thuỷ sản, về giao thông vận tải, du lịch,v.v
Trong lòng đất dưới đáy biển con người còn tìm thấy các mỏ dầu, khí, khoáng
sản đem lại lợi ích kinh tế cao.
Con người từ xưa đến nay luôn thể hiện khát vọng chinh phục biển và
mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, nhất là các quốc gia ven biển. Tuy
nhiên thế giới rộng lớn cũng không thể trao tặng một cách công bằng tài
nguyên biển cho tất cả các quốc gia, đã có một số quốc gia ở vào vị trí bất lợi
về biển.
Như vậy là song song tồn tại hai nhóm quốc gia, một nhóm đấu tranh ủng
hộ cho nguyên tắc “Thềm lục địa kéo dài”, “Chủ quyền quốc gia trên biển”
đó là các quốc gia ven biển và một nhóm quốc gia ủng hộ cho nguyên tắc “Tự
do biển cả”. Thực tiễn đó dẫn đến sự cần thiết phải có những nguyên tắc, quy
phạm pháp lý với vai trò như là những công cụ hữu hiệu để điều hoà lợi ích
7
giữa các quốc gia trong quá trình khai thác và sử dụng biển, đại dương. Luật
Biển Quốc tế đã ra đời trong bối cảnh đó. Đây là một nghành luật độc lập
trong hệ thống pháp luật quốc tế và được hình thành từ rất sớm
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp
liền với lãnh hải đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo
đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của
các quốc gia khác đều do quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.( Điều
35 khoản 2) và “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý
kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. (Điều 57, khoản 2).
Hai tiêu chuẩn của Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa là độ sâu
200m nước và khả năng kỹ thuật khai thác cho phép đã được thay thế bằng hai
tiêu chuẩn mới của Công ước 1982 đó là tiêu chuẩn khoảng cách và sự kéo dài
tự nhiên.
Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới
đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài
tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục
địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý
khi bờ ngoài của rìa thềm lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn.
(Điều 76, khoản 2).
Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo
dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia
ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình tới khoảng
cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng
sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý.
9
Việc mở rộng thẩm quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo quy
định của Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến ở những vùng biển hẹp, yêu
sách của các quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ chống lấn
lên nhau. Trong khi việc hoạch định ranh giới các vùng biển là cả một quá
trình thoả thuận lâu dài và tốn kém, các yếu tố lãnh thổ, kinh tế, chính trị, xã
hội luôn tồn tại trong các cuộc tranh chấp trên biển và đan xen hết sức phức
Trong thực tiễn, các dạng khai thác chung trên thế giới là vô cùng đa
dạng và phong phú. Khai thác chung cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều trung
tâm nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới, như Trung tâm Đông Tây ở Honolulu -
Ha Oai hay Viện Luật quốc tế và Luật so sánh của Anh.v.v. Nhiều cuộc hội
thảo, hội nghị quốc tế về vấn đề này đã được tổ chức liên tiếp. Hội thảo năm
1980 về tiềm năng hydrocacbon và khai thác chung ở Biển Nam Trung Hoa;
Hội thảo lần thứ hai năm 1983 ở Hololulu; Hội thảo lần thứ ba năm 1985 ở
Băng Cốc - Thái Lan; Hội thảo lần thứ tư năm 1989 ở Bali (Inđônêxia); Hội
thảo ở London năm 1990 Tuy nhiên một số học giả vẫn còn hoài nghi về
khả năng có cần thiết phải thảo luận về khái niệm khai thác chung? Thật vậy,
trong bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều đường biên giới biển chưa được xác
định và tranh chấp trong khai thác tài nguyên vẫn thường xuyên xảy ra thì
việc đưa ra một khái niệm thống nhất về khai thác chung là hết sức cần thiết.
Cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào trong định nghĩa khai
thác chung, điều này đã được Giáo sư - Tiến sỹ luật quốc tế Masahiro Miyoshi
(Khoa luật trường Đại học Aichi- Nhật bản) khẳng định trong bản tóm tắt các
tham luận tại ba cuộc hội thảo của Trung tâm Đông Tây: "Khái niệm Khai
thác chung quốc tế không được hiểu và sử dụng một cách thống nhất "
[45, Tr.43]. Theo Ông có 2 dạng khai thác chung:
11
Một là: Khai thác chung khi mà việc phân định biên giới đã được
giải quyết.
Hai là: Chế độ khai thác chung đối với khu vực có đường biên giới đang
phân định. [45, Tr.23]
Mặc dù mô hình khai thác chung đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới
nhưng vẫn chưa có một định nghĩa tổng quát cho vấn đề này. Sở dĩ như vậy là
vì các học giả chỉ định nghĩa khai thác chung theo mục đích nghiên cứu riêng
của mình và vì vậy khai thác chung được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau.
dò và khai thác các tài nguyên thiên nhiên của khu vực và ở đó các quốc gia
hữu quan đồng ý cam kết, thăm dò và khai thác dưới một dạng chung nào đó
hoặc một sự dàn xếp chung” [44, Tr.55]. Tại cuộc hội thảo của Trung tâm
Đông - Tây tháng 8/1988, một nhóm luật sư đã đưa ra lời nhận xét "Khai thác
chung thường được sử dụng như một thuật ngữ chung chung, bao gồm các
hoạt động từ việc hợp nhất hoá các tài nguyên có chung đến việc đơn phương
khai thác tài nguyên có chung ở ngoài đường ranh giới quy định và những
hình thức khai thác đa dạng nằm giữa hai loại này”. [45]
Còn nhóm chuyên gia của Viện Luật Quốc tế và Luật So sánh Anh lại
định nghĩa khai thác chung một cách cụ thể hơn, với nỗ lực nhằm xây dựng
một thoả thuận mẫu cho các quốc gia có nhu cầu khai thác chung dầu và khí
ngoài khơi. Nhóm chuyên gia này định nghĩa: "Khai thác chung như là một
thoả thuận giữa hai quốc gia để khai thác tài nguyên ở một vùng đã được
vạch ra ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa mà ở đó cả hai
quốc gia hay một trong hai quốc gia được luật quốc tế trao cho quyền để từ
đó cùng nhau chia sẻ theo những phần đã được thảo luận thông qua việc hợp
tác liên quốc gia và bằng các biện pháp riêng của từng quốc gia”. [44, Tr.45]
13
Khai thác chung được coi là giải pháp ưu tiên trong các "dàn xếp tạm
thời" và là sự lựa chọn mang tính khả thi cao được nhiều quốc gia áp dụng. Vì
vậy, cần thiết phải có một định nghĩa thống nhất nhằm tạo cơ sở cho việc khai
thác chung.
Cụm từ "Khai thác chung" được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh "Joint
development" nghĩa gốc là "Phát triển chung". Tuy nhiên, theo các nhà nghiên
cứu Việt Nam thì “khai thác chung” không có nghĩa là hẹp hơn “phát triển
chung”. Khai thác chung cần phải hiểu không đơn thuần chỉ là khai thác
chung một tài nguyên nào đó mà bao gồm cả các hoạt động như thăm dò,
nghiên cứu khoa học, quản lý, bảo vệ môi trường, xây dựng đảo nhân tạo.v.v
Đặc biệt khai thác chung không làm ảnh hưởng đến việc phân định vùng
biển giữa các quốc gia và không nhất thiết phải là một cam kết lâu dài hay
vĩnh cửu. Khai thác chung cũng không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với các
quốc gia. Trên thực tế đã có một số thỏa thuận khai thác chung trở thành
những thỏa thuận vĩnh cửu, ví dụ như: Thỏa thuận giữa Iceland và Janmayen
(10/1981) hay giữa Bahrain và Ảrập Xêút (02/1958).
Thỏa thuận khai thác chung không nhất thiết phải bao gồm các hoạt động
diễn ra trong khu vực chồng lấn. Ví dụ, thỏa thuận giữa Nhật Bản và Hàn
Quốc chỉ nhằm phát triển về tài nguyên thiên nhiên; Thỏa thuận giữa Việt
Nam và Malayxia chỉ để khai thác chung dầu khí. Tuy nhiên cũng có những
thỏa thuận đề cập đến khá nhiều vấn đề như Thỏa thuận giữa Ghinê Bitxao và
Xênêgan, các vấn đề khai thác chung dầu khí, khai thác chung nghề cá và các
hoạt động khác diễn ra trong khu vực chồng lấn đều được đề cập đến.
Vấn đề về đường biên giới hầu như không được đề cập đến trong thỏa
thuận khai thác chung. Điều này sẽ giúp các bên tránh được những khó khăn
15
trong quá trình xây dựng vùng khai thác chung. Ví dụ trong thỏa thuận giữa Ả
rập Xêút và Suđăng, thay vì vạch đường biên giới người ta quyết định chọn
toàn bộ khu vực thềm lục địa sâu dưới 1000 m để khai thác chung.
Khai thác chung không những được áp dụng tại khu vực chồng lấn mà
đường biên giới chưa được phân định, giải pháp này còn được áp dụng trong
trường hợp có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới để tối ưu
hóa phát triển mỏ hoặc để quản lý và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên sinh
vật phong phú tại khu vực này.
Tùy thuộc vào nội dung khai thác chung mà các bên định ra một quy chế
quản lý riêng cho khu vực khai thác chung. Thông thường các bên phân khu
vực quản lý hoặc áp dụng một chế độ quản lý chung, các bên cùng khai thác
và chia đều nguồn lợi. Nhìn chung quy chế này là hết sức mềm dẻo.
tại nơi đường biên giới đã được xác định thì các bên có thể căn cứ vào vị trí
mỏ dầu hoặc tài nguyên khác để xác định phạm vi khai thác chung, ví dụ như
trường hợp hợp nhất hóa mỏ khí Frigg Anh - Nauy. Ngoài ra cũng có những
thỏa thuận mà phạm vi khai thác chung còn vượt quá cả khu vực đang có
tranh chấp như trường hợp khai thác chung giữa Côoét và Ảrập Sauđi: khai
thác chung không những áp dụng cho “khu vực trung lập” có trước mà còn
được áp dụng cho cả thềm lục địa tại vùng biển bên ngoài khu vực đó. Hoặc
khu vực hợp tác giữa Băng đảo và Nauy, hai bên thống nhất lấy lớp đá nham
thạch trầm tích có khả năng chứa chất dầu mỏ làm phạm vi khai thác chung.
[5]
b. Phân chia phạm vi quản lý:
Bên cạnh việc xác định phạm vi khai thác chung, các nước còn thỏa
thuận về sự phân chia phạm vi quản lý. Đối với những khu vực có sự tranh
17
chấp về chủ quyền thì ngoài việc quy định rõ là không để ảnh hưởng tới yêu
sách chủ quyền của bất kỳ nước hữu quan nào còn phải xác định quyền quản
lý của các nước ở mỗi khu vực riêng biệt. Ví dụ: Hiệp định hợp tác Nhật Bản -
Hàn Quốc lấy mỗi “thứ khu” làm một đơn nguyên, ở mỗi “thứ khu” công ty
được chọn làm “Xí nghiệp khai thác” nếu thuộc người được nhượng quyền
của nước ký kết bên A thì pháp luật quy định điều lệ của nước A được áp
dụng ở thứ khu ấy.
Còn trong trường hợp khai thác chung tại nơi đường biên giới đã được
xác định thì các nước thường lấy đường biên giới đó để phân chia quyền quản
lý của mỗi bên. Hiệp ước giữa Aixơlen và Nauy quy định mỗi bên áp dụng
quyền lập pháp, chính sách dầu mỏ, quy tắc về điều lệ thăm dò khai thác mỏ,
biện pháp đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường ở bên đường phân giới phía
mình và đảm nhận trách nhiệm chấp hành. Hiệp ước giữa Kuoét và Ảrập
Sauđi quy định ngoài việc không xâm phạm đến quyền lợi của hai bên đối với
chung lại thì có thể phân làm hai mô hình cơ quan quản lý chủ yếu, đó là:
Dạng thứ nhất: Theo đó cơ quan quản lý chung có quyền lực tương đối
mạnh với quyền giám sát và quyết định hầu hết các vấn đề như trong các thỏa
thuận giữa Thái Lan - Malayxia, Ảrâp Xêút - Xuđăng, Ôxtrâylia - Inđônêxia
Với tư cách pháp nhân đầy đủ và thẩm quyền cấp phép, quy định các điều
khoản và các trường hợp miễn trừ và tham gia vào các hợp đồng khai thác với
các công ty nước ngoài [4]. Cơ quan quyền lực chung Malayxia - Thái Lan có
quyền thay mặt các nước hữu quan cấp giấy phép cho hoạt động thăm dò và
khai thác tài nguyên thiên nhiên Hay như “Uỷ ban hợp tác” Ảrâp Xêút -
Suđăng với vai trò như phụ trách điều tra và phân định khu vực sở hữu chung,
nghiên cứu vấn đề thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khu vực,
19
khích lệ cơ cấu chuyên nghiệp tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác, thụ lý
và thẩm tra đơn xin cấp phép và nhượng quyền khai thác.
Dạng thứ hai: Cơ quan quản lý chung với mô hình nhỏ yếu như trong các
Hiệp định giữa Hàn Quốc - Nhật Bản, Ảrập Xêút - Côoét, Malayxia - Việt
Nam, Côlômbia - Giamaica. Các cơ quan này hoạt động chỉ đơn giản như là
một cơ quan có tính chất liên lạc, tư vấn nhằm điều phối các hoạt động hợp
tác hoặc như là cơ quan liên lạc giữa các công ty dầu khí quốc gia. Chẳng hạn
như Uỷ ban liên hiệp Nhật - Hàn, với chức năng chủ yếu là kiểm điểm việc
chấp hành Hiệp định giữa hai nước, thụ lý báo cáo kỷ luật, tài vụ của người
giữ giấy nhượng quyền. Uỷ ban này chỉ có quyền khuyến nghị hành động cho
hai bên ký kết [4]. Hay như “Uỷ ban thường trực” trong Hiêp định Cô oét -
Ảrập Sauđi, cơ quan này thành lập để nghiên cứu các thủ tục hữu quan và kiến
nghị dưới sự chi phối của Bộ trưởng Bộ Năng lượng hai nước.
d. Phân chia phí tổn khai thác và thu nhập:
Thông thường đây là vấn đề khó thương nghị và mất khá nhiều thời gian
để đạt đến đích, bởi vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế của mỗi
Xênêgan và Ghinê Bitxao, theo đó nguồn lợi đánh cá được chia đều cho hai
bên, còn các tài nguyên khai thác được ở thềm lục địa thì được chia theo tỷ lệ
85% cho Xênêgan và 15% cho Ghinê Bitxao.
Tuy nhiên, ngay cả khi hai nước khai thác chung tại khu vực đường biên
giới đã xác định thì các nước hữu quan vẫn thống nhất lựa chọn sự phân chia
đều chi phí cũng như lợi nhuận khai thác được, ví dụ như thỏa thuận Ảrập
Xêút - Xuđăng, Pháp - Tây Ban Nha.
Có thể thấy, thỏa thuận về phân chia chi phí và lợi nhuận khai thác
chung giữa các bên là hết sức phong phú, đa dạng. Nhưng hầu như sự
phân chia đó đều nhằm đảm bảo công bằng một cách tương đối quyền và
lợi ích của mỗi bên.
đ. Điều khoản về tranh chấp:
21
Một trong các nội dung quan trọng nữa trong các thỏa thuận khai thác
chung đó là các quy định về tranh chấp, bao gồm cả thủ tục và nguyên tắc giải
quyết tranh chấp. Để đảm bảo thực thi khai thác chung được hiệu quả và liên
tục, các bên hữu quan thường trù liệu đến các khả năng phát sinh tranh chấp
và giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, mỗi một thỏa thuận khai thác chung lại
có những lối giải quyết tranh chấp khác nhau, nhưng nhìn chung các nước đều
có mong muốn giải quyết tranh chấp trước hết bằng con đường ngoại giao,
trên tinh thần hợp tác láng giềng thân thiện trên cơ sở phù hợp với luật pháp
và thực tiễn quốc tế.
Đường lối giải quyết tranh chấp ở đây có thể là hai bên thống nhất đưa
tranh chấp ra “Uỷ ban hòa giải nước thứ ba” như trong thỏa thuận Aixơlen -
Nauy, còn như Hiệp định Ôxtrâylia - Inđônêxia lại quy định nếu có tranh chấp
về giải thích và vận dụng Hiệp định thì hai bên thống nhất giao cho trọng tài
phân xử, phán quyết của trọng tài phải được Tòa án của nước ký kết thừa nhận
và chấp hành. Thỏa thuận Nhật Bản - Hàn Quốc quy định: Tranh chấp trước
pháp, chính sách tài chính, thuế Các nhà đầu tư có thể trù liệu và lập kế
hoạch lâu dài cho công việc kinh doanh tại khu vực này, với ý nghĩa đó việc
quy định rõ ràng thời gian cùng nhau khai thác là hết sức quan trọng và
cần thiết.
h. Bảo vệ môi trường:
Một trong các nội dung được nhiều Hiệp định đề cập đến đó là đưa ra
những quy định về biện pháp bảo vệ môi trường, phòng chống ô nhiễm môi
trường, sự cố môi trường Để phù hợp với xu thế chung của thời đại là phát
triển bền vững, khai thác tài nguyên phải đi đôi với hoạt động bảo vệ môi
trường. Đặc biệt các hoạt động khai thác chung tài nguyên ở đây chủ yếu là