ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI HẢI ĐĂNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CỦA TRUNG QUỐC
7
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT TRUNG
QUỐC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
30
2.1.
Quy định chung về quản lý đất đai ở Trung Quốc
30
2.1.1.
Những quy tắc chung về quản lý đất đai ở Trung Quốc
30
2.1.2.
Những quy định về quy hoạch sử dụng đất
31
2.2.
Quy định về quy hoạch đất đai trong nụng nghiệp nông thôn,
làng xã
34
2.3.
Quy định về bảo vệ đất nông nghiệp của Trung Quốc
41 2
2.4.
Quy định về tăng độ phì nhiêu, nâng cao năng lực của đất đai
49
2.5.
Hội khoa học đất đai Trung Quốc
66
2.9.3.
Viện Đo đạc và Quy hoạch Đất đai Trung Quốc
66
9.2.4.
Trung tõm Tư vấn và Định gía Bất động sản Trung Quốc
67
Chương 3: CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TỪ PHÁP LUẬT ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG
QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
69
3.1.
Quan hệ đất đai và chớnh sỏch đất đai ở nước ta trong quá trình
đổi mới
69
3.1.1.
Chính sách ruộng đất ở Việt Nam thời kỳ từ năm 1980 - 1985
70
3.1.2.
Chính sách đất đai ở nước ta từ năm 1986 - 1993
73
3.1.3.
Chính sách và pháp luật đất đai từ 1993 đến trước 2003 ở Việt Nam
75
3.1.4.
Chính sách và luật đất đai ở Việt Nam từ 2003 đến nay
79
95
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: đất đai, lao động và
tư bản là những yếu tố quyết định đến quá trình sản xuất xã hội, đến sự tồn tại
và phát triển xã hội loài người. Theo Mác thì muốn tồn tại và phát triển, con
người phải được thỏa mãn những nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại,…hay nói cách
khác là con người phải được đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần. Để
thỏa mãn những nhu cầu đó, con người phải tiến hành lao động sản xuất. Tất
dân số toàn cầu. Nhưng đất nông nghiệp của Trung Quốc chỉ có khoảng 100
triệu ha. Con số không tương xứng đó cho ta thấy cần có những chính sách
đất đai, nhất là đối với đất nông nghiệp đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng
của nông dân có tác dụng to lớn, quan trọng như thế nào. Chính sách và luật
pháp đất đai, nhất là đất đai nông nghiệp của Nhà nước Trung Quốc không
ngừng được nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện. Từ thập kỷ 80 thế kỷ XX, Trung
Quốc tiến hành cải cách mở cửa và hội nhập, thực hiện "4 hiện đại hóa" để
xây dựng và phát triển xã hội toàn diện, Trung Quốc cũng bắt đầu cải cách
nông thôn và thi hành chính sách khoán ruộng đất đến từng hộ gia đình. 6
Chính sách và pháp luật đất đai của Trung Quốc quy định phải hết sức tiết
kiệm, sử dụng hợp lý đất đai và bảo vệ thiết thực hợp lý đất đai và bảo vệ
thiết thực đất canh tác là quốc sách cơ bản của Nhà nước Trung Quốc. Luật
pháp của Trung Quốc quy định chính quyền nhân dân các cấp cần tiến hành
quy hoạch toàn diện, quản lý nghiêm ngặt, bảo vệ và khai thác tài nguyên đất
đai, ngăn chặn mọi hành vi chiếm dụng đất đai phi pháp. Nhà nước Trung
Quốc thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất. Nhà nước đã chia đất
đai thành đất dùng cho nông nghiệp, đất dùng cho xây dựng và đất chưa sử
dụng; lập quy hoạch sử dụng đất dùng cho nông nghiệp, đất dùng cho xây
dựng. Hạn chế nghiêm ngặt việc chuyển đất nông nghiệp sang đất xây dựng.
Tiến hành bảo hộ đặc biệt với đất dùng cho nông nghiệp. Để thi hành chính
sách và luật pháp về đất đai, Nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đề ra
hàng loạt biện pháp để thực thi hiệu quả.
Nghiên cứu hệ thống các chính sách, pháp luật và các biện pháp sử
dụng đất đai của Trung Quốc trong những năm gần đây và từ đó rút ra những
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn cụ thể
nền kinh tế ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu:
- Chính sách pháp luật về đất đai nông nghiệp của Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa.
- Chế độ sở hữu đất đai và các quyền của người sử dụng đất đai của
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
- Chính sách đối với đất nông nghiệp ở Trung Quốc trong những năm
gần đây (thời kỳ cải cách mở cửa và thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Trung Quốc).
- Quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật của Trung Quốc
- Thực trạng đất đai nông nghiệp ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm
về thực hiện chính sách đất đai nông nghiệp ở Trung Quốc.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận văn 8
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, chính sách và
pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Luận văn có sử dụng một số phương pháp
khác như phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, mô tả và so sánh, kết
hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn.
5. Những công trình đã nghiên cứu liên quan đến luận văn
- PGS.TS. Trần Thị Minh Châu (chủ biên): Về chính sách nông nghiệp
ở nước ta hiện nay, Nxb chính trị quốc gia, 2007.
- PGS.TS. Ngô Đức Cát (Chủ biên): Phân tích chính sách nông
nghiệp, nông thôn, Nxb Thống kê, 2001.
thực tiễn Việt Nam.
6.2. Kết quả ứng dụng
Luận văn sẽ nêu những kiến nghị về chính sách pháp luật đất đai trong
nông nghiệp, cung cấp những luận cứ quan trọng cho việc hoàn thiện chính
sách đất nông nghiệp nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Tổng quan về chính sách pháp luật đất đai của Trung Quốc.
Chương 2: Các quy định hiện hành của Pháp luật Trung Quốc về đất
nông nghiệp.
Chương 3: Chính sách đất đai nông nghiệp ở Việt Nam thời kỳ đổi
mới và các bài học kinh nghiệm từ pháp luật đất nông nghiệp của Trung Quốc
đối với Việt Nam. 10
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI
CỦA TRUNG QUỐC
1.1. LƯỢC SỬ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA TRUNG QUỐC
Trung Quốc thực hành chế độ đất đai công hữu, tức là chính sách sở
hữu toàn dân và chính sách sở hữu tập thể của nông dân về đất đai
Hiến pháp quy định về chế độ sở hữu đối với đất đai; chế độ sử dụng
đất đai; chế độ sử dụng và bảo vệ đất đai canh tác nông nghiệp [5, tr. 16].
Luật dân sự và luật hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặt ra
việc giao đất từ đơn thuần bằng các biện pháp hành chính, chuyển sang việc
cung ứng đất đai chủ yếu bằng cơ chế thị trường, xây dựng và phát triển thị
trường quyền sử dụng đất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm
có hiệu quả.
Thứ hai, tư tưởng chỉ đạo về mặt xây dựng pháp luật đã có cải cách rất
lớn. Trước năm 1998 trọng điểm là cải cách đối với xây dựng ở đô thị; sau
năm 1999 trọng điểm là bảo hộ đất canh tác nông nghiệp.
Thứ ba, là cải cách về mặt chế độ thẩm định xét duyệt về đất đai.
Trước năm 1998 thực hành chế độ phê duyệt đất đai phân cấp và theo hạn
mức; sau năm 1999 thực hành chế độ quản lý chủ yếu theo mục đích sử dụng.
Luật Quản lý đất đai hiện hành được ban hành năm 1986, có hiệu lực
từ ngày 01/1/1987, đã được sửa đổi hai lần. Lần thứ nhất được sửa đổi theo
nội dung chính được sửa đổi trong Hiến pháp năm 1988, quy định quyền sử
dụng đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể có thể được chuyển
nhượng theo đúng pháp luật. Lần sửa đổi thứ hai được thông qua tại kỳ họp
thứ 4 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX, tháng 8 năm 1998, việc
sửa đổi lần này được tiến hành theo chủ đề trọng tâm và thiết thực là để bảo
vệ đất canh tác và quản lý đất đai theo mục đích sử dụng; chia đất đai thành
đất nông nghiệp, đất xây dựng và đất chưa sử dụng. Nghiêm khắc hạn chế
chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất xây dựng, khống chế tổng lượng đất
xây dựng, thực hiện bảo vệ đặc biệt đất canh tác. 12
1.2. CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA TRUNG QUỐC
Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc được thông qua tại kỳ họp thứ 4,
Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX, tháng 8 năm 1998, có hiệu lực
chế chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất xây dựng, khống chế tổng lượng
đất xây dựng, thực hiện bảo vệ đặc biệt đất canh tác.
Đất nông nghiệp nói ở trên là chỉ đất trực tiếp dùng trong sản xuất
nông nghiệp, bao gồm đất canh tác, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, đất dùng trong
thủy lợi tưới tiêu, đất ao hồ dùng trong chăn nuôi.
Đất xây dựng là chỉ đất dùng xây dựng các công trình kiến trúc, cấu
trúc bao gồm đất dùng xây dựng các cơ sở công cộng, đất dùng trong công
nghiệp khoáng sản, đất dùng cho các cơ sở giao thông, thủy lợi, đất dùng cho
lu lịch, đất dùng cho các cơ sở quân sự.
Đất chưa sử dụng là chỉ đất ngoài đất nông nghiệp và đất xây dựng.
Sự phân loại đất đai trên đây cho phép Quốc vụ viện, chính quyền
nhân dân các cấp, các cơ quan quản lý sử dụng đất quy hoạch và thiết kế cụ
thể chế độ sử dụng từng loại đất theo mục đích cụ thể và khống chế nghiêm
ngặt việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất xây dựng.
1.4. CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI Ở TRUNG QUỐC
Theo quy định tại Điều 8 Luật Quản lý đất đai của Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa năm 1999 thì Đất đai thành phố thuộc sở hữu Nhà nước. Đất nông
thôn và ngoại ô thành phố, trừ đất do pháp luật quy định thuộc sở hữu nhà
nước, đều thuộc sở hữu của tập thể nông dân; đất thổ cư, đất phần trăm, đồi
phần trăm đều thuộc sở hữu tập thể nông dân.
- Đất nông nghiệp tại nông thôn thuộc sở hữu tập thể (đại diện là ban
lãnh đạo thôn do người dân trong thôn bầu ra). Ban lãnh đạo thôn căn cứ số
nhân khẩu thực tế trong thôn tại thời điểm giao khoán đất, thực hiện việc giao
khoán đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trong thôn sử dụng. Thời gian
giao khoán đất nông nghiệp là 30 năm; diện tích đất nhận khoán được sử dụng
ổn định trong suốt thời gian nhận khoán. Người nhận khoán đất nông nghiệp
có quyền cho thuê quyền sử dụng đất (người thuê phải sử dụng đúng mục 14
các loại đất đã cấp sử dụng trước đây theo Luật cải cách ruộng đất nước Cộng 15
hòa nhân dân Trung hoa năm 1950 và bản dự thảo sửa đổi Điều lệ công tác
công xã Nhân dân nông thôn tháng 9/1962 (thường gọi Điều lệ 60) và các loại
đất sử dụng mới và thay đổi mục đích sử dụng do yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội).
Sở hữu toàn dân tức là quyền sở hữu đất đai của Nhà nước thì do
Quốc vụ viện thay mặt Nhà nước để thực hiện. Sở hữu tập thể của nông dân
lao động, gồm các chủ thể đại diện sở hữu sau [23, tr. 7].
- Đội sản xuất (cụm dân cư) hay còn gọi là kinh tế xã, (hợp tác xã)
chiếm 80-90% đất đai. Sau khi giao khoán được giữ lại khoảng 50% để cho
thuê (tạo kinh phí dùng vào việc chung).
- Ủy ban thôn (một số cụm).
- Ủy ban xã, thị trấn (một số thôn).
Như vậy Quốc vụ viện thực hiện hai vai trò đối với đất đai: vai trò của
chủ sở hữu đối với đất đô thị và vai trò quản lý nhà nước đối với toàn bộ đất
đai. Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai ở Trung Quốc được tách riêng và
có quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Đất sở hữu nhà nước và đất sở
hữu tập thể nông dân có thể giao cho các đơn vị hoặc cá nhân sử dụng theo
quy định của pháp luật. Đơn vị hay cá nhân sử dụng đất có nghĩa vụ quản lý,
bảo vệ và sử dụng hợp lý đất đai.
Trong thời kỳ cải cách, đổi mới, mở cửa ở nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa vài thập kỷ gần đây đã diễn ra những cuộc hội thảo, tranh luận với
nhau về chế độ sở hữu ruộng đất giữa các nhà khoa học. Có ba loại ý kiến
khác nhau về chế độ sở hữu đất đai [60].
thực hiện linh hoạt. Vì vậy đối với việc cải cách chế độ ruộng đất ở nông thôn
Trung Quốc, họ chủ trương xác định rõ ràng và ổn định quyền sở hữu tập thể,
để cho quyền sử dụng ruộng đất được thực hiện linh hoạt, xây dựng và hoàn
thiện cơ chế lưu chuyển ruộng đất, thay chế độ sử dụng và chuyển nhượng
ruộng đất không có bồi thường của các hộ nông dân bằng chế độ sử dụng và
chuyển nhượng ruộng đất có bồi thường.
* Những người chủ trương chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất
không đồng ý với những người chủ trương chế độ sở hữu tập thể. Họ cho rằng 17
nếu duy trì chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất thì không những không đạt
được mục tiêu mà có thể xẩy ra hiện tượng là việc cho thuê và chuyển nhượng
quyền sử dụng ruộng đất có bồi thường trên cơ sở chế độ sở hữu đó sẽ khiến cho
những người dân Trung Quốc chiếm trên 70% dân số cả nước vĩnh viễn bị buộc
chặt vào những lợi ích về ruộng đất. Họ còn cho rằng sở hữu tập thể về ruộng đất
không những làm cho quyền tài sản bị đóng băng lại, làm cho ruộng đất bị phân
tán trong tay của rất nhiều người mà còn gây ra một hiện tượng rất hiếm thấy
trên thế giới là một lực lượng dân số rất đông đảo của Trung Quốc chiếm hữu
ruộng đất do tất cả mọi người trong tập thể đều có phần cả. Điều đó rất bất lợi
cho sản xuất nông nghiệp theo hiện đại hóa ở Trung Quốc.
Những người chủ trương chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất là ưu
việt nhất, làm cho ruộng đất không những trở thành hàng hóa, phát huy tích
cực trong cơ chế thị trường, thúc đẩy hoạt động kinh doanh, sử dụng ruộng đất
hợp lý mà còn hoàn toàn khắc phục được tình trạng ruộng đất ngày càng bị chia
nhỏ. Nó giúp cho Nhà nước thống nhất thu địa tô và dùng địa tô đầu tư lại cho
nông nghiệp. Nó giúp cho Nhà nước làm tốt công tác quy hoạch ruộng đất.
nông thôn mà phải thực hiện chế độ sở hữu nhà nước.
Hai là, quốc hữu hóa ruộng đất ở nông thôn tuy không mâu thuẫn với
những kết luận nói trên, song lại rất khó thực hiện. Khi chế độ sở hữu tập thể
đã ăn sâu vào tư tưởng nông dân Trung Quốc thì việc quốc hữu hóa không
những sẽ gặp phải sự chống đối của họ một cách tự giác, mà việc ép buộc
thực hiện cũng sẽ không mang lại hiệu quả.
Ba là, việc giữ vững chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất sẽ không gặp
phải bất cứ trở ngại xã hội nào và cũng sẽ không mâu thuẫn mà hoàn toàn đồng
nhất với phương hướng hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn Trung
Quốc từ nay về sau. Thực tế, phát triển của nền kinh tế nông thôn Trung Quốc
trong những năm gần đây đã cho thấy trong thời kỳ đầu thực hiện chế độ khoán
sản phẩm ở những nơi mà nền kinh tế tập thể không bị tổn hại, sau đó còn phát
triển tương đối tốt và được tăng cường tương đối mạnh mẽ, thì sản xuất nông
nghiệp và hiện đại hóa nông nghiệp ở nơi đó tốt hơn nhiều, nhanh hơn nhiều
so với những nơi mà nền kinh tế tập thể bị phá hoại và phát triển yếu ớt. Từ
đó có thể thấy rằng, ít nhất trong một thời gian tương đối dài nữa nông thôn 19
Trung Quốc sẽ giữ vững chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất. Việc cải cách và
đổi mới chế độ ruộng đất nông thôn từ nay về sau sẽ kiên trì và tăng cường lấy
chế độ sở hữu tập thể của nông dân làm cơ sở chứ không đi theo hướng khác.
Bốn là, việc cải cách và đổi mới chế ruộng đất nông thôn Trung Quốc
còn liên quan đến nhiều vấn đề trên những phương diện khác của chế độ,
trong đó có hai vấn đề liên quan trực tiếp nhất đến công cuộc hiện đại hóa
nông nghiệp.
Thứ nhất, làm thế nào để xóa bỏ tình trạng "đóng băng" trong quyền
vốn khó lưu chuyển thì nay đã trở nên dễ lưu chuyển hơn.
So sánh hai phương pháp trên thì phương pháp thứ nhất là kiên quyết
và triệt để nhất chế độ sử dụng đất hiện hành dẫn đến rất khó khăn thực hiện.
Trong những năm gần đây phương pháp thứ hai được thí điểm lẻ tẻ.
Các nhà khoa học cho rằng nên kết hợp cả hai phương pháp trên thực
hiện từng bước theo giai đoạn để thực hiện mục tiêu cuối cùng là xác định cho
thuê ruộng đất thông qua đấu thầu cạnh tranh.
Thứ hai, làm thế nào để ngăn chặn tình trạng kinh doanh ruộng đất
liên tục bị cắt vụn.
Ruộng đất ở Trung Quốc liên tục bị cắt vụn xuất phát từ biện pháp và
nguyên tắc phân phối quyền sử dụng đất trong chế độ ruộng đất hiện hành ở
nông thôn. Chính sách nhà nước hạn chế nông dân tự do lưu động và vào
thành phố tìm việc về khách quan đã trở nên nghiêm trọng. Muốn giải quyết
vấn đề này cần phải thay đổi hoàn toàn biện pháp và nguyên tắc hiện hành là
người nào cũng đương nhiên có quyền nhận khoán và kế thừa ruộng đất ở
nông thôn thay vào đó là thực hiện biện pháp và nguyên tắc thúc đẩy ruộng
đất lưu chuyển và tập trung ruộng đất và kinh doanh quy mô lớn.
- Quá trình cải cách và đổi mới chế độ ruộng đất ở các nước từ thời
cận đại đến nay diễn ra xu thế mang tính quy luật sau:
+ Một đất nước trong thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản chống phong
kiến thì phương hướng và những biện pháp cơ bản để thực hiện cải cách và
đổi mới chế độ ruộng đất ở những nước này là biến đổi chế độ sở hữu đất đai
số lượng lớn của lãnh chúa, quý tộc, địa chủ phong kiến thành sở hữu ruộng
đất với số lượng ít của nông dân thông qua cải cách ruộng đất. 21
22
người, sức gia súc trước đây. Khoa học kỹ thuật hiện đại đã giúp thoát khỏi
tình trạng phụ thuộc vào kinh doanh và kỹ thuật truyền thống. Sự tập trung và
kinh doanh quy mô ruộng đất thích hợp chính là phương thức ưu việt nhất để
phân bổ các yếu tố nguồn lực sản xuất trong nông nghiệp hiện đại.
Việc tập trung ruộng đất và kinh doanh quy mô lớn không chỉ là đòi
hỏi và kết quả tất yếu của riêng quá trình phát triển sức sản xuất nông nghiệp
hiện đại, nó còn là đòi hỏi và kết quả của việc điều chỉnh và cải tổ với quy mô
lớn đối với cơ cấu ngành nghề và cơ cấu việc làm của con người nảy sinh từ
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã hội hiện đại, không những về mặt
khách quan đòi hỏi số người làm nông nghiệp giảm xuống đến mức thấp nhất
và chuyển một bộ phận dân cư lớn làm nông nghiệp trước đây sang làm việc
trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, mà còn đòi hỏi nông nghiệp trở
thành một ngành sản xuất hoàn toàn toàn doanh nghiệp hóa, thương mại hóa,
cung cấp cho xã hội những mặt hàng nông phẩm phong phú, giá cả thấp. Hai
yêu cầu khách quan này tất yếu đòi hỏi phải tập trung ruộng đất thích hợp và
tiến hành kinh doanh quy mô lớn.
Hai là, nếu khẳng định nông nghiệp Trung Quốc từ nay về sau nhất
định phải đi theo hướng tập trung ruộng đất và kinh doanh trên quy mô lớn thì
phải thế nào để thực hiện mục tiêu này?
Giới học giả Trung Quốc cho rằng trước hết phải nói rõ "quy mô lớn"
trong khái niệm "kinh doanh ruộng đất trên quy mô lớn" là không có một tiêu
chuẩn bất biến mà chỉ có nghĩa là trong điều kiện nông nghiệp hiện đại nhất
định xóa bỏ chế độ kinh doanh trên từng thửa ruộng nhỏ theo mô hình tiểu
nông mà phải tạo ra một chế độ kinh doanh ruộng đất phù hợp.
Với yêu cầu về điều kiện sức sản xuất và kỹ thuật trong nền nông
nghiệp hiện đại. Cũng chính vì vậy mà rất nhiều người đã dùng khái niệm
doanh lớn, các hộ chuyên nghiệp kinh doanh có khả năng tập trung ruộng đất
nhỏ lại. Sau đó không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh các hộ cho đến khi
ruộng đất ở các thôn xã tập trung vào tay một số ít hộ có khả năng đảm nhận
nhiệm vụ kinh doanh với quy mô lớn.