Cải cách chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay qua thực tiễn tỉnh Thái Nguyên - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THÀNH LÊ

CẢI CÁCH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1: YÊU CẦU CẢI CÁCH ĐỐI VỚI BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN

NƢỚC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
25
2.1.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội của tỉnh Thái Nguyên
25
2.2.
Lịch sử hình thành và phát triển của bộ máy chính quyền cấp
tỉnh ở Thái Nguyên từ 1945 đến nay
26
2.2.1.
Tổ chức chính quyền tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến
trước khi ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân năm 2003
26
2.2.2.
Tổ chức chính quyền tỉnh từ khi có Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đến nay
45
2.2.3.
Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền tỉnh Thái
Nguyên hiện nay
53
2.3.
Thực trạng cải cách bộ máy nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên
78
2.3.1.
Thực trạng cải cách bộ máy nhà nước và các mặt hoạt động
khác của chính quyền tỉnh Thái Nguyên thời gian qua
78

HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBHC
: Ủy ban hành chính
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm
2001) đã khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" [42].
Nghị quyết của Đảng ta cũng đã nhấn mạnh: Nâng cao chất lượng
hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) và Hội đồng nhân dân (HĐND), bảo
đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong
phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của HĐND. Tổ chức hợp lý
chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở
nông thôn, đô thị, hải đảo.
Về mặt pháp lý, tổ chức chính quyền tỉnh và thành phố trực thuộc
trung ương ở cùng một cấp, có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn tương tự
nhau, mặc dù Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã có một số quy
định chuyên biệt về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của chính quyền tỉnh, thành

sở tiêu chí nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Qua đó nêu những kiến
nghị, những giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện quy định và tổ chức, hoạt
động của hệ thống chính quyền cấp tỉnh.
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các quy định pháp luật về bộ máy nhà nước, hệ thống
chính quyền địa phương ở Việt Nam, trong đó tập trung phân tích tổ chức
quyền lực nhà nước trong hệ thống chính quyền, khẳng định những yêu cầu
của cải cách đối với hệ thống chính quyền cấp tỉnh.
- Đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của UBND và HĐND
cấp tỉnh trên những phương diện khác nhau như: thể chế, thực tiễn, những
tiêu chí, yêu cầu của cải cách…

3
- Nêu các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của chính quyền tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách.
3. Đối tƣợng, phạm vi, giới hạn của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của bộ máy chính
quyền cấp tỉnh (cả HĐND và UBND) về mặt thể chế và thực tiễn, đồng thời
có liên hệ một số ảnh hưởng, tác động của hoạt động và tổ chức chính quyền
cấp tỉnh trên các mặt lĩnh vực.
Phạm vi, giới hạn của đề tài là nghiên cứu tổ chức và hoạt động của
chính quyền tỉnh từ khi có Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 tới nay
trong phạm vi cả nước và thực trạng ở tỉnh Thái Nguyên. Quá trình cải cách
bộ máy nhà nước cấp tỉnh, những vướng mắc và giải pháp.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chính trị - pháp lý ở nước
ta về nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đồng thời trong quá trình nghiên
cứu, có tham khảo, chọn lọc các quan điểm tiến bộ về cải cách bộ máy nhà
nước, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương.

địa phương.
* Về thực tiễn:
Các ý kiến mà đề tài kiến nghị có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung về bộ máy chính quyền địa phương trong Hiến
pháp và trong Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:

5
Chương 1: Yêu cầu cải cách đối với bộ máy chính quyền địa phương
trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Chương 2: Lịch sử hình thành và phát triển của bộ máy chính quyền
tỉnh Thái Nguyên từ 1945 đến nay. Thực trạng cải cách bộ máy chính quyền
cấp tỉnh ở tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Kiến nghị, giải pháp trong cải cách bộ máy chính quyền
tỉnh Thái Nguyên.
6
Chương 1
YÊU CẦU CẢI CÁCH ĐỐI VỚI BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ XÂY DỰNG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1.1. QUAN NIỆM VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CHÍNH
QUYỀN TỈNH
Phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ là một đặc

Về cơ bản có những mô hình sau đây:
Cơ quan chính quyền địa phương là một bộ máy hành chính đứng đầu
là một quan chức chủ đạo (chủ tịch tỉnh, tỉnh trưởng, thị trưởng …) được bổ
nhiệm từ trên. Cơ quan mang tính cá nhân này (vì toàn bộ quyền hạn tập trung
vào trong tay người đứng đầu, các bộ phận khác nhau trong bộ máy ấy chỉ là
thừa hành và giúp việc) có toàn quyền thực hiện mọi công việc quản lý hành
chính nhà nước ở địa phương, thực hiện việc "cai trị". Mô hình này tồn tại khá
phổ biến ở thời kỳ phong kiến trước đây và hiện nay ở một số đơn vị hành
chính "trung gian" ở một số nước Bắc Âu, Châu Mỹ và Châu Á.
Chính quyền địa phương là cơ quan hành chính do cấp trên bổ nhiệm
(hoặc bầu ra) kết hợp với một Hội đồng tự quản do dân bầu ra, ở đây vai trò
chủ đạo thuộc về cơ quan hành chính, còn Hội đồng tự quản chỉ đóng vai trò
tư vấn, nằm dưới sự giám hộ của cơ quan hành chính và chỉ được bàn định
những vấn đề thuần túy có ý nghĩa địa phương, không được tham gia vào các
vấn đề chung của quốc gia, trừ các vấn đề có tính chất chính trị. Hình thức
quản lý này phổ biến ở các đơn vị hành chính trung gian các nước Châu Âu
lục địa. Thể chế hành chính nhà nước có thể khởi kiện tới cơ quan tài phán
hành chính về những quyết định của thể chế tự quản khi cho rằng những
quyết định đó trái pháp luật.

8
Mô hình quản lý địa phương bởi một Ủy ban hành chính (UBHC) do
dân cư hay các hội đồng tự quản cấp dưới trực tiếp bầu ra. Ủy ban cũng có
người đứng đầu, song hoạt động chủ yếu mang tính tập thể. Ủy ban quyết
định tập thể các vấn đề quản lý địa phương, các thành viên được phân công
phụ trách từng mảng công việc. Hình thức này phổ biến ở các đơn vị hành
chính cấp huyện, quận ở Anh, Mỹ, Bắc Âu.
Mô hình chính quyền địa phương là một hội đồng tự quản do nhân dân
bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và hội đồng là cơ quan có toàn quyền
quyết định các vấn đề địa phương theo quy định của pháp luật. Hội đồng có

Như vậy, khi nói tới chính quyền địa phương là nói tới những thiết chế
thực hiện quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước, quyền lực cộng đồng trên
một đơn vị hành chính - lãnh thổ nhất định của một quốc gia nào đó.
Thuật ngữ "chính quyền địa phương" ở nước ta được dùng thông dụng
kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Thuật ngữ này được
dùng để chỉ các thể chế nhà nước trên các đơn vị hành chính - lãnh thổ, xét về
mặt cơ cấu, chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật hiện nay bao
gồm: HĐND và UBND (trước Hiến pháp 1980 gọi là UBHC). Khác với các
nước, bộ máy chính quyền địa phương ở nước ta là một hệ thống thống nhất
các cơ quan nhà nước và được thành lập hầu như giống nhau ở tất cả các đơn
vị hành chính. Chính quyền địa phương luôn là thiết chế mang hai tính chất:
tính chất nhà nước và tính chất tự quản. Với tính chất nhà nước, các cơ quan
chính quyền địa phương thay mặt nhà nước thực hiện, giải quyết các công
việc nhà nước phát sinh trên địa bàn địa phương, với vai trò là tổ chức của
cộng đồng lãnh thổ, cơ quan chính quyền địa phương giải quyết những vấn
đề có ý nghĩa địa phương. Với quan niệm có tính chất truyền thống: tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nên nhân dân là người bầu ra cơ
quan đại diện, cơ quan đại diện lập ra cơ quan chấp hành do đó pháp luật
nước ta luôn đi theo hướng quy định trong cơ cấu quyền lực ở địa phương
HĐND đóng vai trò là cơ quan chủ đạo trong bộ máy đó. "Hội đồng nhân dân
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng

10
và quyền là chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và trước cơ quan nhà nước cấp
trên" [38, Điều 119]. HĐND có các cơ cấu làm việc như thường trực HĐND,
các ban của HĐND. UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành luật, các văn bản
của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND (Điều 123 Hiến
pháp 1992) UBND được coi là một cơ cấu thuộc HĐND (trừ những UBND ở

nhà nước, không có các cơ quan tự quản. Tuy nhiên, trong mỗi cấp chính
quyền đều có sự khác biệt nhất định về chức năng, nhiệm vụ quản lý do
những yếu tố khách quan và chủ quan đem lại. Chẳng hạn cấp tỉnh thì giữa
tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương cũng có sự khác nhau căn bản về vị
trí, tính chất, quyền hạn mà sự điều chỉnh của pháp luật về nhiệm vụ, quyền
hạn của chính quyền tỉnh cần phân biệt với chính quyền thành phố trực thuộc
trung ương.
Tỉnh là một bộ phận cơ cấu lãnh thổ của cả nước, có những đặc điểm
khác với thành phố trực thuộc trung ương. Địa bàn tỉnh là vùng nông thôn
rộng lớn, mật độ dân cư nhìn chung thưa thớt (nhất là những tỉnh miền núi,
trung du, tây bắc…). Lao động chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp, ngư nghiệp … là nơi cung cấp nguồn nhân lực, các nguyên vật
liệu truyền thống cho sản xuất công nghiệp ở các thành phố, đô thị. Để thấy
được những đặc điểm của địa bàn chính quyền tỉnh chỉ có thể lấy cái đối lập
với nó là thành phố để so sánh:
Thành phố có những đặc điểm chính như: là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật … của cả nước hoặc của vùng lãnh thổ.
Thành phố là nơi tập trung dân cư và sản xuất ở mật độ cao. Dân cư ở thành
phố liên kết với nhau không theo huyết thống mà chủ yếu vì các nhu cầu, lợi
ích khác nhau về vật chất hay tinh thần. Do vậy, những đô thị thường là
những trung tâm đổi mới, sáng tạo và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa
nhân loại sớm hơn.

12
Còn nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, cung cấp nguyên vật
liệu cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ; cung cấp lương thực, thực phẩm cho
thành phố.
Dân cư nông thôn sống thưa thớt, theo làng, ấp đã hình thành từ lâu
đời, liên kết với nhau theo dòng họ, quan hệ thân thích. Ngày nay trong nền
kinh tế thị trường, nhiều quan hệ xã hội mới hình thành đã tác động đến nhiều

những yếu tố đặc thù của đời sống nông thôn. Nếu chính quyền đô thị phần
lớn đều coi việc quản lý xã hội của đô thị, quy hoạch đô thị, xây dựng đô thị
là chức năng chủ yếu, không trực tiếp can thiệp vào lĩnh vực kinh tế của các
chủ thể kinh tế thì chính quyền nông thôn lại phải trực tiếp quan tâm đến tổ
chức sản xuất, phát triển ngành, nghề, hướng dẫn khoa học, kỹ thuật, cách
làm ăn của nhân dân như thế nào để đảm bảo đời sống của họ trên từng vùng
lãnh thổ. Chính quyền "không làm kinh tế" nhưng lại phải thông qua các cơ
quan chuyên môn của mình để quản lý, tổ chức sản xuất trên địa bàn địa
phương để tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn cho
thấy, với trình độ khoa học kỹ thuật của nông thôn như hiện nay, ở nông thôn
chính quyền còn phải chỉ cho người nông dân nuôi con gì, trồng cây gì để
đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế. Khi đề cập đến vấn đề này, nhiều quan
điểm cho rằng chính quyền như vậy là can thiệp quá sâu, nhưng thực tiễn lại
đòi hỏi phải như vậy, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà người nông dân
chưa trực tiếp nắm bắt được khoa học- kỹ thuật và kiến thực về sản xuất kinh
doanh trong cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới. Do những đặc điểm
của đời sống nông thôn như vậy, nên nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền
tỉnh cũng có những đặc thù riêng so với chính quyền thành phố. Vì vậy, cần
có sự điều chỉnh của pháp luật phải mang tính chuyên biệt đối với chính
quyền tỉnh và chính quyền thành phố trực thuộc trung ương.
Nhìn từ góc độ hành chính thì chính quyền cấp tỉnh là cấp hành chính
địa phương đầu tiên sau trung ương. Chính vì lẽ đó khi việc phân cấp được
đặt ra chính là phân cấp giữa trung ương và địa phương - giữa nhà nước với
đơn vị hành chính lãnh thổ. Vì vậy chính quyền cấp tỉnh là cấp phải tổ chức

14
thực hiện sự phân cấp đó. Việc tổ chức có thể bằng nhiều cách khác nhau
như: chính quyền cấp tỉnh trực tiếp thực hiện hoặc phân cấp tiếp cho chính
quyền cấp huyện, chính quyền cấp xã tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng
địa phương.

Trên cơ sở những luận điểm khoa học về nhà nước pháp quyền có thể
nêu ra một số yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với tổ chức và hoạt động
của chính quyền địa phương và chính quyền tỉnh nói riêng như sau:
1.2.1. Tính hợp hiến và hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của
chính quyền tỉnh
Đó là yêu cầu đầu tiên của Nhà nước pháp quyền Việt Nam đối với
mọi cơ quan nhà nước trong đó có chính quyền tỉnh.
Với quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nên nhân dân
là người bầu ra cơ quan đại diện, cơ quan đại diện lập ra cơ quan chấp hành.
Do vậy, "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền là chủ của nhân dân địa phương, do
nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và
trước cơ quan nhà nước cấp trên" (Điều 119 Hiến pháp 1992). HĐND có các
cơ cấu làm việc như thường trực HĐND, các ban của HĐND. UBND là cơ
quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu
trách nhiệm chấp hành luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và
nghị quyết của HĐND (Điều 123 Hiến pháp 1992) UBND được coi là một cơ
cấu thuộc HĐND.
Chính quyền tỉnh xét về cơ cấu bao gồm: HĐND, UBND và các bộ
phận cấu thành của các cơ quan này đều phải được tổ chức trên cơ sở pháp
luật, trước hết của Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND, các văn bản
liên quan tới tổ chức, hoạt động của chính quyền tỉnh. Tổ chức chính quyền
tỉnh hợp Hiến, hợp pháp là một đảm bảo để bộ máy hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả. Việc tổ chức chính quyền hợp pháp thể hiện ở chỗ không thiết lập

16
những cơ quan, cơ cấu tổ chức của cơ quan mà không có căn cứ pháp lý xác
thực. Bên cạnh đó, bộ máy chính quyền tỉnh phải được tổ chức một cách tinh
gọn, có khả năng phản ứng linh hoạt đối với mọi diễn biến của đời sống nhà
nước, xã hội, mọi tình huống hoàn cảnh diễn ra trên thực tế. Hợp Hiến, hợp

cách hành chính trên địa phương mình. Việc cải cách thủ tục hành chính của
chính quyền tỉnh cần phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Thủ tục hành chính
phải đơn giản, thuận tiện cho việc thực hiện; đây là yêu cầu cơ bản, đồng thời
cũng phản ánh nguyện vọng, bức xúc của nhân dân ta hiện nay. Những thủ tục
hành chính rườm rà, phức tạp, không được công khai, minh bạch sẽ là "mảnh
đất màu mỡ" nảy sinh bệnh quan liêu, tiêu cực, hách dịch cửa quyền, sách
nhiễu đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức mỗi khi có công việc với chính quyền.
Thủ tục hành chính phải được công khai, minh bạch, các cơ quan, tổ chức, cá
nhân phải được tiếp cận mọi thông tin về thủ tục hành chính liên quan đến
những lĩnh vực mà họ quan tâm một cách công khai từ phía chính quyền địa
phương. Thực tiễn đã chỉ ra không ít nhà đầu tư đã phàn nàn về sự "bưng bít"
những quy định mới, thông tin mới và đã phải sử dụng các quan hệ cá nhân để
có được nguồn thông tin cần thiết; giải quyết nhanh chóng các yêu cầu từ phía
người dân, tránh những sơ hở và lợi dụng thủ tục hành chính gây phiền nhiễu
nhân dân. Cải cách thủ tục hành chính theo hướng "một cửa" cần phải được
triển khai sâu rộng, có hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhà nước pháp quyền đòi hỏi bộ máy chính quyền tỉnh
phải gọn nhẹ, có sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các cấp chính quyền.
Hiện nay, không có một thể chế nào lại tiêu dùng lớn như bộ máy nhà
nước. Sự tiêu dùng đó được sự dụng vào hai việc chính: tiêu dùng cho chính
bộ máy nhà nước; tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng con người, tài
chính … phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Trên
đơn vị hành chính lãnh thổ tỉnh cũng diễn ra tương tự như vậy; hiệu quả chi
tiêu này hoàn toàn phụ thuộc vào biên chế, năng lực của đội ngũ cán bộ công

18
chức. Vì thế, chi tiêu càng tăng khi bộ máy cồng kềnh, biên chế đông. Mặt
khác, với bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, một công việc được thực hiện
hay có sự tham gia của nhiều cấp, một công việc do nhiều bộ phận trong một
cơ quan cùng thực hiện, điều này gây ách tắc trong giải quyết các công việc

thực chất là sự biểu hiện của nguyên tắc tập trung, tập quyền, để giải quyết
các vấn đề của nhà nước phát sinh ở địa phương thì các cơ quan trung ương
thành lập các cơ quan chuyên môn của mình ở địa phương để giải quyết. Với
cách tập trung này cũng vẫn đòi hỏi phải phân quyền giữa cơ quan trung ương
với các bộ phận của nó đóng tại địa phương.
Phân quyền diễn ra ở cả chiều dọc và chiều ngang; theo chiều ngang ở
trung ương đó là sự phân biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp, còn ở địa
phương đó là sự phân biệt rạch ròi giữa hai thể chế nhà nước ở địa phương
trong từng cấp chính quyền. Điều này đòi hỏi phải phân biệt, phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND; đây không chỉ là yêu
cầu, đòi hỏi của nhà nước pháp quyền về mặt lý thuyết mà còn là yêu cầu của
thực tiễn để khắc phục tình trạng hoạt động mang nhiều tính hình thức của
HĐND và sự lấn át của UBND đối với HĐND.
Tập trung và tự quản như là những mặt đối lập, mâu thuẫn, thống nhất
trong quản lý nhà nước. Khi các cơ quan nhà nước càng can thiệp sâu vào các
mặt đời sống xã hội của cộng đồng dân cư thì tính tự quản của cộng đồng lãnh
thổ, của chính quyền địa phương càng giảm và ngược lại. Ngày nay, trong
điều kiện kinh tế thị trường, một xu hướng chung càng ngày càng làm ít quản
lý hành chính hơn và tăng tính tự quản của chính quyền địa phương trên các
cộng đồng lãnh thổ quốc gia. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự tác động
của quản lý nhà nước, làm suy giảm sức mạnh của nhà nước. Mà ngược lại,
trong điều kiện kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền thì tính tự quản của
chính quyền địa phương nói chung và của chính quyền tỉnh nói riêng càng
tăng thì càng làm cho đất nước phát triển. Tuy vậy, cũng phải thừa nhận vấn

20
đề tự chủ, tự quản của chính quyền địa phương tùy thuộc nhiều vào yếu tố cấu
trúc lãnh thổ quốc gia. Trong nhà nước liên bang, quyền lực của nhà nước liên
bang chỉ như là một bộ phận quyền lực, chủ quyền được tách ra từ quyền lực
của từng bang, mỗi bang là một quốc gia có chủ quyền, có pháp luật riêng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status