ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỐC TUẤN THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Trung Tín
HÀ NỘI - 2008 MỤC LỤC
Các đặc điểm chính của thẩm quyền của Toà án trong Tư
pháp Quốc tế
16
1.1.3.1.
Chủ thể giải quyết các vụ việc trong Tư pháp quốc tế là Toà
án của quốc gia có thẩm quyền
16
1.1.3.2.
Căn cứ pháp lý xác định thẩm quyền không chỉ bó hẹp
trong luật quốc nội
19
1.1.3.3.
Có quyền áp dụng tập quán quốc tế và pháp luật nội dung
của quốc gia khác
21
1.1.3.4.
Có quyền công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Toà
án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
23
1.1.3.5.
Có quyền ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam ra nước
ngoài và thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự của nước
ngoài cho Việt Nam
24
1.2.
Tiêu chí xác định thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ
pháp Quốc tế
26
1.2.1.
Các tiêu chí xác định thẩm quyền của Toà án trong Tư pháp
65
2.3.
Xác định thẩm quyền của Toà án trong Tƣ pháp quốc tế
theo các Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên
72
2.3.1.
Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất hoặc hạn chế năng
lực hành vi
73
2.3.2.
Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc chết và
xác nhận sự kiện chết
73
2.3.3.
Đối với tranh chấp về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
giữa vợ chồng
74
2.3.4.
Đối với vụ việc ly hôn và công nhận hôn nhân vô hiệu
74
2.3.5.
Đối với quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con cái
75
2.3.6.
Đối với tranh chấp về cấp dưỡng
75
2.3.7.
Đối với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
75
2.3.8.
85
3.1.3
Tình hình thực tế của Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án
trong Tư pháp quốc tế
87
3.2.
Một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
xác định thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp Quốc tế
94
3.2.1.
Các giải pháp chung
95
3.2.1.1.
Hoàn chỉnh các tiêu chí xác định thẩm quyền của Tòa án
trong Tư pháp quốc tế
95
3.2.1.2.
Ký kết hoặc tham gia các Điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp
96
3.2.1.3.
Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức của
cán bộ, công chức ngành Tòa án
97
3.2.1.4.
Cần có quy định, cơ chế cụ thể trong việc phối hợp giữa
Tòa án với các cơ quan hữu quan
98
3.2.1.5.
Cải thiện từng bước cơ sở vật chất và hoàn thiện tổ chức
của ngành Tòa án
Khi các quan hệ không còn chỉ tồn tại trong phạm vi quốc gia nữa, xuất
phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nghĩa vụ của Nhà nƣớc trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các quốc gia, bằng việc ban hành
luật quốc nội và ký kết hoặc tham gia các điều ƣớc quốc tế để xác định thẩm
quyền cho Toà án của quốc gia mình.
Ở nƣớc ta, trƣớc đây thẩm quyền của Toà án trong Tƣ pháp quốc tế
đƣợc quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau nhƣ Luật tổ chức
Toà án nhân dân, Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, Pháp lệnh công nhận và thi
hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nƣớc ngoài, Pháp
lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nƣớc
ngoài, Nay, thẩm quyền của Toà án Việt Nam trong Tƣ pháp quốc tế đƣợc
quy định phần nào thống nhất trong Bộ luật tố tụng dân sự và một số văn bản
pháp luật chuyên biệt khác.
2
Về Điều ƣớc quốc tế, tính đến nay, Việt Nam đã ký kết 14 Hiệp định
tƣơng trợ tƣ pháp với các nƣớc (Đức - đã hết hiệu lực ngày 16/4/1994, Liên
Xô - Liên bang Nga kế thừa từ năm 1992 đến khi Hiệp định giữa Việt Nam và
Nga ký kết tháng 8/1998 có hiệu lực, Tiệp Khắc - sau này, cả Séc và Slôvakia
đều kế thừa Hiệp định này, Cu Ba, Hungary, Bungary, Ba Lan, Lào, Nga,
Trung Quốc, Pháp, Ucraina, Mông Cổ, Belarus). Trong các Hiệp định này,
vấn đề liên quan tới Thẩm quyền của Toà án Việt Nam trong Tƣ pháp quốc tế
đƣợc ghi nhận.
Việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong Tƣ pháp quốc tế
có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá dân
và tổ chức có quốc tịch của quốc gia đó; nhằm khẳng định chủ quyền quốc
gia, bảo đảm trật tự công. Tuy nhiên, để hƣớng tới sự đồng thuận, đảm bảo
quan hệ cùng có lợi giữa các quốc gia, chúng ta cần phải xây dựng khung
Việt Nam trong Tƣ pháp quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn thực hiện nhiệm vụ sau đây:
- Làm sáng tỏ các tiêu chí cơ bản trong việc xác định thẩm quyền của
Toà án quốc gia trong Tƣ pháp quốc tế;
- Nêu và phân tích các nguyên nhân các quốc gia muốn giành quyền xét
xử đối với những tranh chấp, yêu cầu mà một trong các bên đƣơng sự là công
dân hoặc tổ chức của nƣớc mình;
- Làm rõ những bất cập và khó khăn nảy sinh khi quy định thẩm quyền
của Toà án quốc gia trong Tƣ pháp quốc tế;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về thẩm quyền
của Toà án quốc gia trong Tƣ pháp quốc tế.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về việc quy định thẩm quyền của Toà
án quốc gia trong Tƣ pháp quốc tế; nghiên cứu thực thực trạng pháp luật quốc
nội và điều ƣớc quốc tế và kiến giải xung đột thẩm quyền của Toà án trong Tƣ
pháp quốc tế nhằm đƣa ra định hƣớng hoàn thiện luật thực định về vấn đề này.
4
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là phƣơng pháp luận triết học duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đƣờng lối, chính
sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nƣớc và Pháp quyền.
Đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc trong sự nghiệp đổi mới, phát
triển nền kinh tế thị trƣờng và thực tiễn áp dụng.
Bên cạnh đó, Tác giả còn đặc biệt coi trọng sử dụng các phƣơng pháp
phân tích quy phạm; điển hình hoá, mô hình hóa các trƣờng hợp xung đột
thẩm quyền, phƣơng pháp so sánh, phân tích, đánh giá để giải quyết các vấn
đề của đề tài đặt ra.
6. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
còn thƣờng gặp thuật ngữ thẩm quyền ngay trong tên các văn bản pháp luật,
nhất là về tổ chức bộ máy nhà nƣớc, bởi vì nội dung các văn bản đó thực chất
là các quy định về thẩm quyền. Tuy vậy, ngay trong văn bản pháp luật nƣớc
ngoài, thƣờng cũng không có định nghĩa khái niệm thẩm quyền, mặc dù thực
chất vấn đề là quy định về thẩm quyền. Ở nƣớc ta cũng có tình trạng đó. Có lẽ
một phần do sự phức tạp của khái niệm này nên khó đƣa ra một định nghĩa
đầy đủ về nó, tuy các quy định về thẩm quyền chiếm tỉ trọng lớn trong hệ
thống văn bản pháp luật và có vị trí đặc biệt quan trọng.
Là khái niệm quan trọng và rất phổ biến, nhƣng kể từ những năm 80
đến nay – những năm nền khoa học pháp lý của Việt Nam mới bắt đầu hình
thành và phát triển, và cả thời kỳ đẩy mạnh cải cách hành chính hơn mƣời
năm trở lại đây, chƣa có bài viết nào riêng về khái niệm “thẩm quyền”, dù
dƣới dạng đơn giản nhất. Trong khoa học pháp lý càng thấy rõ sự thiếu hụt
những nghiên cứu cơ bản, hay những giới thiệu nghiêm túc các khái niệm cơ
bản, nền tảng đã đƣợc khoa học pháp lý thế giới nghiên cứu kỹ lƣỡng từ rất
6
lâu và cập nhật vào thực tiễn khoa học pháp lý và quản lý nƣớc nhà, trong đó
có khái niệm “thẩm quyền”. Nhiều bất cập trong các quy định pháp luật về
thẩm quyền nói chung và về phân cấp quản lý nói riêng, có nhiều nguyên
nhân, nhƣng có khi chỉ do một nguyên nhân đơn giản là không nắm vững khái
niệm thẩm quyền và phƣơng pháp phân định thẩm quyền giữa các cơ quan
nhà nƣớc.
Trong khoa học pháp lý, "thẩm quyền" thƣờng đƣợc hiểu là phạm vi
các quyền hạn của cơ quan hoặc ngƣời có chức vụ nào đó, hay nói cách khác
là thẩm quyền pháp lý. "Thẩm quyền" với nghĩa thẩm quyền pháp lý cũng
không đơn nhất. Do tính phức tạp và tồn tại nhiều khái niệm gần gũi, quan hệ
chặt chẽ với nó, nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thẩm
quyền. Trong bài viết với tiêu đề “tính hệ thống của thẩm quyền” tạp chí
nghiên cứu lập pháp tháng 9 năm 2005, Tiến sĩ Nguyễn Cửu Việt đã nêu 09
(những) vụ việc/lĩnh vực nhất định.
1.1.1.2. Thẩm quyền của Toà án
Theo Từ điển tiếng Việt thì Tòa án là cơ quan nhà nƣớc có nhiệm vụ
xét xử các vụ phạm pháp, kiện tụng. [35, tr. 1002]
Tòa án là cơ quan xét xử của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam [11, đ. 127]. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Tòa án nhân
danh Nhà nƣớc ra các phán quyết bảo đảm cho quyền, lợi ích của các cá nhân,
cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nƣớc. Trong phạm vi chức năng của mình,
Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của
tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành
với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của
8
cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi
phạm pháp luật khác [37, đ. 1]. Ở nƣớc Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có các Tòa án sau đây: Tòa án nhân dân tối cao; Các Tòa án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ƣơng; Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh; Các Tòa án quân sự; Các Tòa án khác do luật định.
Trong trƣờng hợp đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc
biệt [14, đ. 2].
Nhƣ vậy, trong hệ thống Tòa án của Việt Nam có Tòa án nhân dân các
cấp, Tòa án quân sự các cấp và các Tòa án khác do luật định hoặc trong
trƣờng hợp đặc biệt Quốc hội có thể thành lập Tòa án đặc biệt và chỉ có Tòa
án mới là cơ quan xét xử, từ hình sự, hành chính đến dân sự (theo nghĩa rộng).
Do Tòa án quân sự có đặc thù riêng theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ
chức Tòa án quân sự, có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là
quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong
thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu;
thẩm quyền, nếu ngay từ đầu xác định đúng thẩm quyền thì sẽ không gây tốn
kém công sức và tiền của của cơ quan nhà nƣớc và của các đƣơng sự, cũng
nhƣ ảnh hƣởng đến quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia.
Trách nhiệm của Toà án là bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ
tài sản của Nhà nƣớc, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân
Cho đến nay, khoa học pháp lý vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất
về thẩm quyền của Toà án. Luật tố tụng của các nƣớc thƣờng quy định phạm
vi quyền hạn của Toà án. Ngoài ra, có một số nƣớc không giới hạn thẩm
quyền của Toà án trong các văn bản luật, ở đó các thẩm phán khi thực hiện
quyền của Toà án, họ đƣợc sáng tạo pháp luật, giải thích pháp luật trên cơ sở
10
mục đích điều chỉnh, lẽ công bằng, lƣơng tâm đạo đức nghề nghiệp. Các
quyền năng này có thể coi là quyền năng bẩm sinh của Thẩm phán, bởi lẽ họ
có quyền đƣa ra phán quyết về tính hợp pháp cho hành vi của con ngƣời.
Xuất phát từ việc giới hạn thẩm quyền của Toà án trong pháp luật tố
tụng, từ các quy định trong các bản hiến pháp của Việt Nam “Khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” các tác giả viết
Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Học viện tƣ pháp đã đƣa ra định nghĩa
“Thẩm quyền của Tòa án là quyền xem xét, giải quyết vụ việc trong phạm vi
pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra quyết định khi giải quyết vụ
việc đó” [30].
Tuy nhiên, khi nghiên cứu chức năng của Toà án Việt Nam và của các
nƣớc trên thế giới cho thấy, nếu các quy định về giới hạn thẩm quyền của Toà
án trong văn bản luật không đƣợc hiểu một cách mềm dẻo và linh hoạt, thì
trong tƣơng lai Máy tính sẽ là công cụ quyết định số phận của con ngƣời
trong tố tụng hình sự và quyết định quyền và lợi ích của chủ thể quan hệ pháp
luật dân sự (mọi chứng cứ tài liệu đƣợc nhập vào máy tính và nó sẽ tự động
đƣa ra kết quả); vai trò của các Thẩm phán sẽ mờ nhạt, khi đó tính nhân bản
xác định quốc tịch và địa vị dân sự của ngƣời nƣớc ngoài tại nƣớc sở tại, giải
quyết xung đột pháp luật và xung đột về thẩm quyền tài phán trong không
gian và thời gian giữa các quốc gia độc lập” (Barơtin), hoặc “Tƣ pháp quốc tế
là tổng hợp những nguyên tắc nhằm quy định pháp luật nƣớc nào đƣợc áp
dụng đối với những quan hệ pháp luật giữa các cá nhân không cùng quốc tịch,
không cùng nơi cƣ trú hoặc đƣợc áp dụng đối với những hành vi đã xảy ra ở
nƣớc ngoài, hoặc đƣợc áp dụng trong tất cả các trƣờng hợp khi phát hiện ra
vấn đề sử dụng luật của một nƣớc này trên lãnh thổ của nƣớc khác.”
12
(Axerơ)…[29, tr. 11]. Những định nghĩa trên chƣa nêu bật đƣợc bản chất,
phạm vi điều chỉnh của ngành luật Tƣ pháp quốc tế. Thực tế, tên gọi Tƣ pháp
quốc tế có thể đƣợc gọi một cách chính danh hoặc theo quy ƣớc tuỳ thuộc vào
việc phân chia hệ thống pháp luật thành luật công hay luật tƣ. Ở nƣớc ta, hệ
thống pháp luật không phân chia thành công, tƣ nên Tƣ pháp quốc tế chỉ đƣợc
gọi theo quy ƣớc. Theo Từ điển tiếng Việt thì Tƣ pháp quốc tế đƣợc hiểu là
tổng thể nói chung những nguyên tắc và quy phạm pháp lý quy định quan hệ
giữa công dân nƣớc này với các nƣớc khác hay với công dân các nƣớc khác
[35, tr. 1071]
Tuy ở nƣớc ta, Tƣ pháp quốc tế chỉ mang tính quy ƣớc nhƣng tác giả
cho rằng đã là một ngành luật, một bộ môn khoa học thì ngoài việc giải quyết
vấn đề xung đột pháp luật, vấn đề tố tụng dân sự quốc tế, Tƣ pháp quốc tế
cũng có đối tƣợng điều chỉnh, chủ thể, nguồn luật và phƣơng pháp điều chỉnh.
Vì vậy tác giả cho rằng định nghĩa về Tƣ pháp quốc tế trong giáo trình Tƣ
pháp quốc tế của Khoa Luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội do PGS.TS
Nguyễn Bá Diến (chủ biên) là một định nghĩa khoa học, đáp ứng đƣợc các
tiêu chí là một ngành luật và là một bộ môn khoa học.
“Tƣ pháp quốc tế là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập và là một
ngành luật độc lập bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ dân sự-kinh tế-thƣơng mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố
thác tƣ pháp; và 3) vấn đề công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định
của tòa án nƣớc ngoài, quyết định của trọng tài nƣớc ngoài.
Nhƣ vậy, chủ thể nhân danh Nhà nƣớc hoặc nhân danh công lý để thực
hiện quyền giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nƣớc ngoài chính là Toà
14
án quốc gia (nói chung). Khái niệm thẩm quyền của Toà án trong Tƣ pháp
quốc tế đƣợc tác giả làm rõ trong tiểu mục liền dƣới đây.
1.1.2.2. Thẩm quyền của Toà án trong Tư pháp quốc tế
Có nhiều tiêu chí để phân loại Tòa án, có thể là theo tiêu chí hệ thống
tổ chức (Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa hành chính, Tòa lao động),
tiêu chí cấp bậc-2 cấp xét xử: Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm (nếu
Tòa án cấp huyện xét xử sơ thẩm mà bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng
nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm chính là Tòa án cấp tỉnh; nếu Tòa án cấp tỉnh
xét xử sơ thẩm mà bản án quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp
phúc thẩm là Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao), có thể là theo tiêu chí
lãnh thổ (Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện). Việc
đề cập đến các tiêu chí trên để thấy rằng Tòa án phải giải quyết không chỉ các
vụ việc dân sự (theo nghĩa rộng) mà còn cả các vụ việc hình sự và hành chính
với các quy trình tố tụng khác nhau, từ đó dùng phƣơng pháp loại trừ tác giả
chỉ nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án theo tố tụng dân sự đƣợc áp dụng vào
trƣờng riêng biệt là tố tụng dân sự có yếu tố nƣớc ngoài.
Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền
giải quyết các vụ án và các việc tranh chấp/yêu cầu về dân sự, về hôn nhân và
gia đình, về kinh doanh, thƣơng mại và lao động (bao gồm cả các vụ án và
các việc có yếu tố nƣớc ngoài). Xét về bản chất, các quan hệ pháp luật này
đều có cùng tính chất là quan hệ tài sản hay quan hệ nhân thân đƣợc hình
thành trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết và tự định
đoạt của các chủ thể. Đây chính là những đặc trƣng của vụ việc dân sự nên
các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật này thuộc thẩm quyền giải
16
quốc tế. Trong trƣờng hợp giữa các quốc gia chƣa ký kết hoặc gia nhập Điều
ƣớc quốc tế thì có thể xác định thẩm quyền theo nguyên tắc có đi có lại.
Và nhƣ vậy, thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc tế không chỉ
căn cứ vào pháp luật tố tụng dân sự trong nƣớc mà còn căn cứ vào các điều
ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại.
Từ những phân tích trên, theo tác giả, Tƣ pháp quốc tếthẩm quyền của
Toà án trong tƣ pháp quốc tế là quyền năng pháp lý của Toà án quốc gia đƣợc
quy định trong luật thực định của quốc gia, trong các điều ƣớc quốc tế mà
quốc gia đó là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại; có quyền xem xét
thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nƣớc ngoài bằng một quyết
định hoặc bản án của Tòa án theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự
quốc gia.
1.1.3. Các đặc điểm chính của thẩm quyền của Toà án trong Tư pháp
quốc tế
Từ khái niệm trên, ta thấy, thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc
tế là quyền tài phán đối với những vụ việc có liên quan, tức là không chỉ có
thẩm quyền xét xử, mà các vụ việc đó có các Điều ƣớc quốc tế điều chỉnh,
nên không thể phân định thẩm quyền hay là các nguyên tắc, quy tắc về thẩm
quyền, vì vậy, có lẽ tác giả dùng từ xác định và tiêu chí xác định thẩm quyền
sẽ phù hợp hơn. Để phân biệt với thẩm quyền của tòa án trong hoạt động tố
tụng dân sự thông thƣờng và hoạt động tố tụng trong công pháp quốc tế,
chúng ta thấy thẩm quyền của Toà án trong Tƣ pháp quốc tế có các đặc điểm
chính sau
1.1.3.1. Chủ thể giải quyết các vụ việc trong Tư pháp quốc tế là Toà án
của quốc gia có thẩm quyền
Dựa trên quan điểm về nguyên tắc chủ quyền quốc gia thì Tòa án nhiều
nƣớc đều có thẩm quyền xét xử đối với cùng một vụ việc do các vụ việc dân
17
chồng không cùng cƣ trú ở một nƣớc ký kết thì Tòa án của cả hai nƣớc ký kết
đều có thẩm quyền giải quyết. [15, đ. 25, 26; 16, đ. 20, 21]. Tòa án của cả hai
nƣớc ký kết đều có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn giữa công dân hai
nƣớc và hiện tƣợng xung đột thẩm quyền của Tòa án các nƣớc ký kết vẫn sẽ
xảy ra khi đƣơng sự nộp đơn xin ly hôn ở cả hai nƣớc. Trƣờng hợp xung đột
thẩm quyền xét xử kết thúc khi trong điều ƣớc quốc tế các quốc gia xác định
tiêu chí cụ thể để giải quyết , ví dụ trong hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp có quy
định: Nếu Tòa án của cả hai nƣớc ký kết đều có thẩm quyền cùng thụ lý một vụ
kiện có cùng các bên đƣơng sự và cùng một nội dung, thì Tòa án nào thụ lý sau
sẽ phải đình chỉ tố tụng và báo cho các bên đƣơng sự biết [15, đ20].
Trong trƣờng hợp không có điều ƣớc quốc tế giữa các quốc gia về vấn
đề xác định tòa án của quốc gia nào có thẩm quyền đối với một vụ việc có yếu
tố nƣớc ngoài, thì việc xác định thẩm quyền của tòa án mỗi nƣớc sẽ phụ thuộc
vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong nƣớc. Hiện tƣợng xung đột
thẩm quyền của Tòa án có thể xảy ra khi: 1) pháp luật tố tụng dân sự của các
quốc gia có liên quan đƣa ra các tiêu chí khác nhau khi xác định thẩm quyền
của tòa án nƣớc mình đối với một vụ việc. Chẳng hạn, với một tranh chấp về
ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài mà pháp luật của Pháp lấy tiêu chí quốc tịch của
vợ chồng [36, đ.14, đ.15], còn Việt Nam thì lấy tiêu chí nơi thƣờng trú chung
của vợ chồng để xác định thẩm quyền [12, đ104]. Khi đó, một vụ việc ly hôn
có sự tham gia của công dân Pháp nhƣng cả hai vợ chồng lại thƣờng trú
chung ở Việt Nam hoàn toàn có thể đƣợc xét xử ở cả Việt Nam và Pháp, cũng
có nghĩa là vẫn có hiện tƣợng xung đột thẩm quyền của Tòa án về cùng một
vụ ly hôn. 2) Hoặc pháp luật tố tụng các quốc gia có liên quan đều đƣa ra
cùng một tiêu chí để xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia mình, nhƣng do
sự không đồng nhất của quan hệ xét trên tiêu chí đó làm xuất hiện xung đột
19
thẩm quyền của Tòa án. Vẫn lấy ví dụ nhƣ trên, nhƣng trong trƣờng hợp này
Việt Nam cũng lấy tiêu chí quốc tịch nhƣ Pháp chứ không phải là nơi thƣờng
tòa án nói riêng (cơ quan nhà nƣớc nói chung) chỉ đƣợc làm những gì pháp
luật cho phép, xét về hình thức thể hiện sự hạn chế phạm vi thẩm quyền của
Toà án, nhƣng xét về bản chất thì Nhà nƣớc hạn chế phạm vi đƣợc bảo vệ của
ngƣời dân. Ví dụ, trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định cụ thể thẩm
quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, yêu cầu dân sự,
nhƣ tại Điều 25 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án, Điều 26 quy định những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án, Điều 27 quy định những tranh chấp về hôn nhân
và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Điều 28 quy định những
yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án,
Điều 29 quy định những tranh chấp về kinh doanh, thƣơng mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án, Điều 30 quy định những yêu cầu về kinh doanh,
thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Điều 31 quy định những
tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Điều 32 quy
định những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Rõ ràng, với những quy định này, tƣởng nhƣ là cá nhân, tổ chức có
quyền thỏa thuận để chọn Tòa án có thẩm quyền để giải quyết, và thẩm quyền
của Tòa án xuất hiện do sự lựa chọn của các đƣơng sự, nhƣng pháp luật tố
tụng lại chỉ quy định trƣờng hợp nguyên đơn, ngƣời yêu cầu đƣợc chọn Tòa
án [6,đ.36]. Nhƣ vậy, khi giải quyết một vụ việc dân sự thông thƣờng, Tòa án
chỉ áp dụng các quy định pháp luật tố tụng dân sự của quốc gia mình để xác
định thẩm quyền. Thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc tế, giải quyết
các vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nƣớc
ngoài trƣớc hết vẫn phải căn cứ vào những nguyên tắc nhất định của các văn
21
bản pháp luật trong nƣớc. Điều này đƣợc thể hiện rõ ràng nhất khi xác định
thẩm quyền của Tòa án trong Tƣ pháp quốc tế là phải căn cứ nguyên tắc chủ
quyền quốc gia để xây dựng quy phạm tố tụng - quy phạm thực chất, quy
phạm đơn phƣơng. Quy phạm này xác định trong trƣờng hợp cụ thể, tòa án có