KHOA LUẬT ĐẠI HỌC HÀ NỘI TỔNG QUAN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
Hà nội 2007
hành chính
13
1.2.2
Nội dung của cải cách thủ tục hành chính
15
1.3
Quy định pháp luật Việt nam về thủ tục hành chính tại
cảng biển
17
1.3.1
Pháp luật hàng hải
17
1.3.2
Pháp luật về Hải quan
26
1.3.3
Pháp luật về Biên phòng
29
1.3.4
Pháp luật về kiểm dịch động vật
32
1.3.4.1
Đối với hàng hoá xuất khẩu
32
1.3.4.2
Đối với hàng hoá nhập khẩu
32
1.3.4.3
Đối với hàng hoá làm thủ tục kiểm dịch sau khi hoàn
thành thủ tục hải quan
Malaysia
45
1.5.4
Nhật bản
47
1.5.5
Philippine
47
1.5.6
Hàn quốc
47
Chương 2
Thực trạng thực hiện cải cách thủ tục hành chính
49
2.1
Lược sử cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển
49
2.1.1
Thời kỳ trước năm 2005
49
2.1.2
Thời kỳ từ năm 2005 đến nay
52
2.1.2.1
Quy định chung
52
2.1.2.2
Áp dụng công nghệ tin học
57
2.2
Áp dụng công nghệ thông tin
84
3.2.3
Về cơ sở vật chất và nguồn lực tin học
93
Kết luận
96
Danh mục tài liệu tham khảo
99 -102
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài:
Cảng biển là cửa ngõ của đất nước giao lưu với quốc tế, là đầu mối
của các phương thức vận tải. Việt Nam là một đất nước có bờ biển dài và
nằm trên đường hàng hải quốc tế nên cảng biển Việt Nam đóng một vai trò
rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Sự phát triển của ngành hàng hải nói chung và hệ thống cảng biển
quốc gia nói riêng trong thời gian qua đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của
các ngành kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế ngoại thương. Cảng biển là nơi
tàu thuyền Việt Nam và tàu thuyền nước ngoài ra vào hoạt động, vận chuyển
hàng hoá xuất, nhập khẩu nên hoạt động hàng hải tại cảng biển mang tính
quốc tế cao, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau
kinh nghiệm nước ngoài về thủ tục hành chính tại cảng biển. Trên cơ sở đó,
Luận văn phân tích thực trạng về mặt pháp luật và mặt thực tế về thủ tục
hành chính tại cảng biển, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện
thủ tục hành chính tại cảng biển.
b) b. Nhiệm vụ
Với mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
- Đánh giá một cách tổng quan các quy định pháp luật Việt Nam hiện
hành và pháp luật quốc tế về thủ tục hành chính tại cảng biển;
- Phân tích thực trạng thủ tục hành chính tại cảng biển về các mặt thuận
lợi và khó khăn;
- Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài; giới thiệu Công ước quốc tế có
liên quan đến thủ tục hành chính tại cảng biển;
- Những quan điểm, phương hướng, giải pháp và kiến nghị cụ thể góp
phần cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển Việt Nam đạt kết quả
cao. Đặc biệt là từ yêu cầu cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển ở
Việt Nam hiện nay trong điều kiện công nghệ thông tin đã và đang
được áp dụng rộng rãi, Luận văn sẽ đề xuất những kiến nghị trên cơ
sở áp dụng công nghệ thông tin trong quá trình cải cách thủ tục hành
chính tại cảng biển.
3. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:
- Hệ thống cảng biển Việt nam rất dài, được phân bổ tại nhiều khu
vực khác nhau theo dọc bờ biển Việt Nam nên chỉ lựa chọn 2 cảng
biển lớn nhất để phục vụ cho nội dung nghiên cứu của Luận văn;
- Lưu lượng tàu đi/đến và lượng hàng hoá xuất nhập, thông quan qua
hai cảng: Cảng Hải phòng (đầu mối ở phía Bắc) và Cảng Sài gòn
(đầu mối ở phía Nam) rất lớn, đứng đầu trong cả nước.
- Đây là hai trong những thành phố lớn của Việt nam, chính quyền
thành phố rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển và chú ý đến cải
cách hành chính, nhất là khâu thủ tục nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho các đơn vị đầu tư vào thành phố.
với các trang thiết bị hiện đại. Cảng biển không những là nơi bảo vệ an toàn
cho tàu biển trước các hiện tượng thiên nhiên bất lợi, mà trước hết cảng biển
là một đầu mối giao thông, một mắt xích rất quan trọng của quá trình vận tải.
Cảng biển thực hiện các chức năng và nhiệm vụ rất khác nhau. Tuy nhiên,
khi định nghĩa về cảng biển, các nhà nghiên cứu hàng hải đều nhấn mạnh hai
yếu tố: Thứ nhất, cảng là nơi ra vào, neo đậu của tàu thuyền, là nơi phục vụ
tàu và hàng hoá chuyên chở trên tàu. Thứ hai, cảng là đầu mối giao thông
quan trọng trong hệ thống vận tải. Hai yếu tố này được thể hiện rõ ở hai
chức năng chủ yếu của cảng biển:
Chức năng thứ nhất là phục vụ các công cụ vận tải đường thuỷ, trước
hết là tàu biển. Với chức năng này, cảng phải đảm bảo cho tàu thuyền ra,
vào và neo đậu an toàn. Từ đó cảng có nhiệm vụ phục vụ các công việc cụ
thể như: đưa đón tàu bè ra vào, bố trí nơi neo đậu, làm vệ sinh tàu, sửa chữa
tàu, cung ứng các nhu cầu cần thiết cho tàu Chính vì vậy hoạt động của
cảng thường vượt ra ngoài phạm vi địa giới của cảng, tức là trên phạm vi
thành phố cảng. Thành phố cảng trở thành một trong những trung tâm công
nghiệp, thương mại - dịch vụ và trung tâm dân cư đông đúc.
Chức năng thứ hai là phục vụ hàng hoá. Tại cảng biển, quá trình
chuyên chở hàng hoá có thể được bắt đầu, kết thúc hoặc tiếp tục hành trình.
Chức năng này được tập trung ở nhiệm vụ phục vụ việc xếp dỡ hàng hoá
lên, xuống; từ tàu xuống cảng hoặc các phương tiện vận tải khác hoặc ngược
lại. Ngoài ra cảng còn thực hiện nhiều nghiệp vụ liên quan đến hàng hoá
như: bảo quản hàng hoá tại kho bãi, phân loại hàng, sửa chữa bao bì, ký mã
hiệu, kiểm tra số lượng, chất lượng, thủ tục giao nhận hàng hoá [29, tr.47-
48]
Vì vậy, cảng biển được các nhà khoa học hiểu chung là cảng được mở
ra để tàu biển ra, vào hoạt động. Cảng biển bao gồm vùng đất cảng và vùng
nước cảng. Vùng đất cảng gồm kho bãi, cầu cảng, nhà xưởng, khu hành
chính và dịch vụ hàng hải. Vùng nước cảng gồm vùng nước trước cầu cảng,
cảng biển khác.
Điều 59 Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định:[1]
Cảng biển loại 1 là cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy mô phục vụ
lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của cả nước hoặc liên vùng.
Cảng biển loại 2 là cảng biển quan trọng có quy mô vừa phục vụ cho
việc phát triển kinh tế – xã hội của vùng, địa phương.
Cảng biển loại 3 là cảng biển có quy mô phục vụ cho hoạt động của
doanh nghiệp.
Các tiêu chí phân loại cảng biển nói trên được sử dụng vào các mục
đích khác nhau. Cùng với hoạt động của các ngành kinh tế, các cảng biển
quốc gia có vị trí là “đầu mối” nhưng cũng giữ luôn vai trò “cầu nối” về giao
thông hàng hải nội địa giữa nước ta các các nước trong khu vực. Do đó mục
đích sử dụng liên mật thiết đến thủ tục hành chính tại cảng biển. Thủ tục
hành chính phân tích trong Luận văn này được hiểu là các thủ tục áp dụng
đối với các cảng thương mại, bao gồm các loại cảng dùng vào mục đích
thương mại như cảng hành khách, cảng chuyên dụng, cảng tổng hợp
a) 1.1.3. Các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng biển
Khái niệm quản lý được hiểu theo nghĩa tiếp cận chung nhất là một
quá trình đi đến mục tiêu của một tổ chức thông qua sự phối kết hợp của
nhiều yếu tố (nguồn lực, cơ cấu tổ chức, phương pháp và cách thức hoạt
động ).
Quản lý có mặt trong mọi loại hình tổ chức, không phân biệt đó là tổ
chức quy mô lớn, bé; hoạt động dựa trên những loại quyền lực nào. Các cơ
quan hành chính nhà nước căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình để triển
khai công tác quản lý.
Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà
nước, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong khi đó các cơ quan nhà nước khác chỉ tham gia vào hoạt
động quản lý trong phạm vi, lĩnh vực nhất định.
“Cảng vụ hàng hải là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về hàng hải tại cảng biển và vùng nước cảng biển.
Giám đốc cảng vụ hàng hải là người chỉ huy cao nhất của Cảng vụ
hàng hải”.
Tại điều 69, Bộ luật Hàng Hải Việt Nam quy định về việc phối hợp
hoạt động quản lý nhà nước tại cảng biển:[1]
“Các cơ quan quản lý nhà nước về hàng hải, an ninh, kiểm dịch, hải
quan, thuế, văn hoá - thông tin, phòng chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và
các cơ quan quản lý nhà nước khác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại cảng
biển theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp hoạt động và chịu sự điều
hành trong việc phối hợp hoạt động của Giám đốc cảng vụ hàng hải.Các cơ
quan quản lý nhà nước hoạt động thường xuyên tại cảng biển được đặt trụ
sở làm việc trong cảng. Doanh nghiệp cảng có trách nhiệm tạo điều kiện
thuận lợi cho các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình.”
Ví dụ, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại khu vực cảng thành
phố Hồ Chí Minh là tổ chức được giao thực hiện chức năng quản lý nhà
nước chuyên ngành tại khu vực cảng biển thành phố Hồ Chí Minh gồm:
Cảng vụ Sài Gòn, Biên phòng cửa khẩu cảng Sài Gòn, Chi cục Hải quan
Cảng Sài Gòn, Chi Cục Hàng hải Việt Nam tại TP.HCM, Trung tâm kiểm
dịch y tế quốc tế thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục kiểm dịch thực vật vùng
II, Trung tâm thú y vùng thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển
a) 1.2.1. Khái niệm cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành
chính
Cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính là
những khái niệm khá mới mẻ và là những phạm trù riêng trong hành chính
học. Trong cuốn sách đầu tiên nghiên cứu về cải cách hành chính một cách
có hệ thống được xuất bản năm 1969 có tựa đề “Cải cách hành chính” – tác
phải tuân theo đúng trong quy trình ra quyết định hay giải quyết công việc.
Thông thường thủ tục hành chính liên quan đến việc xây dựng, tổ chức thực
hiện chính sách, pháp luật và phục vụ các nhu cầu hàng ngày cho xã hội và
lãnh đạo của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước [31, tr.55-56]. Có
quan niệm cho rằng, thủ tục hành chính là trình tự về thời gian và không
gian, các giai đoạn cần có để thực hiện mọi hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước.
Mục đích của thủ tục hành chính là nhằm thiết lập hoạt động quản lý
nhà nước trong mọi lĩnh vực.
Thủ tục hành chính có các đặc điểm như sau:
2 Được pháp luật quy định chặt chẽ;
3 Được phân biệt với thủ tục của toà án và phần lớn nằm ngoài thẩm
quyền của toà án;
4 Các thủ tục không chỉ quy định trình tự thực hiện quy phạm của luật
hành chính mà cả các ngành luật khác như đất đai, tài chính, dân sự, lao
động.
Thủ tục hành chính, nói một cách khái quát, là cơ chế điều hành của
cơ quan Nhà nước để thực thi chức năng quản lý xã hội. Cải cách thủ tục
hành chính là một nhiệm vụ rất quan trọng, được coi là khâu đột phá trong
toàn bộ tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước hiện nay. Việc thực
hiện quá trình cải cách này là cuộc đấu tranh rất phức tạp, liên quan mật thiết
đến việc đổi mới hệ thống pháp luật, bộ máy tổ chức cơ quan Nhà nước, đội
ngũ công chức và hoạt động thực tiễn hàng ngày của mọi công dân và tổ
chức, cần được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm. Để thực hiện tốt các
thủ tục hành chính phải theo phương châm: đơn giản, công khai, một cửa,
chống gây phiền hà, hối lộ, tham nhũng.
Thủ tục hành chính tại cảng biển cũng tương tự như vậy, đó là những
trình tự thủ tục cả về không gian và thời gian, các giai đoạn cần thiết để các
cơ quan quản lý chuyên ngành nhà nước tại cảng biển tiến hành để thực hiện
chức năng nhiệm của mình. Thủ tục hành chính tại cảng biển do nhiều cơ
dung nói trên, địa điểm làm thủ tục tàu khách và tàu chuyên tuyến, trường
hợp địa điểm làm thủ tục được tiến hành tại vùng nước phao số “O”, những
trường hợp được miễn nộp, xuất trình các loại giấy tờ, miễn làm thủ tục
nhập cảnh đối với tàu đã nhập cảnh ở cảng khác.
- Cải tiến phương thức hoạt động kiểm tra giám sát: trừ trường hợp có
dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc trong những trường hợp cần thiết nhằm
đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội, việc thí điểm quy định
các cơ quan chức năng liên quan đến cảng không thực hiện nghiệp vụ: giám
sát hải quan và biên phòng trực tiếp trên tàu khi tàu hành trình vào, rời cảng;
giám hộ biên phòng trực tiếp khi tàu đang neo đậu trong vùng nước cảng.
- Nội dung thí điểm: cho phép các cơ quan chức năng tại cảng được sử
dụng bản photocopy, fax, thư điện tử liên quan đến thủ tục giấy tờ do người
khai báo cung cấp sử dụng công nghệ thông tin, tuy nhiên khi làm thủ tục
vẫn phải xuất trình, nộp đủ bản gốc hoặc bản sao hợp lệ các giấy tờ nói trên
theo quy định.
Các nội dung trên đã được triển khai từ năm 2001 và bước đầu được
thực hiện thí điểm tại khu vực cảng thành phố Hồ Chí Minh. Qua một thời
gian thực hiện cho thấy kết quả đạt được rất khả quan. Đây cũng là cơ sở để
thực hiện các nội dung cải cách tiếp theo trong thời gian tới.
b) 1.3. Quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục hành
chính tại cảng biển
Một trong những đặc thù của thủ tục hành chính tại cảng biển là liên
quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật và nhiều cơ quan quản lý nhà nước về
chuyên ngành tại cảng biển. Sau đây là những quy định pháp luật hiện hành
về thủ tục hành chính đối với tàu thuyền và hàng hoá đến/ rời cảng biển Việt
Nam.
b) 1.3.1. Pháp luật hàng hải
c)
Theo quy định của pháp luật hàng hải (Bộ luật hàng hải
Việt Nam năm 2005 và nghị định số 71/2006/NĐ – CP ngày
1 Thăm thông thường là chuyến thăm nhằm huấn luyện, diễn tập quân
sự hoặc tiến hành các công việc khác theo quy định của Hiệp định đã được
ký kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với quốc gia, tổ chức quân
sự quốc tế có tàu đến thăm (nếu Hiệp định không có quy định khác) hay các
chuyến thăm nhằm cung cấp, tiếp nhận vật tư, trang thiết bị kỹ thuật, nhiên
liệu, lương thực, thực phẩm hoặc cho thuỷ thủ nghỉ ngơi.
Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, các
điều ước quốc tế Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và thực hiện những nội
dung mà hai bên đã thoả thuận cho chuyến thăm, đồng thời phải tuân theo sự
hướng dẫn của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành của Việt Nam.
Khi tàu đến Việt Nam, phải tiến hành làm thủ tục xin phép với các
bước cụ thể:
1 Đối với chuyến thăm chính thức: Chậm nhất 15 ngày trước ngày dự
kiến tàu vào cảng, quốc gia, tổ chức quân sự quốc tế có đoàn tàu đến thăm
phải thông báo cho Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự) nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam những nội dung liên quan đến chuyến thăm mà hai bên đã
thoả thuận.
2 Thời gian xin phép cho đoàn đến thăm bằng tàu quân sự nước ngoài
tại cảng Việt Nam theo Hiệp định đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với quốc gia, tổ chức quân sự quốc tế liên
quan thực hiện theo các quy định trong Hiệp định nêu trên.
3 Đối với chuyến thăm xã giao, thăm thông thường, quốc gia, tổ chức
quân sự quốc tế có đoàn đến thăm bằng tàu quân sự phải có Công hàm cùng
tờ khai gửi đến Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự) hoặc cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước sở tại chậm nhất 30 ngày trước
ngày dự kiến tàu vào cảng.
4 Nội dung tờ khai theo mẫu kèm theo.
5 Sau khi được phép vào thăm, 48 giờ trước khi tàu đi vào lãnh hải
Việt Nam, quốc gia, tổ chức quân sự quốc tế hoặc Trưởng đoàn/Thuyền
Đối với các loại tàu thuyền trừ các tàu như tàu quân sự, tàu biển có
động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu vận chuyển phóng xạ, tàu đến
theo lời mời chính thức của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam là 24 giờ
trước khi tàu dự kiến đến cảng, còn lại chậm nhất 8 giờ trước khi tàu dự kiến
đến cảng.
Khi nhận được thông báo tàu đến, Cảng vụ trên cơ sở thực tế tại cảng
và loại tàu, cỡ tàu ra các lệnh điều động tàu như chỉ định vị trí neo đậu cho
tàu thuyền trong vùng nước cảng, chậm nhất 02 giờ kể từ khi nhận được
thông báo tàu đến vị trí đón trả hoa tiêu.
Địa điểm, thời hạn và giấy tờ làm thủ tục tàu thuyền vào cảng biển
cũng được phân chia rõ ràng giữa tàu thuyền hoạt động trên tuyến nội địa và
tuyến nước ngoài. Chi tiết cụ thể như sau:
Đối với tàu thuyền Việt Nam hoạt động trên tuyến nội địa:
5 Địa điểm làm thủ tục: trụ sở chính hoặc văn phòng đại diện của cảng
vụ hàng hải.
6 Thời hạn làm thủ tục của chủ tàu: chậm nhất 02 giờ kể từ khi tàu đã
vào neo đậu tại cầu cảng hoặc 04 giờ kể từ khi tàu đã neo đậu tại các
vị trí khác trong vùng nước cảng.
7 Thời hạn làm thủ tục của cảng vụ hàng hải:
+/ Đối với tàu biển: chậm nhất một giờ kể từ khi chủ tàu đã nộp, xuất
trình đủ các giấy tờ hợp lệ như: bản chính 1 bản khai chung, 1 bản danh sách
hành khách (nếu có); giấy phép rời cảng cuối cùng; Ngoài ra còn phải xuất
trình bản chính giấy chứng nhận đăng ký tàu thuyền, các giấy tờ chứng nhận
về an toàn kỹ thuật của tàu theo quy định, sổ thuyền viên, chứng chỉ chuyên
môn của thuyền viên theo quy định.
+/ Đối với các loại tàu thuyền khác, giấy tờ phải nộp và xuất trình
thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan.
Tàu thuyền Việt Nam và tàu thuyền nước ngoài hoạt động tuyến
nước ngoài:
8 Địa điểm làm thủ tục: trụ sở chính hoặc văn phòng đại diện của Cảng
dân sự của chủ tàu về ô nhiễm môi trường, nếu là tàu chuyên dùng vận
chuyển dầu mỏ, chế phẩm từ dầu mỏ hoặc các hàng hoá nguy hiểm khác; Hộ
chiếu, phiếu tiêm chủng quốc tế của hành khách (nếu có khi cơ quan quản lý
nhà nước chuyên ngành liên quan yêu cầu)
1 Thông báo tàu thuyền rời cảng biển:
Chậm nhất 02 giờ, trước khi tàu thuyền rời cảng, người làm thủ tục
phải thông báo cho Cảng vụ hàng hải tên tàu và thời gian tàu dự kiến rời
cảng. Sau khi nhận được thông báo của người làm thủ tục, Cảng vụ hàng hải
phải báo ngay cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành liên quan biết để
kịp thời làm thủ tục xuất cảnh cho tàu.
Địa điểm, thời hạn và giấy tờ khi làm thủ tục tàu thuyền rời cảng biển:
được tiến hành làm tại trụ sở chính hoặc văn phòng đại diện của Cảng vụ
hàng hải chậm nhất 01 giờ kể từ khi chủ tàu đã nôp, xuất trình đủ các giấy
tờ hợp lệ quy định dưới đây: Giấy tờ phải nộp (bản chính): 01 bản khai
chung; Các giấy tờ phải xuất trình (bản chính): các giấy chứng nhận của tàu
và chứng chỉ khả năng chuyên môn của thuyền viên (nếu thay đổi so với khi
đến); các giấy chứng nhận liên quan đến xác nhận việc nộp phí, lệ phí, tiền
phạt hoặc thanh toán các khoản nợ theo quy định của pháp luật.
Đối với tàu thuyền xuất cảnh địa điểm làm thủ tục được tiến hành tại
trụ sở chính hoặc văn phòng đại diện của cảng vụ hàng hải; riêng đối với tàu
khách thì địa điểm làm thủ tục có thể là tại tàu nhưng chỉ do cơ quan quản lý
nhà nước chuyên ngành có yêu cầu thực hiện, chậm nhất 02 giờ trước khi
tàu rời cảng.
Thời hạn làm thủ tục của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành:
chậm nhất 01 giờ kể từ khi người làm thủ tục phải nộp, xuất trình đủ các
giấy tờ hợp lệ dưới đây: bản chính của 3 bản khai chung (nộp cho cảng vụ
hàng hải, biên phòng cửa khẩu, hải quan cửa khẩu), 3 bản danh sách thuyền
viên – nếu thay đổi so với khi đến (nộp cho cảng vụ hàng hải, biên phòng
cửa khẩu, hải quan cửa khẩu); 1 bản danh sách hành khách (nếu có – nộp
cho Biên phòng cửa khẩu); 01 bản khai dự trữ của tàu nộp cho Hải quan cửa