Cải cách hành chính ở cấp Huyện tại thành phố Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT DUY HOÀNG DƯƠNG
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CẤP HUYỆN
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
5
1.1.
Cải cách hành chính - biện pháp bảo đảm các quyền công
dân và tổ chức
5

42

Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN
HIỆN NAY (5 NỘI DUNG CHỦ YẾU)
46
2.1.
Các văn bản chỉ đạo
48
2.2.
Tổ chức bộ máy hành chính
50
2.3.
Thủ tục hành chính
55

2.4.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
57
2.5.
Tài chính công
59
2.6.
Hiện đại hóa nền hành chính công
61
2.7.
Nhận xét về ưu điểm, hạn chế cải cách hành chính ở cấp huyện
63
2.7.1.
Ưu điểm
64

89

PHỤ LỤC
92 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cải cách hành chính có thể được coi như
một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công cuộc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta thường
xuyên đưa ra đường lối chỉ đạo và ban hành các chính sách trong lĩnh vực cải
cách hành chính. Công tác cải cách hành chính không phải chỉ là nhiệm vụ
của riêng một cấp chính quyền, một lĩnh vực nào mà nó là nhiệm vụ chung và
có thể nói là hàng đầu của toàn thể bộ máy chính trị, các cấp chính quyền và
nhân dân. Chúng ta có thể thấy rõ được sự quyết tâm cải cách hành chính của
Việt Nam thông qua các Văn kiện Đại hội Đảng các kỳ họp của Đảng Cộng
sản Việt Nam, các quyết định, chỉ thị, kế hoạch, chương trình của Chính phủ.
Thành phố Hà Nội, với vai trò là Thủ đô và cũng là trung tâm chính
trị- văn hóa, khoa học- xã hội, kinh tế của cả nước cũng đang nghiêm túc thực
hiện công tác cải cách hành chính. Cải cách hành chính có vị trí quan trọng,
luôn là một trong hai khâu đột phá trong nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
của thành phố Hà Nội. Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố đã có những
chỉ đạo quyết liệt về vấn đề này và công tác cải cách hành chính bước đầu đã
tạo những bước chuyển biến tích cực trong hoạt động của thành phố.
Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc hội ngày về việc mở rộng địa giới
hành chính, Thủ đô Hà Nội mở rộng có một địa bàn rộng lớn và một bộ máy
hành chính khổng lồ. Việc mở rộng này bước đầu đã tạo nhiều cơ hội cho sự

thành phố Hà Nội nói riêng. Do vậy, đề tài được nghiên cứu dựa trên kết quả
tổng kết, có phân tích sâu và rõ một số ưu điểm, hạn chế trong công tác cải
cách hành chính của cấp huyện để đưa ra một số kiến nghị và giải pháp thực
hiện để tăng cường cải cách hành chính ở cấp huyện.

3
3. Nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu công tác cải cách hành chính cấp
huyện của Thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp và phương hướng để
hoàn thiện hơn nữa công tác cải cách hành chính, do đó để thực hiện mục tiêu
này, đề tài sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Đánh giá thực trạng của công tác cải cách hành chính của các quận,
huyện và thị xã cho đến nay.
- Tìm ra những lý do, nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị chung để từng bước tăng cường,
hoàn thiện trong công tác cải cách hành chính cấp huyện của thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác cải cách hành chính
cấp huyện tại thành phố Hà Nội. Trong đó có liên hệ thực tiễn với một số
quận, huyện như Tây Hồ, Hoài Đức, Từ Liêm và một số quận, huyện khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đánh giá được công tác cải cách hành chính cấp huyện tại thành
phố Hà Nội, trước hết đề tài sẽ nghiên thông qua các Văn kiện Đại hội Đảng
các khóa, Luật, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các văn bản như Chương
trình Thành ủy, nghị quyết các kỳ họp trong những năm gần đây của Hội
đồng nhân dân thành phố, báo cáo, kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố,
Báo cáo của các Sở, ban ngành và quận, huyện, thị xã. Đề tài sẽ tổng hợp, so
sánh những số liệu cụ thể và đưa ra đánh giá về thực trạng và kết quả.
Sau khi tìm ra lý do, nguyên nhân của tồn tại, bằng việc nghiên cứu
qua các tài liệu tham khảo, các công trình khoa học khác và kinh nghiệm thực

con người.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước lấy nhân dân làm chủ thể, lấy pháp
luật làm tiêu chí để quản lý xã hội. Cốt lõi của tư tưởng, quan điểm về nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là nhà nước của dân, do dân và vì
dân; nhà nước quản lý xã hội và quản lý chính bản thân mình bằng pháp luật.
Không một thể chế nhà nước và xã hội nào có thể đứng trên pháp luật và
đứng ngoài pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh
chấp hành các quy định của luật pháp. Mọi quyết định của cơ quan công
quyền phải hợp pháp. Cán bộ, công chức trong thực thi công vụ phải lấy pháp
luật làm chuẩn mực.
Do đặc thù của thể chế chính trị, do đặc điểm truyền thống của các
dân tộc và do những nguyên nhân khác nhau, Nhà nước pháp quyền không có
khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia. Nhiều nước phân chia quyền lực nhà
nước thành ba nhánh quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, với phương

6
châm dùng quyền lực kiểm tra, giám sát quyền lực. Trong quá trình hoạt
động, các cơ quan này kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm sự cân bằng quyền lực,
tránh tình trạng lạm quyền, lấn át của quyền này đối với quyền khác. Ở nước
ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ba quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
không độc lập, càng không đối lập, mà thống nhất với nhau trên cơ sở đường
lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về tính chất, mối quan hệ và hoạt
động của ba quyền này là sự phân công, phối hợp để thực hiện nhiệm vụ
chung. Vì vậy, cần có sự phân định rành mạch, khoa học để các cơ quan thực
hiện các quyền phát huy tính năng động, sáng tạo, hoạt động đúng thẩm
quyền, và tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, có sự phối hợp,
kiểm tra lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền để phát huy hiệu lực
chung của quyền lực nhà nước thống nhất. Cải cách hành chính do đó cần
được tổ chức triển khai toàn diện, đồng bộ, gắn kết với cải cách lập pháp và

lượng, hiệu quả, kinh tế nhất. Nền hành chính tạo mọi thuận lợi để công dân và
các tổ chức của họ tham gia thực hiện các công việc nhà nước. Bằng hành
động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảo các quyền và lợi ích của công
dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện cần
thiết để mọi thành viên xã hội với những địa vị, điều kiện, thể chất, … khác
nhau nhưng có cơ hội như nhau để phát triển; bù đắp cho những người được
hưởng lợi ít nhất; quan tâm giúp đỡ, cung cấp dịch vụ cho nhân dân vùng sâu,
vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn và những nhóm đối tượng yếu thế, có vị
thế bất lợi trong nền kinh tế thị trường.
Trong suốt tiến trình phát triển từ khi Nhà nước Việt Nam kiểu mới ra
đời năm 1945, bản chất nhân dân của Nhà nước được khẳng định trong các
Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001). Tuy nhiên, trong tiềm thức của không ít cán bộ, công chức vẫn còn
đậm tính công quyền, cưỡng chế của Nhà nước. Nhân dân là đối tượng chịu
sự quản lý, cai quản thay vì là ‘khách hàng’ mà nền hành chính phải phục vụ.
Hoạt động quản lý công trong nhiều trường hợp bị ‘hành chính hóa’, quá chú

8
trọng thực hiện mệnh lệnh, chấp hành chỉ đạo của cấp trên, tuân theo quy
trình, thủ tục, hơn là nêu cao trách nhiệm phục vụ, linh hoạt thỏa mãn nguyện
vọng của nhân dân một cách hiệu quả nhất. Do đó, cần tiếp tục cải cách, giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nền hành chính và công dân. Công dân ủy
quyền cho công chức - "công bộc" của mình cung ứng những dịch vụ có chất
lượng theo pháp luật. Nền hành chính không có mục đích tự thân mà phải vì
nhân dân phục vụ. Cơ quan công vụ là các thiết chế phục vụ xã hội, phục vụ
nhân dân. Cán bộ công chức gương mẫu chấp hành pháp luật, thực thi công
vụ một cách phi vụ lợi, đặt lợi ích của xã hội, của công dân lên trên hết. Nhân
dân là đối tác chính trong xây dựng và triển khai chính sách, được tạo mọi
điều kiện để chủ động tham gia vào quá trình quản lý, cung ứng dịch vụ công;
giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, và có thể thông qua các đại

công tác sẽ góp phần đảm bảo trật tự pháp luật hành chính. Nội dung cải cách
hành chính này bao gồm một loạt các nhóm giải pháp, cần được thực hiện
đồng bộ. Thứ nhất, phân định chức năng công quyền với quản lý sự nghiệp,
cung ứng dịch vụ công, với quản trị sản xuất - kinh doanh, trong đó có nội
dung quản trị tập đoàn kinh tế. Tách chức năng quản lý vĩ mô với các hoạt
động chuyên môn, tác nghiệp, theo hướng tăng cường năng lực định hướng,
hoạch định thể chế, chính sách của Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh. Thứ hai, xây dựng cơ cấu công chức theo yêu cầu công tác của
từng cơ quan, theo chiến lược phát triển và nhiệm vụ ưu tiên của tổ chức
trong từng giai đoạn; trong đó, mô tả rõ yêu cầu, tiêu chuẩn đối với từng chức
danh và các mối quan hệ phối hợp dọc, ngang giữa các vị trí công tác. Bộ máy
hành chính do đó được tổ chức tinh gọn, sát thực tế, rõ thẩm quyền và trách
nhiệm hơn. Thứ ba, hoàn thiện chế độ thủ trưởng, đề cao vai trò người đứng
đầu các cấp trong hệ thống hành pháp. Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp trung ương -
địa phương và xã hội hóa cung ứng dịch vụ công để nền hành chính gần dân
hơn. Thứ năm, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các
văn bản đã ban hành và sử dụng các chế tài pháp luật để xử lý vi phạm nhằm
chấn chỉnh trật tự, kỷ cương hành chính. Thứ sáu, đi đôi với việc xây dựng

10
một chiến lược bao gồm các giải pháp tổng thể phát triển nguồn nhân lực hành
chính công trong thời kỳ mới, chúng ta cần khẩn trương cải cách chế độ, chính
sách cán bộ, khuyến khích công chức có năng lực tâm huyết làm việc trong nền
hành chính. Cuối cùng, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và các quy
trình quản lý chất lượng tiên tiến vào quá trình hiện đại hóa công sở, đổi mới
tổ chức lao động nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức.
Trong quá trình cải cách hành chính, phải kết hợp nhuần nhuyễn
nguyên tắc pháp trị và nguyên tắc đức trị. Hiện nay, xây dựng tiêu chuẩn đạo
đức nghề nghiệp phù hợp với từng nhóm cán bộ công chức; áp dụng hệ thống
đánh giá công tác một cách khách quan, khoa học, sát thực; chấn chỉnh việc

cải cách hành chính cần rà soát các quy định luật hành chính; đánh giá, rút ra
những bài học từ thực tiễn giải quyết các khiếu kiện; tổng kết quá trình tổ
chức, hoạt động của các tòa hành chính từ khi được thành lập. Đồng thời,
nghiên cứu lịch sử phát triển tài phán hành chính các nhóm nước trong khu
vực và trên thế giới để đúc rút những bài học vận dụng vào điều kiện Việt
Nam. Có thể thành lập cơ quan tài phán hành chính theo hướng nằm trong hệ
thống hành pháp hoặc do Quốc hội thành lập, nhưng phải hoạt động thực sự
độc lập trên cơ sở luật pháp. Cán bộ công chức trong cơ quan tài phán hành
chính thực hiện chức năng thẩm phán, theo yêu cầu, trình tự tố tụng hành
chính. Tổ chức cơ quan tài phán hành chính như vậy sẽ hiệu quả hơn do vừa
đảm bảo được tính khách quan, độc lập khi phán xét các hành vi hành chính,
vừa sát với thực tiễn công vụ đa dạng.
Trong cải cách thể chế, cần ưu tiên nội dung hoàn thiện chế độ trách
nhiệm hành chính. Thể chế, pháp luật công chức - công vụ phải có hệ thống
quy định về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm vật chất đối với những trường
hợp vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho xã hội và công dân. Cần phân biệt rõ
trách nhiệm của bộ máy hành chính, của cơ quan với trách nhiệm của cán bộ
công chức khi thực thi công vụ. Thiết lập chế độ trách nhiệm công vụ thuộc tổ
chức là nhằm đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức khi thực
hiện nhiệm vụ nhà nước, phục vụ lợi ích cộng đồng. Phân tích, xác định rõ lỗi

12
cá nhân là để cán bộ, công chức chịu trách nhiệm trước Nhà nước, xã hội và
công dân về hành vi công vụ của mình. Trong mọi trường hợp, cho dù trách
nhiệm thuộc về một văn bản, một chính sách, một quyết định công vụ hay
một lỗi của người công chức, thì tổ chức hay công dân bị thiệt hại phải được
bồi thường hay được khắc phục hậu quả theo luật. Từ đó, cán bộ, công chức,
đặc biệt là những người có chức vụ, quyền hạn phải am hiểu pháp luật và biết
áp dụng pháp luật khi giải quyết công việc. Cán bộ công chức phải được giao
đủ thẩm quyền (gắn với trách nhiệm) và có đủ năng lực để chủ động, linh hoạt

nhu cầu của xã hội ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như chất lượng.
Điều đó đòi hỏi nhà nước cần phải đưa ra được các biện pháp quản lý hệ
thống kinh tế, xã hội một cách hiệu quả.
Quản lý theo nghĩa chung nhất của nó là sự tác động mang tính chất
quyền lực của tổ chức thông qua các nhà quản lý đến các đối tượng cần quản lý.
Hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý phụ thuộc vào phương pháp quản lý
được áp dụng. Quản lý nhà nước là sự tác động bằng quyền lực nhà nước - quyền
lực công, thông qua các quyết định quản lý do các nhà quản lý (đại diện cho
nhà nước) đưa ra nhằm tác động đến sự vận động và phát triển kinh tế, xã hội.
Bộ máy nhà nước cũng như nền hành chính nhà nước hoạt động trong
môi trường ngày càng trở nên phức tạp. Ngay bản thân một tổ chức, một
doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cũng chứa đựng nhiều yếu tố đòi
hỏi các nhà quản lý phải biết cách phân tích và đánh giá đầy đủ và đúng các
yếu tố tác động mới có thể đưa ra được các quyết định phù hợp. Lý thuyết tổ
chức và phân tích môi trường trong đó tổ chức, doanh nghiệp tồn tại, vận
động và phát triển sẽ giúp cho nhà quản lý thấy được những điểm mạnh, điểm
yếu, những lợi thế, thách thức đe dọa đến tổ chức, doanh nghiệp. Đồng thời,
nó cũng chỉ ra được đâu là những yếu tố thuộc môi trường bên trong của tổ
chức, ở đó các nhà quản lý có thể tác động, ảnh hưởng đến; và đâu là những
yếu tố môi trường bên ngoài tác động đến tổ chức, tác động của các nhà quản
lý ít có đến các yếu tố đó, nhưng nó lại ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức.

14
Nền hành chính nhà nước cũng tồn tại, vận động và phát triển trong
môi trường rất phức tạp, đa dạng. Tính phức tạp, đa dạng đó của môi trường
không chỉ thể hiện ở quy mô, mức độ tác động mà còn ở số lượng của yếu tố
tác động; thể hiện cả ở tính phức tạp, đa dạng của phương thức tác động của
các nhân tố đó đến sự vận động và phát triển của nền hành chính. Nhiều
phương thức tác động đến nền hành chính nhà nước đến từ bên ngoài khó có
thể lượng hóa.

thành thành viên chính thức ASEAN đòi hỏi nhà nước Việt Nam cần có một
sự thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức; về đội ngũ cán bộ công chức hành chính
nhà nước cũng như các thủ tục, thông lệ nhằm làm cho nền hành chính nhà nước
Việt Nam thích ứng với môi trường hoạt động mới cũng đồng thời đáp ứng
đòi hỏi của sự hội nhập ASEAN cũng như trong tương lai của APEC, WTO.
Việt Nam gia nhập và trở thành thành viên chính thức của ASEAN từ
1995 đã làm cho mối quan hệ Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á có
những bước thay đổi quan trọng. Nhiều mối quan hệ mới được thiết lập do từ
sự nghi ngờ chuyển sang sự hợp tác. Nhiều vấn đề hợp tác được thiết lập,
nhiều tổ chức, cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước được tạo ra. Nhiều
vấn đề thuộc về thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, phải được xem xét,
thay đổi nhằm phù hợp với xu thế hội nhập. Nếu như nền hành chính nhà
nước Việt Nam trước đây chỉ phục vụ xã hội, công dân Việt Nam thì trong xu
thế hội nhập khách hàng của nền hành chính Việt Nam đã mở rộng hơn, phức
tạp hơn và đa dạng hơn.
Sự thay đổi của môi trường chính trị, kinh tế, xã hội quốc gia, khu vực
và quốc tế đã làm cho nền hành chính nhà nước phải biến đổi theo cho phù hợp.
Tuy nhiên trong một thế giới đang thay đổi như hiện nay, sự phức tạp
của môi trường trong đó nền hành chính nhà nước tồn tại, vận động và phát
triển gia tăng và điều cần được quan tâm là mỗi một nước đều có những yếu
tố lợi thế so sánh rất khác nhau và do đó không thể có một cách tiếp cận

16
chung cho tất cả các nước. Trả lời cho câu hỏi: "cái gì nhà nước cần làm, phải
làm và nhà nước làm những việc đó ra sao?", tưởng như là câu hỏi mang tính
cổ điển của kinh tế, nhưng vẫn chưa dễ dàng đưa ra câu trả lời tốt nhất. Người
ta vẫn tiếp tục tranh luận với nhau về chức năng của nhà nước. Vấn đề về
những chức năng cơ bản, chức năng quan trọng cho đến những chức năng tích
cực nhằm giải quyết tốt hơn những khuyết tật của thị trường. Các chức năng
này cũng được khuyến cáo theo nhiều cấp độ khác nhau ở từng nước tùy

dư luận trong và ngoài nước hoan nghênh, xem đó là những bước cải cách
quan trọng ở nước ta. Nhiều kết quả của cải cách đã thấy rõ tác động tích cực
của nó đến sự vận động và phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng cũng cần thấy
rằng hoạt động cải cách nền hành chính nhà nước thông qua việc hoàn thiện
hệ thống văn bản quản lý nhà nước phải được xác định trên cơ sở lợi ích quốc
gia trong khuôn khổ so sánh lợi thế của Việt Nam đối với các nước. Đồng
thời cũng phải vì lợi ích của các nhà sản xuất, người tiêu dùng. Đặc biệt trong
lĩnh vực quản lý kinh tế, các văn bản pháp luật phải vừa bảo vệ lợi ích của các
nhà sản xuất, đồng thời phải bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng trong khuôn
khổ của một thị trường không chỉ trong biên giới quốc gia mà là của cả khu
vực 10 nước ASEAN cũng như cả châu Á, khu vực APEC và cả thế giới. Các
nhà doanh nghiệp trong nước mong muốn được bảo vệ nhiều hơn bằng việc
tăng thuế nhập khẩu các loại hàng hóa được đưa vào Việt Nam cạnh tranh
lành mạnh với hàng hóa nội địa để hàng hóa nội địa được lợi về giá, dần dần
vươn lên. Trong khi đó người tiêu dùng lại ủng hộ hơn xu thế mở cửa theo
thông lệ ASEAN càng sớm càng tốt để họ có nhiều lựa chọn hơn, rẻ hơn (ví
dụ: mặt hàng xi măng là một điển hình; hay công nghiệp hàng điện tử). Trong
khi đó đối với các loại hàng hóa có khả năng xuất khẩu, các nhà sản xuất
mong muốn được giảm thuế, trợ cấp về thuế, để họ giành được thị trường.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, nếu như không hội nhập, không đặt Việt
Nam vào trong môi trường hội nhập, và nếu các tổ chức kinh tế Việt Nam vẫn
mong muốn nhận được trợ cấp của nhà nước thông qua nhiều hình thức khác

18
nhau trong đó có bảo hộ mà không dựa vào nội lực của mình, tìm kiếm
phương thức sản xuất thích hợp (công nghệ, nhân công, nguyên liệu, ) sao
cho hiệu quả cao nhất thì nhất định không thể cạnh tranh được trên thị trường
khu vực và quốc tế. Vấn đề quan trọng đối với nhà nước là phải tạo ra được
một hành lang pháp lý vừa phù hợp với thông lệ khu vực, quốc tế, vừa phù
hợp với đặc trưng kinh tế - xã hội ở nước ta song phải rõ ràng, minh bạch,

chưa thể thực hiện được tốt quyền lợi chính đáng của mình. Vì vậy, yêu cầu
đặt ra cho Đảng và nhà nước ta là phải đổi mới nền hành chính, cải cách nền
hành chính để đảm bảo hiệu quản hoạt động cao nhất nhằm phục vụ đắc lực
nhân dân, đảm bảo quyền lợi cho nhân dân, đồng thời giữ vững kỷ cương,
phép nước, kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước.
1.2.2. Nội dung cải cách hành chính của nền hành chính Việt Nam
1.2.2.1.Cải cách thể chế
Thể chế ở đây được hiểu là toàn bộ các quy định của pháp luật về việc
xây dựng các thiết chế và tổ chức thực hiện chúng trong quá trình thực thi. Cụ
thể là:
- Xây dựng thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính
trước hết là tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các
cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp về thẩm quyền quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nhà nước nói riêng
nhằm phân biệt rõ quyền của chủ sở hữu, quyền quản lý nhà nước với quyền tự
chủ kinh doanh của doanh nghiệp; về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa trong đó chú trọng về thị trường vốn và tiền tệ, thị trường chứng
khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường lao
động và dịch vụ. Đồng thời xây dựng mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân
như: thu thập ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính
sách quan trọng; trưng cầu dân ý; xử lý các hành vi trái pháp luật của các cơ

20
quan và cán bộ, công chức trong khi làm nhiệm vụ; thẩm quyền, trách nhiệm
của cơ quan hành chính và Tòa án trong việc giải quyết khiếu nại của nhân
dân. Đây cũng là nhiệm vụ to lớn nhằm xác định lại mối quan hệ quyền lực
giữa bộ máy hành chính với xã hội, doanh nghiệp và công dân.
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật. Quy trình này ở nước ta từ trước đến nay còn nhiều bất cập, ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thực thi pháp luật và hiệu quả của hệ thống pháp luật. Do

Mặt khác, cần thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; chế độ cán bộ
chủ chốt của các ngành ở Trung ương và địa phương định kỳ trực tiếp gặp gỡ,
đối thoại giải quyết các vấn đề cho doanh nghiệp và nhân dân đặt ra; phát huy
hiệu lực của các thiết chế thanh tra, kiểm sát và tài phán để đảm bảo hiệu lực
quản lý nhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội; mở rộng dịch vụ tư vấn pháp luật
cho nhân dân, cho người nghèo, người thuộc diện chính sách và đồng bào dân
tộc ít người, vùng sâu, vùng xa. Tạo điều kiện cho hoạt động luật sư, hoạt
động bổ trợ tư pháp có hiệu quả.
- Cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả,
minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính. Loại bỏ
những thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng,
gây khó khăn cho dân; xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp
giấy phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, giám định; thống nhất và mẫu hóa
các loại giấy tờ về giải quyết các công việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh
của công dân, doanh nghiệp; mở rộng thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc
giải quyết các công việc của công dân, tổ chức với các cơ quan hành chính
các cấp; công khai các loại phí, lệ phí, lịch công tác tại trụ sở làm việc của các
cơ quan hành chính nhà nước.
1.2.2.2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương
Hệ thống cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương, đứng
đầu là Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất cần được xác định

Trích đoạn Hiện đại hóa nền hành chính công Nhận xét về ưu điểm, hạn chế cải cách hành chín hở cấp huyện Nguyên nhân hạn chế Cải cách thủ tục hành chính Công tác cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status