ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ VIỆT HÀ Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
20
25
III. Tính tất yếu của việc chỉ có một Đảng lãnh đạo Quốc hội ở
nƣớc ta hiện nay.
25
IV. Nội dung Đảng lãnh đạo Quốc hội.
30
1.4.1. Lãnh đạo trong việc đề ra chủ trƣơng, đƣờng lối
và chỉ đạo định hƣớng hoạt động lập pháp.
1.4.2. Lãnh đạo trong việc xây dựng tổ chức và đội ngũ
cán bộ cho công tác lập pháp.
1.4.3. Lãnh đạo trong việc ban hành từng đạo luật và
pháp lệnh cụ thể.
30
34
34
V. Phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc nói chung
và Quốc hội nói riêng.
37
1.5.1 Khái niệm về phƣơng thức lãnh đạo.
1.5.2 Các phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nƣớc nói chung và Quốc hội nói riêng.
37
37
Chương II. Thực trạng Đảng lãnh đạo Quốc hội.
41
I. Đánh giá việc lãnh đạo và phƣơng thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội
Tài liệu tham khảo
93
94
.
Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế bắt đầu vận hành theo cơ chế
thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc thì yêu cầu về xây dựng một Nhà
nƣớc Pháp quyền là một tất yếu lịch sử để tiến tới Nhà nƣớc dân chủ, phù
hợp với tiến bộ chung của Thế giới trong quá trình hội nhập.
1
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Trang 144, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tháng 6 năm
2001 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
4
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc cao nhất, có quyền lập
hiến và lập pháp, là cơ quan có vai trò quan trọng quyết định tính dân
chủ của xã hội, có tác động to lớn trong lộ trình xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền ở Việt Nam.
Chính từ những nguyên do trên, việc nghiên cứu về phƣơng thức
lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và từ đó đề xuất những vấn đề cần
đƣợc đổi mới trên cả lý luận và thực tiễn hoạt động đang là vấn đề nhất
thiết phải đặt ra cả với Đảng, với Quốc hội và các Nhà nghiên cứu pháp
luật, nghiên cứu về hành chính.
Nếu chúng ta có những phƣơng thức lãnh đạo đúng đắn và phù hợp
thì sẽ :
- Nâng cao hiệu quả, chất lƣợng hoạt động của Quốc hội.
- Đảm bảo và tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội nói
riêng và Nhà nƣớc nói chung.
II. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc
đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan nhƣ:
b. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ và hoạt động thực tiễn của
Quốc hội.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nội dung, phƣơng thức
lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
- Trên cơ sở lý luận, luận văn đi sâu đánh giá thực trạng Đảng lãnh
đạo Quốc hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
6
- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất phƣơng
hƣớng và giải pháp nhằm đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối
với Quốc hội trong tình hình mới.
IV. Giới hạn của luận văn
Hoạt động của Quốc hội có nội dung rất rộng, nhƣng do khuôn khổ
của luận văn Thạc sỹ , tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong lĩnh vực lập pháp
(chức năng hàng đầu của Quốc hội) là chính.
Về phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội :
- Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua đƣờng lối, quan điểm, các
nghị quyết, các quyết định, chỉ thị, các nguyên tắc về các vấn đề hệ trọng
của Đất nƣớc.
- Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Ban cán sự Đảng của Quốc
hội.
- Đảng thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát với hoạt động của
Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội và Đảng viên.
- Đảng thống nhất quản lý, giới thiệu và quyết định cán bộ ở một
số chức vụ nhất định của Quốc hội.
V. Phương pháp nghiên cứu
1.2.3. Tăng cƣờng vai trò của Quốc hội nƣớc ta hiện nay.
III. Tính tất yếu của việc chỉ có một Đảng lãnh đạo Quốc hội ở
nƣớc ta hiện nay.
IV. Nội dung Đảng lãnh đạo Quốc hội.
1.4.1. Lãnh đạo trong việc đề ra chủ trƣơng, đƣờng lối và chỉ đạo
định hƣớng hoạt động lập pháp. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
8
1.4.2. Lãnh đạo trong việc xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ cho
công tác lập pháp.
1.4.3. Lãnh đạo trong việc ban hành từng đạo luật và pháp lệnh cụ
thể.
V. Phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc nói chung và
Quốc hội nói riêng.
1.5.1 Khái niệm về phƣơng thức lãnh đạo.
1.5.2 Các phƣơng thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nƣớc nói
chung và Quốc hội nói riêng.
a) Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua đƣờng lối, quan điểm, các
nghị quyết, các quyết định, chỉ thị, các nguyên tắc về các vấn đề hệ trọng
của Đất nƣớc.
b) Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Ban cán sự Đảng của Quốc
hội.
c) Đảng thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát với hoạt động của
Quốc hội thông qua Đảng đoàn Quốc hội và Đảng viên.
d) Đảng thống nhất quản lý, giới thiệu và quyết định cán bộ ở một
số chức vụ nhất định của Quốc hội.
Chương II. Thực trạng việc Đảng lãnh đạo Quốc hội.
I. Đánh giá việc lãnh đạo và phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
10
Chương I. Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta hiện nay .
I. Vị trí pháp lý và chức năng nhiệm vụ của Quốc hội nƣớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1. Vị trí pháp lý của Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam
Tuỳ vào đặc điểm của hệ thống chính trị của mỗi nƣớc, vị trí pháp
lý của Quốc hội ở các nƣớc khác nhau là khác nhau. Nhiều nƣớc Quốc
hội bao gồm hai viện (Thƣợng viện và Hạ viện), các nƣớc XHCN
không tổ chức Quốc hội thành hai viện.
Điều 83 Hiến pháp 1992 đã xác định "Quốc hội là cơ quan cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử chi cả nƣớc bầu ra theo nguyên
tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Quốc hội là cơ quan
Nhà nƣớc tập hợp trí tuệ toàn dân tộc, thể hiện khối đại đoàn kết nhân
dân. Nhƣ chúng ta biết khi đề cử các ứng cử viên ra tranh cử đại biểu
Quốc hội bao giờ cũng chú trọng khả năng và trí tuệ để tham gia, đại
Chính phủ với Quốc hội (Trong khi Quốc hội không họp thì Uỷ ban
thƣờng vụ thay mặt Quốc hội nghe báo cáo hoặc phê chuẩn đề nghị của
Thủ tƣớng nhƣng phải báo cáo lại với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất).
Mối quan hệ của Quốc hội với Toà án nhân tối cao và Viện kiểm
sát nhân dân tối cao. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
12
Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất ở nƣớc ta, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tƣ pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất.
Quốc hội bầu, miễn, bãi nhiệm Chánh án toà án nhân dân tối cao,
Viện trƣởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao. Chánh án toà án nhân dân
tối cao, Viện trƣởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trƣớc Quốc hội (trong khi Quốc hội không họp thì chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Uỷ Ban Thƣờng vụ Quốc hội và
Chủ tịch nƣớc).
2. Chức năng của Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
Theo điều 83 Hiến pháp 1992 Quốc hội nƣớc ta có 3 chức năng :
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối
ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nƣớc ,
những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà
nƣớc, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
- Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của
Nhà nƣớc.
Về chức năng- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc; quyết định chính sách tài chính,
tiền tệ quốc gia; quyết định ngân sách nhà nƣớc, phân bổ ngân sách, phê
chuẩn tổng quyết toán ngân sách nhà nƣớc (vấn đề này dự thảo sửa đổi
về ngân sách chi tiêu cấp Tỉnh trở xuống) ; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ
các thứ thuế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
14
Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ, các cơ quan ngang
Bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới Tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ƣơng; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính- kinh tế đặc
biệt.
Quốc hội quyết định đại xá, trƣng cầu dân ý.
Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về
tình trạng khẩn cấp, các biện pháp bảo đảm đặc biệt khác về quốc phòng
và an ninh quốc gia.
Quốc hội cũng quyết định những chính sách cơ bản về đối ngoại;
phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ƣớc quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo
đề nghị của Chủ tịch nƣớc.
Về chức năng - Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với toàn
bộ hoạt động của Nhà nƣớc.
Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đƣợc thực hiện thông qua
việc:
Quốc hội xem xét các báo cáo hoạt động của Chủ tịch nƣớc, Uỷ
ban Thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao.
Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nƣớc, Uỷ ban
Thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.
tâm. Ngƣời phụ trách các cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm trả lời mà
đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội đƣợc quy định ở điều 84
Hiến pháp năm 1992. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
16
1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
quyết định chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh;
2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật
và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nƣớc,
Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao;
3. Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc;
4. Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự
toán ngân sách nhà nƣớc và phân bổ ngân sách trung ƣơng, phê chuẩn
quyết toán ngân sách Nhà nƣớc; quy định , sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ
thuế;
5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà
nƣớc;
6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nƣớc,
Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, chính quyền địa
phƣơng ;
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nƣớc, Phó Chủ tịch nƣớc,
Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Uỷ viên Uỷ ban
thƣờng vụ Quốc hội, Thủ tƣớng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trƣởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ
tƣớng về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tƣớng, Bộ trƣởng và
1.2.1. Khái niệm về nhà nƣớc pháp quyền Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
18
Nhà nước pháp quyền là nhà nước tuân theo pháp luật và quản lý
bằng pháp luật, xem pháp luật có vị trí chi phối mọi hành vi của cơ quan
công quyền và công dân.
1
Thực ra hiện nay cũng có nhiều định nghĩa về Nhà nƣớc pháp
quyền, nhƣng định nghĩa nhƣ trên là định nghĩa tƣơng đối tổng quát và
phổ biến nhất, chúng ta cũng nên tránh nhận thức sai lầm là Nhà nƣớc
pháp quyền là một kiểu nhà nƣớc mà đó chỉ là cách thức quản lý nhà
nƣớc mà thôi.
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của nhà nƣớc pháp quyền.
Trong cuốn “Về Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý có đƣa ra nhiều cách nhìn
khác nhau về Nhà nƣớc pháp quyền nói chung. Đứng ở mỗi quan điểm
nhìn nhận về Nhà nƣớc pháp quyền thì đƣa ra các đặc điểm cơ bản tƣơng
ứng theo cách nhìn nhận ấy. Ở đây ngƣời viết đƣa ra những đặc điểm mà
trong đề tài KHXH 05.05 đã tổng hợp.
1
* Nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước
Nhà nƣớc pháp quyền là Nhà nƣớc đƣợc tạo nên theo ý chí của nhân dân,
nhằm bảo vệ quyền lợi bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội. Mỗi cá
nhân tuân thủ ý chí chung của luật pháp cũng chính là tuân thủ ý kiến của
riêng họ. Lúc đó Nhà nƣớc và pháp luật phải nhằm mục đích là phục vụ
nhân dân. Quyền lực của nhà nƣớc do nhân dân mà có, còn pháp luật là
thông qua luật chơi là Pháp luật. Chính vì vậy Pháp luật có vị trí tối cao
trong đời sống của cả xã hội và ngay với bản thân Nhà nƣớc.
* Tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, dùng quyền lực kiểm tra và
giám sát quyền lực. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
20
Theo lý luận về Nhà nƣớc pháp quyền, quyền lực đƣợc chia thành
lập pháp, hành pháp, tƣ pháp . Các quyền lực này đƣợc giao cho các cơ
quan Nhà nƣớc tƣơng ứng.
1
Mỗi quyền này đƣợc giao cho một cơ quan khác nhau nhằm mục
đích tránh có một cơ quan nào đó có quá nhiều quyền lực dễ dẫn đến độc
đoán, chuyên quyền. Mỗi cơ quan nắm giữ một quyền nhƣng không hẳn
có sự phân định rạch ròi mà có sự kiểm tra đan chéo lẫn nhau, dùng
quyền lực này để chế ngự một quyền lực khác.
* Nhà nước pháp quyền được gắn bó mật thiết với xã hội công dân.
Xã hội công dân là xã hội mà trong đó mỗi ngƣời phải là một chủ thể tích
cực trong các quá trình chính trị, kinh tế – xã hội. Nhà nƣớc pháp quyền
là một điều kiện để thực hiện xã hội công dân. Thông qua Hiến pháp,
pháp luật quy định đúng đắn về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân sẽ là
cơ sở để công dân tham gia tích cực vào các hoạt động của Nhà nƣớc và
xã hội.
* Có quan niệm đúng về mối tương quan giữa pháp luật Quốc tế
và pháp luật Quốc gia.
Trong điều kiện một xã hội phát triển mới có thể xây dựng đƣợc
Nhà nƣớc pháp quyền. Xã hội càng phát triển bao nhiêu thì nhu cầu về
hội nhập Quốc tế càng lớn bấy nhiêu. Lúc đó pháp luật Quốc tế và pháp
luật. Ngƣời viết cho rằng Quốc hội trƣớc hết phải xem xét các sáng kiến
luật sau đó những sáng kiến luật nào đƣợc chấp thuận thì mới đƣợc đƣa
vào kế hoạch xây dựng luật. Nhƣ vậy các chủ thể có quyền nêu các sáng
kiến về luật phải có nghĩa vụ báo cáo với Quốc hội về sáng kiến luật của
mình.
* Quan hệ với các cơ quan, tổ chức dự thảo luật.
Đây là một vấn đề mà nƣớc ta đã đi theo lối mòn mà chƣa có
những bƣớc thay đổi đột phá. Chúng ta vẫn thấy các dự luật đa số từ phía Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
22
Chính phủ đƣa sang, nhƣng xét về chức năng thì việc này đáng ra phải do
Quốc hội chủ trì. Trên thực tế hiện nay vai trò của Quốc hội mới chỉ
dừng lại ở việc thẩm định dự án luật thông qua các Uỷ ban tƣơng ứng và
đƣa ra thảo luận tại kỳ họp của Quốc hội. Xét về lộ trình làm luật, đây
chỉ là giai đoạn cuối. Muốn tăng cƣờng vai trò của Quốc hội nhất khoát
phải tăng cƣờng số đại biểu chuyên trách và thành lập các Ban soạn thảo
và có các Uỷ ban của Quốc hội chủ trì đồng thời mời một số cơ quan của
Chính phủ, các chuyên gia, các cơ quan tổ chức có kiến thức và kinh
nghiệm về dự thảo luật tham gia hoặc tƣ vấn. Chừng nào cách làm luật
vẫn còn nhƣ hiện nay thì khó tránh khỏi tính cục bộ, bản vị, lúc đó vai trò
của Quốc hội khó có thể nổi bật đƣợc.
* Quan hệ vói Uỷ ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan ban hành
pháp lệnh.
Trong các quan hệ xã hội không thể lúc nào, quan hệ gì cũng đƣợc
luật điều chỉnh, do vậy trong mỗi giai đoạn của lịch sử khác nhau và đặc
điểm của nƣớc ta thì việc ban hành các pháp lệnh vẫn là cần thiết. Theo
quy định hiện nay thì ban hành pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Uỷ ban
thƣờng vụ Quốc hội.
hội" . Một vấn đề điển hình là việc quyết định ngân sách.
Nhà nƣớc ta hoạt động theo nguyên tắc quyền lực tập trung nhƣng
có sự phân công phân nhiệm. Chính phủ điều hành các hoạt động kinh tế
xã hội, nhƣng Quốc hội là cơ quan quyết định về ngân sách cho các hoạt
động của Nhà nƣớc. Vấn đề về ngân sách là rất quan trọng, cơ quan nào
có quyền năng này đồng nghĩa với việc có quyền ảnh hƣởng to lớn và
kiểm soát đƣợc các hoạt động của Nhà nƣớc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
24
Cho dù các hệ thống về tổ chức bộ máy nhà nƣớc có khác nhau,
song quyền quyết định về ngân sách hầu hết là thuộc về Quốc hội và chỉ
một mình Quốc hội mà thôi. Có thể nói việc Quốc hội quyết định về
ngân sách là không phải bàn , nhƣng vấn đề chính nó phải đƣợc thực
hiện triệt để trên thực tế.
Ở nƣớc ta Chính phủ đệ trình dự toán ngân sách lên Quốc hội, hầu
nhƣ bao giờ cũng thấy Quốc hội thông qua, thậm chí còn có tình trạng
"vay ngân sách" , nhƣ vậy tiếng nói của Quốc hội ít có trọng lƣợng khi
quyết định vấn đề ngân sách. Có vài lý do, về chủ quan ta cũng thấy đáng
ra quyết định ngân sách là phải do các ban của Quốc hội đệ trình, Chính
phủ chỉ trình những khoản mục bổ sung, nhƣng Quốc hội chƣa đủ con
ngƣời, năng lực và điều kiện để thực hiện quyền này.
Về khách quan ngƣời viết đề nghị việc quyết định các vấn đề quan
trọng muốn đƣợc phát huy trên thực tiễn phải luật hoá toàn bộ những vấn
đề nào thì Quốc hội quyết định đồng thời những luật này không chỉ là
những luật nội dung mà cần làm rõ cả về thủ tục nữa. Có nghĩa là không
chỉ dừng lại quy định Quốc hội quyết định vấn đề gì mà cả việc chuẩn bị
ra sao, các điều kiện hỗ trợ cho việc ra quyết định, các cơ chế đảm bảo
cho việc thực hiện quyết định