ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THỦY
CHỨC NĂNG XÃ HỘI
CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
3
1.1.
Khái niệm và đặc điểm chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam
3
1.2.
Quá trình phát triển của chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam
2.3.2
Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội
34
2.3.3.
Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội
37
2.3.4.
Giải quyết các vấn đề xã hội
43
2.3.5.
Bảo trợ và phúc lợi xã hội
63
2.4.
Những yếu tố tác động đến chức năng xã hội của Nhà nước
Việt Nam hiện nay
69
2.4.1.
Yếu tố chính trị
69
2.4.2.
Yếu tố kinh tế
70
2.4.3.
Yếu tố hội nhập quốc tế
72
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN CHỨC
NĂNG XÃ HỘI HIỆU QUẢ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
73
3.1.
82
KẾT LUẬN
93
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o
94 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chức năng xã hội là một trong những chức năng quan trong, thể hiện
rõ nét bản chất "nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" của nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với chức năng chính trị,
chức năng kinh tế, chức năng xã hội của nhà nước là một chuỗi các phương
diện hoạt động chính của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
của nhà nước, là các hoạt động có quá trình hình thành và phát triển và được
thể hiện rõ rệt theo từng giai đoạn phát triển của nhà nước Việt Nam.
Mặc dù chức năng xã hội là một trong những chức năng nguyên thủy
của Nhà nước, xuất hiện ngay từ khi xuất hiện nhà nước. Song đây lại là một
vấn đề lý luận tương đối mới mẻ so với các nội dung khác trong lý luận về
Nhà nước và pháp luật. Ở nước ta, chức năng này mới được đề cập rộng rãi
trong những năm gần đây của thời kỳ đổi mới. Và trên phương diện lý luận và
thực tiễn, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về vai trò, phạm vi, nội
dung, phương thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước. Điều này làm
ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo thực hiện đúng chức năng xã hội của
nhà nước trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn tiến tới xây dựng và hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Nhà nước cộng hòa xã hội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam.
Chương 2: Nội dung chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và cách thức thực hiện chức năng xã hội
hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.
3
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI
CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC
VIỆT NAM
Nhà nước là hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, có lịch sử hình
thành, tồn tại và phát triển riêng của nó. Nhà nước xuất hiện và tồn tại trong
lịch sử xã hội loài người với những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Chủ
nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Xã hội loài người hiện nay được thoát thai từ
một xã hội thị tộc với ba lần phân công lao động: Lần thứ nhất, chăn nuôi tách
khỏi trồng trọt, lần thứ hai thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, và lần thứ
ba thương mại xuất hiện, trở thành một ngành kinh tế độc lập. Đồng thời với
sự phân công lao động là việc xuất hiện các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn
mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau. Do đó, tổ chức thị tộc không còn đủ
khả năng điều hành xã hội, đòi hỏi phải có một tổ chức mới về chất để duy trì
sự tồn tại và phát triển của xã hội theo một trật tự hợp lý, tổ chức đó được gọi
là nhà nước. Bên cạnh đó, nhu cầu phải chống thiên tai, bão lụt, đảm bảo sự
tồn tại của con người trước thiên nhiên cũng là một trong những nguyên
nhân không kém phần quan trọng của sự ra đời của nhà nước. Và điều đó
cũng chứng minh rằng nhà nước "không phải là một quyền lực từ bên ngoài
áp đặt vào xã hội" mà là "một lực lượng nẩy sinh từ xã hội", do nhu cầu của
chính con người. Nhà nước như là "một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã
xã hội, yêu cầu tổ chức công trình tưới nước và yêu cầu đấu tranh tự
vệ làm cho nhiều nhà nước phương Đông ban đầu vốn là chức năng
chung của xã hội, tiêu biểu cho lợi ích chung của cộng đồng rồi dần
dần chuyển sang địa vị đối lập với xã hội, trở thành chức năng của
nhà nước đối với xã hội [1].
5
Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến, chức năng
xã hội mang nặng màu sắc giai cấp, đẳng cấp. Nhà nước bảo vệ lợi ích của
giai cấp, của nhóm xã hội trên cơ sở địa vị của giai cấp, nhóm xã hội đó trong
cơ cấu xã hội. Sự phân biệt đối xử, sự bất bình đẳng đó được pháp luật ghi
nhận công khai. Ngoài trách nhiệm của nhà nước trong bảo vệ trật tự an toàn
xã hội và các công việc chung khác trong lĩnh vực xã hội, hoạt động của nhà
nước hầu hết được nhận thức như là những hành vi mang tính chất ban ơn, ân
huệ, từ thiện, thường được gọi là những chính sách an dân.
Khi nhà nước tư sản ra đời, vị trí cá nhân của con người được chú
trọng trên mọi phương diện so với các chế độ xã hội trước đó, quyền con
người, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật đã được công nhận
về mặt pháp lý nên tính xã hội và chức năng xã hội của Nhà nước tư sản rõ
nét hơn. Trong những năm gần đây, chức năng xã hội chiếm một vị trí quan
trọng trong hoạt động của nhà nước tư sản. Nhà nước tư sản giải quyết các
vấn đề xã hội chủ yếu thông qua hệ thống trợ cấp xã hội, thông qua việc can
thiệp vào các quá trình kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu thông
qua hệ thống trợ cấp xã hội, thông qua việc can thiệp vào các quá trình kinh tế
để giải quyết các khía cạnh xã hội như tạo công ăn việc làm, điều tiết thu
nhập, bảo hộ người tiêu dùng… Nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi này là
do phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, do mâu thuẫn xã hội gay
gắt và do mục đích của giai cấp tư sản muốn thu hút lực lượng đáng kể chống
lại chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới có bản chất khác với
kiện giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và thiết lập được nhà nước
của mình, thì chức năng giai cấp là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; còn chức
năng xã hội (mà trong đó, việc tổ chức xây dựng xã hội mới là chủ yếu) là
nhiệm vụ cơ bản, quyết định trực tiếp sự thắng lợi hay thất bại của công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự khác nhau căn bản giữa việc thực hiện chức
năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước tư bản chủ nghĩa là ở
chỗ, nhà nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chức năng xã hội không phải với tư
7
cách là mục đích, mà là phương tiện để củng cố, đảm bảo sự thống trị chính
trị và kinh tế của thiểu số trong xã hội là giai cấp tư sản đối với đa số là giai
cấp công nhân và những người lao động khác. Theo đó, việc thực hiện chức
năng xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa luôn bị giới hạn trong một phạm
vi chật hẹp và bị chi phối bởi quan điểm của giai cấp tư sản, xuất phát từ
những lợi ích kinh tế và chính trị ích kỷ của một thiểu số dân cư trong xã hội.
Ngược lại, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa
được xác định là mục đích chứ không phải là phương tiện để nhà nước ấy
đảm bảo sự thống trị chính trị của nó. Chức năng xã hội của nhà nước xã hội
chủ nghĩa là nhằm đảm bảo quyền dân chủ cho đại đa số những người lao
động, xây dựng những thiết chế, cơ sở để quyền làm chủ đó được thực hiện
một cách thực sự trong thực tế.
Trong các chế độ xã hội khác nhau, xuất phát từ bản chất xã hội và vai
trò xã hội của nhà nước, tất cả các nhà nước đều đóng vai trò quan trọng trong
việc tổ chức thực hiện và quản lý những công việc chung nảy sinh từ sự tồn
tại, phát triển của toàn bộ cộng đồng, cải thiện chất lượng của cuộc sống cho
người dân nên bất kì một nhà nước nào cũng thực hiện chức năng xã hội. Tuy
nhiên, do sự khác biệt về bản chất nhà nước, về điều kiện tồn tại và phát triển
của mỗi nhà nước mà chức năng xã hội của mỗi nhà nước có thể có những nội
dung, phương thức thực hiện khác nhau và luôn thay đổi tương ứng với sự
phát triển và tiến bộ của xã hội, tương ứng với vai trò của Nhà nước trong
vệ môi trường…
Tất cả các nhà nước đều thực hiện chức năng xã hội, nhưng do sự
khác biệt về bản chất nhà nước, về điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi nhà
nước mà chức năng xã hội của nhà nước được thực hiện khác nhau. Trong
nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến, do bản chất nhà nước của
hai hình thức nhà nước này là công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính
của giai cấp chủ nô và giai cấp địa chủ phong kiến, duy trì địa vị kinh tế của
9
hai giai cấp này nhằm thực hiện sự thống trị đối với toàn xã hội, cho nên chức
năng xã hội của hai hình thức nhà nước này mang nặng màu sắc giai cấp,
đẳng cấp. Nhà nước chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp, của nhóm xã hội thuộc
giai cấp thống trị. Chức năng xã hội thể hiện mờ nhạt vì các nhà nước này tập
trung vào chức năng chính trị như chức năng bảo vệ và củng cố chế độ sở
hữu, chức năng đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị bằng bạo lực, chức
năng thống trị về tư tưởng, chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược và
phòng thủ chống xâm lược… Chức năng xã hội của nhà nước trong những
hình thức nhà nước này được thể hiện như một hình thức ban ơn, ân huệ, từ
thiện. thường được gọi là những chính sách an dân. Trong nhà nước tư sản,
chức năng xã hội được thể hiện rõ nét hơn, nhà nước giải quyết các vấn đề xã
hội như việc làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn
đề bảo trợ xã hội cho người già hoặc thất nghiệp, các tệ nạn xã hội. Tuy
nhiên, bản chất của nhà nước tư sản vẫn là công cụ thống trị giai cấp của giai
cấp tư sản, việc nhà nước tư sản thể hiện rõ chức năng xã hội của nhà nước
nhằm xoa dịu mâu thuẫn gay gắt trong xã hội và do mục đích của giai cấp tư
sản muốn thu hút lực lượng để chống lại chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất là nhà nước của đại đa số cư
dân trong xã hội. Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: "Nhà nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh
quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách
đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như vào các hoạt động quản lý điều
hành. Bên cạnh đó nhân dân tham gia công việc của nhà nước và xã hội ở cơ
sở trong các hoạt động đa dạng nhằm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi
ích của công dân và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.
Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên nhà nước
của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi
quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động
quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách
11
đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như các hoạt động lập pháp, hoạt động
quản lý điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ pháp luật. Điều 53
của Hiến pháp đã ghi nhận: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước
và xã hội…". Ở những mức độ khác nhau, nhân dân có thể tác động một cách
tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực của nhà nước. Hiến pháp và pháp
luật của nhà nước ta đã có nhiều quy định cụ thể để hiện thực hóa khả năng
đó. Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình,
điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác,
khuyến khích phát triển các hình thức hoạt động văn học, nghệ thuật. Đó là
kênh cực kỳ quan trọng để qua đó nhân dân góp tiếng nói của mình vào quá
trình hoạch định đường lối của Đảng, xây dựng chính sách và pháp luật của
nhà nước. Đảng và Nhà nước đã tạo ra mọi điều kiện để công dân có thể sử
dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền khiếu
nại, quyền tố cáo vơi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm
trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại. tố cáo được cơ quan
nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, Chính phủ
thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. Hiến
Chức năng xã hội của nước ta là một trong những chức năng cơ bản
và nhất quán trong toàn bộ lịch sử phát triển của nhà nước Việt Nam.
Ở Việt Nam, con đường hình thành nhà nước diễn ra có sự khác biệt.
Theo tư liệu lịch sử, đặc biệt là về mức độ chênh lệch tài sản trong mộ táng,
thì sự phân hóa giai cấp trong xã hội chưa sâu sắc, chưa dẫn đến mâu thuẫn
giai cấp không thể điều hòa được. Nhưng sở dĩ nhà nước vẫn được hình thành
vì có hai yếu tố đặc biệt và quan trọng thúc đẩy, đó là: công cuộc chống ngoại
xâm và công cuộc trị thủy - thủy lợi. Trải qua thời kỳ phát triển lâu dài, sự
phát triển của sức sản xuất tạo ra sản phẩm dư thừa. Mặt khác, do nhu cầu bức
thiết và sống còn của công cuộc trị thủy thủy lợi và chống giặc ngoại xâm,
13
Hùng Vương vốn là tù trưởng một bộ lạc đã đứng ra thống nhất các bộ lạc
khác và trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc, trở thành người chỉ huy quân
sự tối cao và người điều hành cao nhất trong công cuộc trị thủy - thủy lợi. Lợi
dụng uy tín và địa vị đó, Hùng Vương và các con cháu của mình, dần dần
theo cách nói của Ph Angghen, từ việc đảm nhận "chức năng xã hội" tiêu biểu
cho lợi ích chung đã chuyển sang "địa vị độc lập với xã hội" và vươn lên
thống trị xã hội, biến thành ông vua cùng bộ máy cai trị giúp việc của mình.
Trải qua các giai đoạn chính quyền đô hộ nghìn năm của phong kiến
Trung Quốc, thế kỷ thứ X đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc, kết thúc thời kì thống trị hà khắc và nguy hiểm
của phong kiến nước ngoài, giành độc lập dân tộc. Nhà nước đầu tiên, và nhà
nước hầu hết qua các triều đại, chính quyền nhà nước đều phải đứng ra đảm
nhận vai trò tổ chức toàn thể dân tộc chống giặc ngoại xâm và vai trò trị thủy
và thủy lợi. Chức năng xã hội của nhà nước được hình thành từ khi xuất hiện
nhà nước và duy trì trong suốt quá trình phát triển của mình.
Trong suốt thời kỳ bị thực dân Pháp thống trị, dân tộc ta đã liên tục
đấu tranh quật khởi giành độc lập dân tộc. Và ngay từ những ngày đầu mới
thành lập, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã tập trung giải
giảm gánh nặng cho dân chúng.
Trong giai đoạn 1954 - 1975, mặc dù đất nước tồn tại song song hai
chính quyền cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: miền Nam
đấu tranh giành và xây dựng chính quyền cách mạng, bên cạnh đó Mặt trận
dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam còn đề ra và thực hiện những nhiệm
vụ cụ thể, trong đó có nhiệm vụ: xây dựng nền văn hóa giáo dục dân tộc và
tiến bộ, xóa nạn mù chữ, mở rộng trường học, cải cách chế độ học tập và thi
cử, thực hiện nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc,
thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ… còn miền Bắc xây dựng Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khôi phục kinh tế, cải cách xã hội chủ nghĩa,
đấu tranh thi hành Hiệp định Gienevơ, thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm,
vừa xây dựng kinh tế vừa đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc
15
bằng không quân của đế quốc Mỹ, đấu tranh ngoại giao và ký kết Hiệp định
Pari về Việt Nam, chi viện kịp thời và to lớn cho cách mạng miền Nam.
Nhìn chung trong giai đoạn 1954 - 1975, chức năng xã hội của nhà
nước đều được thực hiện trên cơ sở nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào sự viện
trợ từ bên ngoài. Đất nước trong giai đoạn chiến tranh bị chia cắt thành hai
miền với hai chế độ chính trị khác nhau, song Nhà nước ta vẫn xây dựng một
hậu phương vững chắc, động viên cao độ sức người, sức của cho tiền tuyến,
quyết tâm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Chức năng xã hội của
nhà nước trong giai đoạn này chưa được bộc lộ rõ so với chức năng chuyên
chính giai cấp và chức năng kinh tế, và việc thực hiện chức năng xã hội trong
giai đoạn này phần lớn nhờ vào việc thực hiện chức năng khác của nhà nước
và chủ yếu là chức năng kinh tế.
Trong giai đoạn 1976 - 1986, đất nước hòa bình, thống nhất và bước
vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, nhưng do mắc
phải những sai lầm chủ quan duy ý chí, ấu trĩ tả khuynh, duy trì quá lâu cơ
chế quản lý cũ dẫn đến nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội
mang bản chất giai cấp công nhân vẫn được giữ vững, đồng thời chức năng xã
hội, bản chất xã hội của nhà nước được xác định một cách rõ ràng hơn. Chức
năng xã hội của nhà nước trong giai đoạn này có sự thay đổi về nội dung và
phương thức thực hiện, xuất hiện từ yêu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội
nhằm đáp ứng đòi hỏi của chính sự vận động và phát triển của xã hội. Từ sự
thay đổi cơ chế kinh tế, hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình
kinh tế như: việc làm, thu nhập, văn hóa, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội… đòi
hỏi phải có sự kiểm soát từ phía nhà nước. Dân chủ trong kinh tế đòi hỏi dân
chủ trong lĩnh vực xã hội phải được phát huy, nhân dân ngày càng tham gia
tích cực vào việc giải quyết các công việc nhà nước, công việc xã hội. Vị trí
và vai trò của nhà nước chuyển dần từ vai trò "một người bảo trợ" chung cho
toàn xã hội chuyển sang thành "người cầm lái", khởi xướng và tổ chức các
hoạt động xã hội, là chủ thể hoạch định và thực thi các chính sách xã hội. Một
17
mặt nhà nước vẫn duy trì vai trò phục vụ các nhu cầu chung, lợi ích chung của
cả cộng đồng, theo trình độ phát triển kinh tế, nhà nước tăng dần nguồn đầu tư
cho giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân với các vấn đề xã hội
khác. Quan trọng hơn, nhà nước tạo ra cơ hội và điều kiện và khuyến khích
các thành viên trong xã hội chủ động, tích cực giải quyết các vấn đề của bản
thân họ và tham gia giải quyết các vấn đề cộng đồng. Mặt khác, đối với một
bộ phận dân cư được gọi là những người yếu thế trong điều kiện kinh tế thị
trường, Nhà nước đóng vai trò là người bảo trợ, đảm bảo cho họ những điều
kiện sống tối thiểu để họ có thể tự vươn lên hòa nhập với cộng đồng.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa đòi hỏi, vừa
tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện chủ trương xã hội hóa, kết hợp Nhà nước
và nhân dân cùng làm trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và trong các
lĩnh vực thiết yếu như y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo…Với tinh thần xóa bỏ
cơ chế "xin - cho", bao cấp, Nhà nước chủ trương vừa tăng dần các nguồn đầu
tư cho khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao…; đồng thời, khai thác mọi
CHỨC NĂNG KHÁC CỦA NHÀ NƢỚC
Chức năng xã hội là chức năng cơ bản của nhà nước, mọi nhà nước
đều phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung đồng thời phải chăm
lo một số việc chung của toàn xã hội. Ph. Ăngghen đã viết: "Ở khắp nơi, chức
năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng
chí kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó". Cũng như
mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa
muốn thực hiện chức năng giai cấp của mình trước hết phải làm tốt chức năng
xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng
sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự
do dân chủ của nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện
tiên quyết để nhà nước đảm bảo và giữ vững địa vị xã hội về mặt chính trị,
nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột
và các thế lực thù địch.
19
Chức năng xã hội thể hiện bản chất của nhà nước, là cơ sở để xác định
và đánh giá bản chất nhà nước: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai
cấp nông dân và tầng lớp trí thức" [23, Điều 2]. Bản chất của Nhà nước ta là
nhà nước của toàn thể nhân dân, nhân dân thiết lập nên nhà nước bằng quyền
bầu cử, sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và
thông qua hình thức giám sát, kiểm tra, khiếu kiện các quyết định của nhà
nước làm thiệt hại đến quyền lợi của họ hoặc tham gia góp ý kiến vào các dự
án, chính sách, pháp luật. Bản chất của nhà nước ta còn được thể hiện ở khối
đại đoàn kết dân tộc, tính dân tộc được phát huy nhờ kết hợp tính giai cấp,
nhân dân và tính thời đại. Nhà nước thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội
với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh". Nhà
nước quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng phát triển giáo
thị trường chưa được bao nhiêu, song bên cạnh những thành tựu, chúng ta đã
phải trả giá không nhỏ cho những hiện tượng tiêu cực, như do cách làm ăn
thuần túy chạy theo lợi nhuận đã dẫn đen các hình thức lừa đảo hối lộ, trốn
thuế, nợ nần khó trả, do thương mại hóa một cách tràn lan, xâm nhập cả vào
các lĩnh vực dễ thương tổn như y tế, giáo dục, văn hóa đã làm cho các giá trị
đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống cấp, đồng tiền đã chi phối nhiều
quan hệ giữa người với người, sự phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội có
chiều hướng tăng lên, lối sống ích kỷ, thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng
Do đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định nền
kinh tế thị trường mà chúng ta cần xây dựng là nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế đó là: "Phát triển lực
lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt
sở hưu, quản lý và phân phối" [9].
21
Về sở hữu, tồn tại sở hữu toàn dân, tập thể và sở hữu tư nhân. Nhà
nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động
trực tiếp hay thông qua khâu trung gian nhất định tham gia vào quá trình
hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển của
đất nước. Và trên lĩnh vực phân phối nhà nước ưu tiên phân phối theo lao
động và phúc lợi xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh té với việc thực hiện công
bằng xã hội, hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…
Chức năng xã hội của nhà nước mang lại sự ổn định về mặt xã hội.
Việc đảm bảo phúc lợi xã hội ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của
chính sách kinh tế tiến bộ, nhà nước đảm bảo sự công bằng trong xã hội (địa
vị pháp lý ngang nhau thụ hưởng ngang nhau, lao động ngang nhau thì hưởng
thụ ngang nhau, đóng góp, cống hiến cả về vật chất và tinh thần cả trong quá
khứ và hiện tại ngang nhau cho sự phát triển của đất nước thì được hưởng