ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THẮNG
TÒA ÁN TRỌNG TÀI THƯỜNG TRỰC LA HAYE
VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÒA TRỌNG TÀI THƢỜNG
TRỰC LA HAYE 4
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa trọng tài thƣờng trực
La Haye (PCA) 4
1.1.1. Lịch sử hình thành thiết chế trọng tài 4
1.1.2. Quá trình thành lập và phát triển của PCA 5
1.2. Cơ cấu tổ chức của PCA 10
1.2.1. Hội đồng hành chính (Administrative Council) 11
1.2.2. Thành viên của Tòa (Members of the Court) 11
1.2.3. Văn phòng quốc tế hoặc Ban Thư ký (International Bureau) 12
1.2.4. Cơ quan khác (Tòa) 12
1.2.5. Các văn kiện pháp lý cơ bản 12
1.3. Thẩm quyền của PCA 13
1.3.1. Thẩm quyền về vụ việc 13
1.3.2. Thẩm quyền về dịch vụ pháp lý của PCA 14
1.3.3. Thời hạn 15
1.4. Đặc điểm của PCA 16
1.5. Vị trí, vai trò của PCA trong tài phán quốc tế và phát triển luật
quốc tế 17 1.5.1. Vị trí và vai trò của PCA đối với tài phán quốc tế 17
1.5.2. Vai trò của PCA đối với việc phát triển pháp luật quốc tế 20
4.2.1. Tình hình tranh chấp biển Đông hiện nay 75
4.2.2. Đề xuất các giải pháp cho Việt Nam tại PCA 77
4.2.3. Trình tự, thủ tục đưa vụ việc ra PCA 86
4.2.4. Những vấn đề Việt Nam cần chuẩn bị để đưa vụ việc ra PCA 89
4.2.5. Những vấn đề có thể phát sinh khi Việt Nam đưa tranh chấp chủ
quyền biển đảo trên biển Đông tại thiết chế PCA 103
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTTG I Chiến tranh thế giới thứ nhất
CTTG II Chiến tranh thế giới thứ hai
ICC Tòa trọng tài quốc tế của Phòng thương mại quốc tế
ICJ Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc
ICSID Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
ITLOS Tòa án quốc tế theo Công ước luật biển năm 1982
La Haye I Công ước La Haye 1899
La Haye II Công ước La Haye 1907
PCA Tòa trọng tài thường trực Lahaye
UNCITRAL Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế
UNCLOS Công ước luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, đặc biệt là
những tranh chấp quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
đang diễn ra rất phức tạp thì việc tìm hiểu và áp dụng một cách thuận lợi các quy tắc
tố tụng của các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết các tranh chấp một cách hòa
bình, tránh các cuộc xung đột vũ trang là một trong những nhu cầu cấp thiết của Việt
Nam, đây cũng là nhiệm vụ đặt ra cho nhưng nhà làm luật, những chuyên gia và các
nhà nghiên cứu luật quốc tế của Việt Nam. Với mong muốn đưa ra một số luận cứ
khoa học, pháp lý cũng như những bài học kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp
liên quan đến chủ quyền lãnh thổ nhằm hỗ trợ cho việc đấu tranh giành chủ quyền
biển đảo Việt Nam nên học viên đã lựa chọn đề tài: “Tòa án trọng tài thường trực
La Haye và việc giải quyết các tranh chấp quốc tế” cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Việt Nam đã trở thành thành viên của Tòa trọng tài thường trực La Haye
(PCA), chính thức tham gia Công ước La Haye 1899 từ ngày 29 tháng 12 năm 2011
và Công ước La Haye 1907 từ ngày 27 tháng 02 năm 2012. Cho đến nay đã có một
số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến PCA của một số chuyên gia pháp
lý, các nhà làm luật, tuy nhiên số lượng vẫn còn rất hạn chế và cũng chưa có một
công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về PCA đã được công
bố. Hi vọng luận văn sẽ có những đóng góp nhất định về mặt khoa học cũng như
thực tiễn trong việc lựa chọn một thiết chế tài phán quốc tế để giải quyết các tranh
chấp quốc tế mà Việt Nam có liên quan.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn, học viên mong muốn giới thiệu một cách đầy đủ,
toàn diện cũng như những ưu điểm và hạn chế của Tòa trọng tài thường trực La
Haye - một thiết chế tài phán quốc tế có lịch sử lâu đời và nhiều kinh nghiệm trong
3
trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng. Ngoài ra luận văn còn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về PCA bao gồm lịch sử hình thành và phát
triển, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vị trí và vai trò của PCA.
Chương 2: Các nguyên tắc, trình tự và thủ tục tố tụng và luật áp dụng của PCA.
Chương 3: Thực tiễn trọng tài và cung cấp dịch vụ pháp lý của PCA từ năm
2000 đến nay, giới thiệu ba vụ việc điển hình liên quan đến tranh chấp chủ quyền
biển đảo đã được giải quyết tại PCA.
Chương 4: Bài học kinh nghiệm của PCA và những giải pháp đề xuất nhằm
bảo vệ chủ quyền trên biển Đông của Việt Nam.
4
Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÒA
TRỌNG TÀI THƢỜNG TRỰC LA HAYE
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa trọng tài thƣờng trực La
Haye (PCA)
1.1.1. Lịch sử hình thành thiết chế trọng tài
Cho đến nay, dường như khoa học pháp lý vẫn chưa khẳng định được một
cách chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể
khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này.
Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa
thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây. Cuối thế
kỷ 19, người ta đã cố gắng hợp thức hoá tính cách pháp lý cho hình thức trọng tài
qua hai Hội nghị quốc tế. Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức tại La Haye vào năm
1899 và năm 1907. Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn thảo quy chế và thủ tục và
nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp ước trọng tài và khái niệm
“Trọng tài” được đề cập nhiều trong luật quốc tế. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài
được nêu trong Công ước La Haye năm 1899, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải
quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên
lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp”. Công ước La Haye 1907 qui định: “Trọng
tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can
thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở
của sự tôn trọng luật pháp”.
1.1.2. Quá trình thành lập và phát triển của PCA
1.1.2.1. Quá trình thành lập của PCA
Với mong muốn tìm kiếm các giải pháp giải quyết các xung đột giữa các
quốc gia mà không cần sử dụng lực lượng quân sự, ý tưởng về tổ chức Hội nghị hòa
bình thế giới được Sa hoàng Nicholas II đưa ra ngày 29/08/1898. Ngày 18/05/1899
Hội nghị hòa bình thế giới lần thứ nhất đã được nhóm họp tại La Haye (viết theo
tiếng Pháp), (Hague viết theo tiếng Anh), (Den Haag theo tiếng Hà Lan) của Hà Lan 6
dưới sự chủ trì của Sa hoàng Nicholas II và ông Mikhail Nikolayevich Muravyov,
Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nga. Có 26 quốc gia đã tham dự hội nghị bao gồm các nhà
lãnh đạo của Bắc Mỹ và Nam Mỹ, vua Nam Tư, hoàng đế của đế quốc Ottoman,
quốc vương Thái Lan, đại diện của Thanh Triều (Trung Quốc),
Hội nghị hòa bình La Haye lần thứ nhất đã thảo luận rất nhiều vấn đề liên
quan đến chiến tranh cũng như giải quyết các xung đột giữa các quốc gia. Kết quả
của hội nghị là sự ra đời của Công ước La Haye 1899 (còn được gọi là Công ước La
thể hiện tương xứng với những gì các quốc gia mong muốn khi thành lập, số lượng
thành viên của Tòa cũng không thay đổi nhiều so với lúc mới thành lập. Nguyên
nhân là quy chế hoạt động của Tòa chưa thật sự phù hợp, nhiều quốc gia cũng chưa
có thói quen sử dụng Tòa trọng tài như một cách thức giải quyết các tranh chấp,
mâu thuẫn và quan trọng nhất, phần lớn các quốc gia trên thế giới giai đoạn này đều
là thuộc địa phụ thuộc vào các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu, chỉ có một số nước ở
các châu lục khác giữ được chủ quyền của quốc gia mình (Nhật Bản, Thái Lan, ).
Sau Hội nghị hòa bình lần 2 (1907) quy chế hoạt động, thủ tục tố tụng của
PCA đã được hoàn thiện hơn, cơ chế hoạt động của Tòa cũng hiệu quả hơn. Chính
vì vậy, PCA đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong việc thực hiện chức năng
giải quyết các tranh chấp quốc tế. Số lượng thành viên là 42 (trong đó chủ yếu gia
nhập sau Hội nghị hòa bình lần 2 năm 1907). Phân bố theo châu lục: châu Âu có 18
quốc gia, châu Mỹ có 19 quốc gia, châu Á có 5 quốc gia, châu Phi và châu Đại
Dương không có quốc gia nào [19].
Giữa thập niên 30 của thế kỷ XX, những dấu hiệu của một cuộc chiến tranh
thế giới thứ hai ngày càng rõ ràng, các thiết chế quốc tế hiện có đã hoàn toàn bất lực
trong việc ngăn chặn cuộc chiến tranh này. Sau chiến tranh thế giới thứ hai (1939-
1945) một lần nữa yêu cầu về một thiết chế quốc tế đủ khả năng ngăn chặn các mâu
thuẫn, xung đột giữa các quốc gia phát triển thành các cuộc chiến tranh ngày càng
trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Ngày 25/06/1945 Hiến chương Liên Hợp Quốc
được thông qua và bắt đầu có hiệu lực chính thức từ ngày 24/10/1945. Cùng với
việc thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc, quy chế của Tòa án công lý quốc tế
(International Court of Justice- ICJ) cũng được thông qua và Tòa án công lý quốc
tế, cơ quan tài phán chính của Liên Hợp Quốc đã được khai sinh, “mở ra một
chương mới trong lịch sử tài phán quốc tế” [8]. Ngày 05/02/1946 Đại hội đồng Liên 8
Hợp Quốc đã tiến hành bầu chọn các thẩm phán của Tòa án công lý quốc tế và Tòa
án chính thức đi vào hoạt động từ ngày 06/02/1946, trở thành cơ quan tài phán
một thẩm quyền chỉ định đã được đệ trình lên Tổng thư ký, phần lớn trong số đó là
từ giữa những năm 1990. Sự tăng lên này, cũng như sự gia tăng của các vụ việc
phức tạp, đã trực tiếp đưa PCA đến lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế. Tổng thư
ký ngày càng được yêu cầu giải quyết trực tiếp như thẩm quyền chỉ định, hơn là chỉ
đơn thuần bổ nhiệm tổ chức hoặc cá nhân khác.
Vào năm 1991, PCA đã triệu tập một nhóm những chuyên gia làm việc với
mục đích đưa ra những khuyến cáo để cải thiện chức năng của PCA. Kể từ đó, PCA
đã mở rộng và quốc tế hóa bộ phận nhân viên của mình, làm tăng thêm sự nhận thức
toàn cầu về khả năng và vai trò của PCA, thúc đẩy và hiện đại hóa chức năng của hệ
thống giải quyết tranh chấp căn bản bằng việc thông qua những nguyên tắc về thủ
tục mà hầu như dựa trên các quy tắc của UNCITRAL. PCA nhận thấy rằng, những
nguyên tắc của UNCITRAL đã phản ánh thực tiễn và nguyên tắc hoạt động được
thừa nhận trong văn hoá trọng tài trên toàn thế giới và sẽ quy định những thủ tục có
hiệu quả và công bằng trong việc hoà bình giải quyết các tranh chấp giữa các quốc
gia về việc giải thích, áp dụng, thực hiện điều ước và những thoả thuận khác mặc dù
những thủ tục này được dùng trong trọng tài thương mại.
c. Số lượng thành viên và số lượng vụ việc PCA đã và đang giải quyết
Đến nay, PCA có 115[29] quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của một
hoặc cả hai công ước, phân bổ như sau: châu Âu có 38 quốc gia, châu Mỹ có 23
quốc gia; châu Á có có 30 quốc gia; châu Phi có 22 quốc gia, châu Đại Dương có 02
quốc gia [17]. Như vậy, các châu lục đều có quốc gia tham gia và gần như các nước
lớn trên thế giới đều đã là thành viên của Tòa trọng tài thường trực (Anh, Pháp, Mỹ,
Nga, Trung Quốc, )
Số lượng các vụ việc PCA giải quyết qua từng thời kỳ cũng có nhiều biến
động. Giai đoạn trước năm 1946 PCA giải quyết 24 vụ việc (có 20 vụ việc giải
quyết sau Công ước La Haye 1907) trong đó có những vụ tranh chấp nổi tiếng như
vụ Nga kiện Thổ Nhĩ Kỳ về bồi thường thiệt hại (1912); vụ tịch biên Manouba và
Carthade giữa Pháp và Italia (1913); vụ tranh chấp giữa Hà Lan và Bồ Đào Nha đối
với biên giới trên đảo Timor (1914); vụ tranh chấp chủ quyền giữa Hà Lan với Mỹ
Về cơ cấu tổ chức của PCA đã được quy định bởi Công ước La Haye 1899 11
và Công ước La Haye 1907. PCA không phải là một toà thực sự với các thẩm phán
thường trực. Đây thực tế chỉ là một danh sách các Trọng tài viên thường trực, có thể
được các quốc gia lựa chọn khi giải quyết các tranh chấp quốc tế sử dụng biện pháp
này. Cấu trúc của PCA gồm có 3 bộ phận chính gồm: Hội đồng hành chính, Thành
viên Tòa và Văn phòng quốc tế (hoặc Ban thư ký).
1.2.1. Hội đồng hành chính (Administrative Council)
Hội đồng hành chính là cơ quan chủ quản của PCA, bao gồm đại diện ngoại
giao tại La Hay của tất cả các quốc gia thành viên tham gia Hội nghị hòa bình năm
1899 và Hội nghị hòa bình năm 1907 và do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Lan làm
chủ tịch Hội đồng hành chính. Hội đồng hành chính nhóm họp mỗi năm hai lần tại
La Hay, đưa ra sự chỉ đạo chung cho công việc của PCA, giám sát và phê duyệt
ngân sách và chi tiêu của PCA. Tổng thư ký báo cáo thường niên với Hội đồng
hành chính về hoạt động của PCA.
1.2.2. Thành viên của Tòa (Members of the Court)
Các thành viên của Toà án lập một danh sách các Trọng tài viên, người mà
các bên tham gia tranh chấp có thể, nhưng không bắt buộc, chỉ định trong thủ tục tố
tụng trọng tài tại PCA, mỗi quốc gia thành viên của PCA có thể chỉ định tối đa bốn
Trọng tài viên với nhiệm kỳ sáu năm, Trọng tài viên được để cử phải là những cá
nhân có chuyên môn sâu về luật quốc tế, có kinh nghiệm, uy tín và luôn sẵn sàng
thực hiện các nhiệm vụ của một Trọng tài viên (Điều 44 Công ước La Haye 1907).
Mặc dù công ước quy định rằng các trọng tài phải được lựa chọn từ danh sách thành
viên (Điều 45 Công ước La Haye 1907), nhưng rõ ràng rằng, trong lịch sử của PCA,
các bên muốn có sự tự do để chỉ định trọng tài ngoài danh sách đó, (ngoài việc
thành lập một Hội đồng trọng tài, các thành viên của PCA từ mỗi nước ký kết có
quyền chỉ định một nhóm quốc gia, mà nhóm này có quyền cử các ứng viên vào
Tòa án công lý quốc tế của Liên Hợp Quốc (ICJ)).
hình thức trọng tài giữa 2 bên mà chỉ có một bên là quốc gia (1993).
- Những nguyên tắc không bắt buộc cho việc giải quyết bằng hình thức
trọng tài liên quan đến các tổ chức quốc tế và các quốc gia (1996).
- Những nguyên tắc không bắt buộc cho giải quyết bằng hình thức trọng tài
giữa các tổ chức quốc tế và các bên cá nhân (1996). 13
- Những nguyên tắc hòa giải không bắt buộc (1996).
- Những nguyên tắc không bắt buộc cho việc tìm hiểu tình hình thực tế của
ủy ban điều tra (1997).
- Những nguyên tắc không bắt buộc cho giải quyết tranh chấp bằng hình
thức trọng tài liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường (2001).
- Những nguyên tắc không bắt buộc cho sự hòa giải tranh chấp liên quan
đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường (2002).
- Những quy tắc không bắt buộc cho sự hòa giải tranh chấp liên quan đến
các hoạt động ngoài không gian (có hiệu lực từ ngày 06/12/2011).
- Quy tắc trọng tài PCA năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 17/12/ 2012).
1.3. Thẩm quyền của PCA
1.3.1. Thẩm quyền về vụ việc
Theo quy định của các Công ước La Haye, Tòa trọng tài thường trực có thẩm
quyền giải quyết rộng, gần như không giới hạn ở bất cứ lĩnh vực nào. Bên cạnh đó,
thẩm quyền của Tòa trọng tài thường trực La Haye cũng không bị giới hạn bởi chủ
thể tham gia tranh chấp. Điều này được thể hiện cụ thể ở các quy tắc tố tụng của Tòa
đã được ban hành cũng như những vụ việc mà Tòa trọng tài đã giải quyết trên thực tế.
Điều 21 Công ước La Haye 1899 đã khẳng định: Tòa trọng tài thường trực
có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh được các bên mang đến
trọng tài, trừ trường hợp các bên lựa chọn một Tòa án khác để giải quyết (nguyên
văn “The Permanent Court shall be competent for all arbitration cases, unless the
parties agree to institute special Tribunal”. Điều 42 của Công ước La Haye 1907
Việc xác định một cách rõ ràng thẩm quyền của Tòa trọng tài thường trực La
Haye sẽ giúp các bên tham gia tranh chấp có sự cân nhắc, lựa chọn hợp lý trước khi
quyết định đưa vụ việc ra giải quyết tại Tòa trọng tài, bởi lẽ mỗi cơ quan tài phán
đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Việc lựa chọn một cơ quan tài phán phù hợp sẽ
góp phần giải quyết nhanh chóng, hiệu quả tranh chấp, đáp ứng các yêu sách của
các bên một cách hợp lý, đặc biệt là trong các tranh chấp liên quan đến vấn đề lãnh
thổ giữa các quốc gia.
1.3.2. Thẩm quyền về dịch vụ pháp lý của PCA
Các Công ước La Haye I và La Haye II cũng như các Quy tắc được ban hành
sau đó của PCA đã thể hiện khá rõ thẩm quyền xét xử và thẩm quyền tư vấn của 15
PCA. Thực tiễn của PCA không giống như ICJ, không có sự phân biệt giữa thẩm
quyền xét xử và thẩm quyền tư vấn. Toà trọng tài luôn luôn có quyền xét xử và
được phân biệt với các hình thức giải quyết tranh chấp không qua xét xử khác bằng
những phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc.
Những phương pháp giải quyết tranh chấp không mang tính ràng buộc bao
gồm sự hòa giải, điều tra và có thể phù hợp hơn với các bên trong việc tìm kiếm
một tuyên bố có tính tư vấn hoặc không ràng buộc đối với quyền và nghĩa vụ chung
của các bên. Công ước La Haye 1899 và 1907 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thành
lập một Ủy ban quốc tế về điều tra để giải quyết một số loại tranh chấp thông qua
việc tìm hiểu một cách khách quan tình hình thực tế của vụ việc, trên cơ sở đó năm
1997 PCA đã thông qua Những nguyên tắc không bắt buộc cho việc tìm hiểu tình
hình thực tế của Ủy ban điều tra. Năm 1937, Hội đồng hành chính của PCA ủy
quyền cho Văn phòng quốc tế thành lập và quản lý Ủy ban hòa giải thực hiện chức
năng hòa giải, những quy tắc hòa giải của PCA được soạn thảo trên cơ sở các quy
tắc hòa giải của UNCITRAL năm 1980 và đã được PCA thông qua năm 1996. Tiếp
đó năm 2002 PCA đã thông qua Những nguyên tắc không bắt buộc cho sự hòa giải
tranh chấp liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường, Quy tắc này đã bổ
các quốc gia và đưa ra các kết luận tư vấn đối với các yêu cầu của Hội đồng hoặc Đại
hội đồng hội quốc liên mới được thành lập với tư cách là cơ quan tài phán quốc tế
thường trực đầu tiên. Như vậy, tại thời điểm thành lập Tòa trọng tài thường trực La
Haye thế giới chưa tồn tại các cơ quan tài phán thường trực nhằm giải quyết các tranh
chấp quốc tế và vì vậy càng chưa thể tồn tại các cơ quan tài phán chuyên trách trong
một lĩnh vực tranh chấp quốc tế như ngày nay. Ra đời trong bối cảnh đó, khi thành
lập Tòa trọng tài thường trực các bên tham gia Công ước La Haye mong muốn Tòa sẽ
giải quyết mọi tranh chấp quốc tế phát sinh giữa các chủ thể.
Như vậy, những chủ thể thành lập Tòa trọng tài thường trực La Haye có ý định
trao cho Tòa thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong
đó chủ yếu là tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, thương mại. Giải quyết tranh chấp
liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia không phải là nhiệm vụ chính của Tòa
trọng tài thường trực La Haye. Chính vì điều này, trong số các vụ việc mà Tòa trọng
tài thường trực La Haye đã và đang giải quyết thì những vụ việc mà các chủ thể đều 17
là quốc gia và nội dung liên quan đến tranh chấp lãnh thổ chiếm số lượng không
nhiều, trong khi đó, những vụ kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh của các công
ty, các tổ chức, các tranh chấp giữa quốc gia liên quan đến các hoạt động khác lại
chiếm phần lớn các vụ việc đã được giải quyết [19]. Điều này chứng tỏ Tòa trọng tài
thường trực La Haye không phải là cơ quan tài phán chuyên về giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong quan hệ giữa các quốc gia có liên quan đến pháp luật quốc tế
như Tòa án công lý quốc tế và càng không phải là cơ quan tài phán chuyên về giải
quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp lãnh thổ như Tòa án quốc tế về luật biển.
Xuất phát từ các quy định của các quy chế tố tụng của Tòa trọng tài thường
trực La Haye chúng ta thấy Tòa không phải là một cơ quan tài phán chuyên trách
trong lĩnh vực công pháp như Tòa án công lý quốc tế hay Tòa án quốc tế về luật
biển cũng không phải là cơ quan tài phán chuyên trách trong lĩnh vực tư pháp như
các Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế.