Nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức y tế dự phòng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Trịnh Đức Thảo
Hà Nội - 2007
5
MỤC LỤC Trang
Mở đầu
8
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ viên chức
YTDP
14

YTDP
28
1.2.2.1.
Các tiêu chí chung
30
1.2.2.2.
Các tiêu chí cụ thể
30
1.3.
Điều kiện đảm bảo chất lượng đội ngũ viên chức
YTDP
33
1.3.1.
Đảm bảo về chính trị
33
1.3.2.
Đảm bảo về kinh tế
34
1.3.3.
Đảm bảo về pháp luật
35
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ viên chức YTDP
ở Việt Nam
37
2.1.
Tình hình kinh tế, xã hội, địa lý và dân số tác động
đến phát triển mạng lưới YTDP và chất lượng đội
37

6

2.2.3.
Về phẩm chất chính trị, tư tưởng của viên chức
YTDP
49
2.2.4.
Về đạo đức, lối sống của viên chức YTDP
50
2.2.5.
Về trình độ, năng lực và khả năng hoạt động thực
tiễn của viên chức YTDP
52
2.2.5.1.
Trình độ đào tạo
52
2.2.5.2.
Năng lực và khả năng hoạt động thực tiễn
56
2.3.
Những yếu tố tác động đến chất lượng của đội ngũ
viên chức YTDP
61
2.3.1.
Công tác đánh giá, phân loại viên chức YTDP
61
2.3.2.
Công tác quy hoạch, tuyển dụng viên chức YTDP
63
2.3.3.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức YTDP
65

YTDP
78
3.4.1.
Các giải pháp nâng cao chất lượng về phẩm chất
chính trị, tư tưởng
78
3.4.2.
Các giải pháp nâng cao chất lượng về phẩm chất đạo
đức, lối sống, phong cách làm việc
81
3.4.3.
Các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực và khả
năng tổ chức hoạt động thực tiễn
84
3.4.4.
Các giải pháp khác
88
3.4.4.1.
Hoàn thiện, bổ sung hệ thống pháp luật về cán bộ,
công chức, viên chức và pháp luật về lĩnh vực YTDP
88
3.4.4.2.
Đổi mới quan điểm, nội dung và phương pháp đánh
giá viên chức
90
3.4.4.3.
Nâng cao chất lượng quy hoạch viên chức và thực
hiện việc đề bạt, bổ nhiệm viên chức theo quy hoạch
92
Kết luận

YTDP: Y tế dự phòng.

8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm vừa qua, cùng với tiến trình cách mạng của dân tộc,
ngành y tế nói chung, lĩnh vực YTDP nói riêng đã có nhiều đóng góp to
lớn và đạt được những thành tựu đáng kể: Nhiều bệnh dịch, bệnh xã hội đã
được khống chế hoặc loại trừ, sức khoẻ và tuổi thọ của người dân được
tăng lên. Thực hiện quan điểm của Đảng về công tác YTDP, với phương
châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, hệ thống YTDP đã không ngừng phát
triển và hoàn thiện đáp ứng nhiệm vụ trong từng thời kỳ phát triển của đất
nước. Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định
“Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, đặc biệt là trong
lĩnh vực y tế dự phòng”.
Việt Nam là nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá một số bệnh không nhiễm trùng, bệnh xã hội có xu hướng gia
tăng cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết như bệnh tim mạch, ung thư, sức khoẻ
tinh thần. Nhóm các bệnh do ngộ độc, chấn thương, tai nạn tăng từ 1,8%
(năm 1976) lên 13,7% (năm 2000). Các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy
hiểm có xu hướng diễn biến phức tạp. Trong vòng 10 năm (1994 – 2003)
một số bệnh có tỷ lệ mắc cao như: cúm, sốt rét, lao, sốt xuất huyết và một
số bệnh có tỷ lệ chết cao như: lao, HIV/AIDS, sốt rét, sốt xuất huyết.
Nhiều bệnh dịch lưu hành địa phương có xu hướng quay trở lại phát triển
thành dịch lớn. Đặc biệt là sự xuất hiện của một số bệnh mới nguy hiểm
đang là mối nguy cơ đe doạ sức khoẻ cộng đồng như: SARS, cúm H5N1,
HIV/AIDS

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác YTDP trong sự nghiệp
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, thực hiện mục tiêu giảm các yếu tố
nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng; phát hiện sớm, khống chế kịp
thời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra; giảm tỷ lệ mắc và tử vong do
bệnh, tật; góp phần phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao tuổi thọ, nâng
cao chất lượng cải thiện đời sống và giống nòi, ngày 09/11/2006, Thủ

10
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 255/2006/QĐ-TTg về phê
duyệt Chiến lược quốc gia y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020.
Chiến lược quốc gia YTDP Việt Nam đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về sự phát
triển và đầu tư cho công tác YTDP trong tương lai, đồng thời Chiến lược là
cơ sở định hướng y tế Việt Nam đi theo hướng phát triển của y học thế giới
là “y học trong tương lai là y học dự phòng”. Chiến lược cũng là cơ sở
pháp lý để xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới YTDP, xây dựng các
chương trình hành động, dự án mục tiêu quốc gia về y tế dự phòng, đồng
thời là cơ sở để phân bổ hợp lý và nâng cao hiệu quả các nguồn lực cho
YTDP.
Để thực hiện được các mục tiêu trong Chiến lược quốc gia YTDP
Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, mạng lưới YTDP
cần được củng cố, hoàn thiện, quy hoạch và nâng cao chất lượng để đáp
ứng với nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân thực hiện nhiệm vụ của
Đảng và Nhà nước giao cho, trong đó yếu tố quyết định là phải có một đội
ngũ cán bộ, viên chức dự phòng đủ về số lượng, có chất lượng, có chuyên
môn cao, có văn hoá, y đức và khả năng sáng tạo, tiếp thu những thành quả
khoa học công nghệ tiên tiến nhằm đáp ứng được đòi hỏi của tình hình
mới. Vì lý do đó luận văn đề cập tới vấn đề “Nâng cao chất lượng đội ngũ
viên chức y tế dự phòng ở Việt Nam hiện nay”.

các tiêu chí để đánh giá, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức YTDP một
cách toàn diện.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Về đối tượng nghiên cứu:
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là tình hình chất lượng đội ngũ
viên chức YTDP Việt Nam dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và
pháp luật. Cụ thể là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất
lượng đội ngũ viên chức YTDP ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất

12
các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức YTDP trong thời gian
tới.
- Về phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu chất lượng đội ngũ viên chức YTDP ở Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2006.
3. Mục đích và mục tiêu của luận văn:
- Mục đích của luận văn:
Luận văn có mục đích là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá
thực trạng chất lượng đội ngũ viên chức YTDP, đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức YTDP ở Việt Nam đến năm
2020.
- Mục tiêu của luận văn:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ viên chức
YTDP. Cụ thể là làm sáng tỏ khái niệm, tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất
lượng viên chức YTDP.
2. Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ viên chức YTDP của
Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2006.
3. Phân tích yêu cầu khách quan, quan điểm và đề xuất các giải
pháp nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức y tế dự phòng Việt Nam đến
năm 2020.

YTDP.
8. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương và 50 mục.
Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ viên chức YTDP.
Chương 2. Thực trạng chất lượng đội ngũ viên chức YTDP ở Việt
Nam.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ viên
chức YTDP ở Việt Nam đến năm 2020.
14
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ viên chức y tế dự
phòng.
1.1. Khái niệm, vai trò của đội ngũ viên chức y tế dự phòng:
1.1.1. Khái niệm viên chức và viên chức y tế dự phòng:
1.1.1.1. Khái niệm viên chức:
Trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà, thuật ngữ công chức, viên chức chưa được sử dụng,
thay vào đó là thuật ngữ nhân viên, được thể hiện tại các điều 37, 47, 51,
52. Điều 52 Hiến pháp năm 1946 quy định Chính phủ có quyền hạn “Bổ
nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc
chuyên môn”. Thuật ngữ nhân viên còn được sử dụng để phân biệt các đối
tượng khác nhau phục vụ tại các cơ quan nhà nước.
Đến ngày 20 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành
Sắc lệnh số 76 Quy chế công chức Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
đã quy định: “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền
nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở
trong hay ngoài nước” (Điều 1). Như vậy chỉ những người làm việc trong

chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật ” hoặc quy định tại Điều 59: “Công
nhân, viên chức khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được
hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội”. Như vậy, những người làm việc trong
các cơ quan, tổ chức nhà nước được gọi là cán bộ, viên chức trừ đối tượng
là công nhân.
Thuật ngữ viên chức tiếp tục được cụ thể hoá tại Quyết định số
117/CP ngày 15/7/1982 của Chính phủ quy định danh mục số 1 về các
chức vụ viên chức nhà nước, được phân thành: viên chức lãnh đạo (chia
thành 2 nhóm); viên chức chuyên môn (chia thành 5 nhóm); viên chức
thực hành nghiệp vụ kỹ thuật (chia thành 3 nhóm) và một số văn bản cải
cách tiền lương đối với viên chức nhà nước được ban hành năm 1985. Các
văn bản này là cơ sở cho sự hình thành chế độ viên chức theo chức nghiệp.
Tuy nhiên chế độ viên chức theo chức nghiệp giai đoạn này đã bộc lộ

16
những hạn chế, đó là không đề cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của
viên chức, người viên chức được trả lương theo tiêu chí cơ bản, nhất là phụ
thuộc vào thâm niên công tác. Chế độ này không kích thích được việc học
tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ viên chức.
Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001),
thuật ngữ “cán bộ, viên chức” được sử dụng với nghĩa rất rộng gồm tất cả
những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. “Các cơ quan
Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ
phục vụ nhân dân ” (Điều 8), hoặc “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã
hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán
bộ, công nhân, viên chức và người lao động khác ” (Điều 9). Như vậy,
theo quy định của Hiến pháp 1992 thì những người phục vụ trong các cơ
quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ và viên chức. Thuật ngữ viên chức
được hiểu theo nghĩa rất rộng gồm tất cả những người trong biên chế của

Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử
dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà
nước và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển
dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày
10/10/2003, cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được gọi chung là
viên chức. Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm
vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị – xã hội , hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các
nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
Như vậy, công chức trong các cơ quan nhà nước, ở mức độ nhất định
thì hoạt động của họ luôn gắn với quyền lực nhà nước, trực tiếp thực hiện

18
quyền lực nhà nước hoặc phục vụ trực tiếp cho thực hiện quyền lực nhà
nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, còn hoạt động của các viên
chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước thuần tuý mang tính chuyên
môn, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu do chính các
đơn vị sự nghiệp tạo nên.
1.1.1.2. Khái niệm viên chức y tế dự phòng:
Y học dự phòng là một ngành khoa học về phòng ngừa bệnh tật và
tăng cường sức khoẻ. Phạm vi của y học dự phòng rất rộng, bất cứ điều gì
liên quan đến sự sống, bệnh tật của con người như đất, nước, không khí,
thực phẩm, quần áo, lao động, nghỉ ngơi, giải trí đều là đối tượng của y
học dự phòng.
Qua khái niệm về y học dự phòng có thể thấy vai trò quan trọng của y
học dự phòng, trong đó có vai trò của những người làm trong lĩnh vực này
đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, pháp luật

nghiệp y tế (các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các trung tâm y tế dự
phòng) – những người thực hiện một công vụ quan trọng nhất của nhà
nước và xã hội là thực hiện công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch
bệnh nâng cao sức khoẻ nhân dân ra khỏi đội ngũ công chức chưa thể hiện
sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
như trong các Văn kiện đại hội Đảng đã đề ra.
1.1.2. Vai trò của đội ngũ viên chức y tế dự phòng:
Nghề y ở khắp mọi nơi trên thế giới đều như nhau, là nghề có quá
trình đào tạo dài nhất, nhưng thời gian có thể hành nghề lại muộn nhất. Do
tính chất nghề nghiệp, nhân viên y tế phải làm việc trong các điều kiện môi
trường rất khác nhau với rất nhiều các yếu tố môi trường bất lợi cho sức
khoẻ như: các yếu tố vật lý, yếu tố hoá, yếu tố sinh học, môi trường kín
Trong điều kiện kinh tế xã hội thực tại của Việt Nam, công việc bảo
vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân càng khó khăn, phức tạp hơn gấp bội.
Lao động của người thầy thuốc là loại lao động phức tạp, đòi hỏi cả về thể

20
lực và trí tuệ vì luôn phải đưa ra các quyết định phức tạp liên quan đến tính
mạng con người. Về tâm lý, nghề y cũng đòi hỏi ở người thầy thuốc đức
tính cần cù, kiên nhẫn, biết chịu đựng
Sức khoẻ của mỗi người liên quan mật thiết đến tình trạng sức khoẻ
chung của cộng đồng. Một cộng đồng khoẻ mạnh cả về thể chất và tinh
thần (ít người ốm đau, không có dịch bệnh, môi trường ít hoặc không bị ô
nhiễm, không có các tệ nạn xã hội ) là điều kiện lý tưởng đảm bảo cho
mỗi người khoẻ mạnh. Vai trò của đội ngũ viên chức y tế dự phòng thể
hiện ở chính các công việc:
Một là, đảm bảo một cuộc sống lành mạnh, văn minh. Để thực hiện
công việc này thì y tế dự phòng có nhiệm vụ chủ động phòng, chống các
bệnh liên quan tới chế độ dinh dưỡng, lối sống có hại, tai nạn và thương
tích như: khống chế các bệnh do hút thuốc lá thông qua việc giảm tỷ lệ hút

thiện để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ. Công tác y tế dự phòng đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt hoạt động. Nhiều dịch bệnh
nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi và thanh toán. Năm 1978, nước ta đã
thanh toán được bệnh đậu mùa và năm 2000 thanh toán bệnh bại liệt. Từ
năm 2002 không có bệnh dịch hạch và năm 2003, Việt Nam là quốc gia
đầu tiên khống chế được dịch SARS. Các bệnh truyền nhiễm gây dịch đã
giảm từ 10 đến 100 lần so với trước đây, cơ cấu bệnh tật đã thay đổi đáng
kể. Phòng chống HIV/AIDS cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình
dục, quản lý, chăm sóc, tư vấn người nhiễm HIV, dự phòng lây truyền từ
mẹ sang con đã được triển khai mạnh mẽ, hạn chế sự gia tăng của đại
dịch HIV/AIDS.
Công nghệ sinh học được nghiên cứu và áp dụng thành công trong
việc sản xuất vắc xin. Năm 2000 Việt Nam đã có khả năng đáp ứng được
5/10 loại vắc xin dùng trong tiêm chủng mở rộng. Đến năm 2005 đã cung
cấp 9/10 loại vắc xin cho tiêm chủng mở rộng, trong đó 7/10 loại đã đáp
ứng được 100% nhu cầu trong nước.

22
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 33,8% năm 2000
xuống còn 25,0% vào năm 2005.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ người lao động và bệnh nghề
nghiệp đã trở thành hoạt động chuyên môn thường trực của hệ thống y tế
dự phòng từ trung ương đến địa phương và các Bộ, ngành.
Công tác kiểm dịch y tế biên giới đã triển khai tại hầu hết các cửa
khẩu biên giới, góp phần ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm có thể lây lan
vào nước ta, đảm bảo an ninh sức khoẻ cho quốc gia
Thành tựu của công tác y tế dự phòng đã góp phần không nhỏ trong
sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho người dân, thể hiện rõ nét trong
việc khống chế tỷ suất tử vong của trẻ dưới 1 tuổi dưới 40‰, góp phần
tăng tuổi thọ bình quân của người dân Việt Nam, hiện đạt khoảng 71 tuổi.

phải đấu tranh, phê phán những hiện tượng phi đạo đức và những tàn dư
đạo đức cũ. Đó là địa phương chủ nghĩa; óc bè phái; óc quân phiệt quan
liêu; óc hẹp hòi; ham chuộng hình thức; làm việc lối bàn giấy; vô kỷ luật,
kỷ luật không nghiêm; ích kỷ, hủ hoá; bệnh tham lam; bệnh lười biếng;
bệnh kiêu ngạo; bệnh “hữu danh, vô thực”; kéo bè kéo cánh; bệnh “cận
thị”; bệnh tị nạn; bệnh xu nịnh, a dua; bệnh khai hội; bệnh nể nang; bệnh
quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí;
Người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng. Đó là khả năng tổ chức và động viên quần chúng
thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Người cán bộ
phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, bằng hành động của mình làm
cho dân tin, dân phục; tôn trọng và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
“Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân,
mới làm được thầy học của dân”.
Bên cạnh đó người cán bộ phải không ngừng học tập nâng cao trình
độ lý luận và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hồ Chí Minh đã dạy “phải
tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người
cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động

24
hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không
lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”.
Về năng lực của cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh những hiểu biết
mới, những năng lực mới: “Ngày nay Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên
chẳng những thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn”; “Cán bộ
ai lãnh đạo trong ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn về ngành
đó”.
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã chỉ rõ cần “phân định
rõ cán bộ dân cử hoạt động theo nhiệm kỳ và các loại công chức, viên chức
chuyên nghiệp”; “Xây dựng quy chế công chức, viên chức trong từng lĩnh

với cán bộ, công chức, viên chức ở một số khía cạnh cơ bản: tiêu chuẩn về
nhân thân, tiêu chuẩn về phẩm chất, tiêu chuẩn về năng lực trình độ và tiêu
chuẩn về thời gian, tuổi tác.
- Tiêu chuẩn về nhân thân: Mọi công dân muốn tham gia vào làm việc
tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước phải là công dân Việt Nam, có địa
chỉ thường trú tại Việt Nam; Có đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ; Đồng
thời họ phải đảm bảo tiêu chuẩn có đầy đủ các yếu tố của quyền công dân,
tức là không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án
phạt tù, cải tạo không giam giữ, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
- Tiêu chuẩn về phẩm chất: đòi hỏi viên chức phải có phẩm chất đạo
đức tốt, có lý lịch phản ánh mối quan hệ gia đình và xã hội đầy đủ, rõ ràng.
- Tiêu chuẩn về trình độ, năng lực: Đây là hai yếu tố có sự quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau, năng lực là hệ quả lôgic của trình độ. Ngoài việc
phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, viên chức phải đảm
bảo phát huy được khả năng của bản thân để đạt được hiệu quả cao trong
công việc. Trên thực tế hai tiêu chuẩn trình độ và năng lực không đồng
nhất với nhau vì có trường hợp được đào tạo bài bản nhưng không phát
huy được những kiến thức đã được tiếp thu để biến thành năng lực công

26
tác. Ngược lại, có những người do điều kiện, hoàn cảnh không được đào
tạo một cách có hệ thống nhưng lại có khả năng giải quyết tốt những công
việc thực tiễn. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay đòi hỏi chung đối với
mọi viên chức là phải được đào tạo, bồi dưỡng đúng chức vụ và ngạch viên
chức đảm nhiệm.
Ngày nay, tiêu chuẩn về trình độ được sử dụng để sắp xếp, phân loại
viên chức vào các ngạch, bậc trong hệ thống các ngạch công chức, viên
chức. Phù hợp với những chuyên môn khác nhau, Nhà nước quy định các
ngạch công chức, viên chức khác nhau.

pháp luật về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được giao để vận dụng
vào công tác quản lý, chỉ đạo của đơn vị; Nắm chắc kiến thức về lĩnh vực
chuyên môn, chuyên ngành được giao, về nghiệp vụ quản lý, tổ chức triển
khai tại cơ sở; Am hiểu tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước,
các nước trong khu vực và hội nhập quốc tế.
Ngoài ra cán bộ lãnh đạo, quản lý còn phải đảm bảo các tiêu chuẩn về
sức khoẻ, độ tuổi, trình độ ngoại ngữ.
- Tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ: Đối với các Viện nghiên cứu
hạng II, hạng I nói chung và Viện nghiên cứu hạng II, hạng I trong lĩnh
vực y tế dự phòng nói riêng, tiêu chuẩn đối với từng chức danh lãnh đạo,
quản lý (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Trưởng phòng, trưởng khoa, phó
trưởng phòng, phó trưởng khoa) được quy định rất cụ thể ở các mặt tiêu
chuẩn chuyên môn nghiệp vụ ngạch (chuyên viên chính hoặc tương đương,
chuyên viên hoặc tương đương ), tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn
(Tiến sỹ hoặc thạc sỹ hoặc đại học), lý luận chính trị (cao cấp hoặc trung
cấp), chứng chỉ quản lý nhà nước, chứng chỉ ngoại ngữ.
Do đặc thù của hệ thống y tế dự phòng, đối với các Viện nghiên cứu,
tiêu chuẩn đối với viên chức thừa hành được quy định theo tiêu chuẩn
nghiệp vụ ngạch công chức ngành nghiên cứu khoa học và công nghệ ban
hành theo Quyết định số 416/TTCP-VC ngày 29/5/1993 của Ban Tổ chức

Trích đoạn Các giải pháp nâng cao chất lượng về phẩm chất chính trị, tư tưởng: Các giải pháp nâng cao chất lượng về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách làm việc: Các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực và khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn: Hoàn thiện, bổ sung hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và pháp luật về lĩnh vực y tế dự phòng: Đổi mới quan điểm, nội dung và phương pháp đánh giá viên chức:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status