Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ TÚ OANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. PHẠM HỒNG THÁI
LUẬN VĂN ThS LUẬT

HÀ NỘI 2007
1.1.3. Quan điểm, phương hướng, chính sách và mục tiêu của Đảng và
Nhà nước về giáo dục - đào tạo
13
1.1.3.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục - đào tạo
13
1.1.3.2. Quan điểm, phương hướng, chính sách và mục tiêu của
Đảng
và Nhà nước về giáo dục - đào tạo
15
1.1.3.3. Phương hướng và chính sách phát triển giáo dục- đào tạo
của Đảng và Nhà nước đối với từng cấp học
23
1.1.3.4. Mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo
24
1.2. Quan niệm về quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục - đào tạo
28
1.2.1. Quản lý
28
1.2.2. Quản lý nhà nước
30
1.2.3. Quản lý nhà nước về giáo dục- đào tạo
31
1.2.4. Quản lý nhà trường
32
1.3. Hệ thống các cơ quan quản lý và nội dung quản lý nhà nƣớc về giáo
dục – đào tạo
34
1.3.1. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo
34

52
2.1.2. Kinh nghiệm cải cách giáo dục ở nước Cộng Hoà Nhân dân
Trung Hoa
56
2.1.3. Kinh nghiệm phát triển giáo dục của Hàn Quốc trong những
năm đầu thế kỷ XXI
59
2.1.4. Kinh nghiệm đổi mới giáo dục ở SINGAPORE
61
2.1.5. Kinh nghiệm phát triển giáo dục Hoa Kỳ
64
2.2. Thực trạng giáo dục - đào tạo và quản lý nhà nƣớc về giáo dục–đào tạo
ở nƣớc ta hiện nay
67
2.2.1. Những thành tựu của giáo dục-đào tạo ở nước ta trong thời gian
qua
67
2.2.1.1. Hệ thống giáo dục - đào tạo
68
2.2.1.2. Quy mô giáo dục – đào tạo
73
2.2.1.3. Chất lượng giáo dục
75
2.2.1.4. Công bằng xã hội trong giáo dục
76
2.2.1.5. Công tác xã hội hoá giáo dục - đào tạo
77
2.2.2. Nhược điểm
79
2.2.2.1. Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

3.3.3. Hoàn thiện cơ chế phân cấp cho các trường đại học và các cơ sở
giáo dục
119
3.3.4. Giải pháp nhằm nâng cao quản lý nhà nước đối với chất
lượng giáo dục - đào tạo
122
KẾT LUẬN
125
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
127
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục - đào tạo có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã
hội ở mỗi một quốc gia. Lí luận cũng như thực tiễn ở nhiều nước phát triển trên thế
giới như Nhật Bản, Thuỵ Sỹ, Singapo đã chỉ rõ rằng: Phát triển một nguồn nhân lực
chất lượng cao vừa là biện pháp hàng đầu để xây dựng và phát triển một đất nước
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đặc biệt, đối với những nước chậm phát
triển, những nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam và nhiều nước ở
châu Á, châu Phi, Nam Mỹ… Một đất nước dù có nguồn tài lực, vật lực phong phú,
dồi dào nhưng nguồn nhân lực chất lượng thấp thì đất nước ấy khó lòng tiến nhanh,
tiến kịp các nước phát triển, khó lòng tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để
đưa đất nước nhanh chóng hội nhập với nhân loại. Hiện nay, loài người đang bước
vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao
càng trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển của một đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
đã nêu: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo cùng khoa học – công nghệ là nhân tố quyết

phát triển xã hội đã đóng vai trò thực hiện sứ mệnh trên”. Kết luận này đã nêu bật
sứ mệnh cao cả của giáo dục đại học (Từ gọi theo điều 38 của Luật giáo dục Việt
Nam năm 2005).
Một mặt giáo dục - đào tạo là hoạt động mang tính xã hội rộng lớn - đặc biệt
kể từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ truơng xã hội hóa giáo dục – có liên quan trực
tiếp đến lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi thành phần kinh tế –
xã hội; Mặt khác, nó là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc
gia. Như vậy, giáo dục - đào tạo ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải đi trước một bước,
phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Một khâu quan trọng trong
việc quan tâm đến phát triển giáo dục là quản lý giáo dục mà trước hết phải là quản
lý nhà nước về giáo dục. Bởi lẽ, chỉ có thông qua quản lý nhà nước về giáo dục mới
thực hiện được các chủ trương, chính sách của quốc gia, mới xây dựng được quy
hoạch chiến lược phát triển, mới thực hiện được các mục tiêu giáo dục…. Như vậy,
quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo có thể coi là khâu then chốt để thực hiện
thắng lợi mọi hoạt động giáo dục. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy rằng: Để quản 3
lý nhà nước về giáo dục - đào tạo có hiệu lực, hiệu quả phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, trình độ,
tư duy và nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục, về sự tiến bộ
của khoa học và công nghệ… Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 do
Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê duyệt nhận
định rằng: quản lý là một khâu yếu và là nguyên nhân của những yếu kém khác
trong giáo dục nước ta. Để tìm ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về giáo
dục - đào tạo, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý nhà nƣớc về giáo dục và đào
tạo – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo – thực trạng và giải pháp hoàn thiện
là một đề tài rất rộng, bao quát mọi vấn đề quản lý của nhà nước liên quan đến lĩnh

- Phạm Minh Hạc – Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1999;
- Phạm Thành Nghị: Quản lý chất lượng giáo dục đại học, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội năm 2000;
- Quản lý – Quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình – Trường cán bộ
quản lý giáo dục - đào tạo Trung ương I của Đặng Quốc Bảo năm 2000;
- Đặng Xuân Hải - Bổ túc kiến thức quản lý hành chính nhà nước và quản lý
nhà nước về giáo dục và đào tạo, Hà Nội năm 2002;
- Phạm Minh Hạc - Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm
2002;
- Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI (sách tham khảo) của nhóm tác giả:
Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ, Nhà xuất bản chính
trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002;
- Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài của tập thể tác giả Nghiêm Đình Vỳ,
Nguyễn Đắc Hưng, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002;
- Quản lý nguồn lực tài chính trong giáo dục ở nhà trường – Hà Nội năm
2003 của Đặng Quốc Bảo, Phạm Quang Sáng; 5
- Phát triển nhà trường, một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Đặng Quốc
Bảo năm 2003 trong cuốn tài liệu phục vụ lớp cao học quản lý giáo dục;
- Đậu Hoàn Đô - Nguyễn Công Giáp - Đào Văn Vy: Phân cấp quản lý giáo
dục ở Việt Nam, thực trạng và xu hướng, Hà Nội năm 2003;
- Phạm Minh Hạc – Về giáo dục, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội
năm 2003;
- Một số cơ sở pháp lý của vấn đề quản lý nhà nước và quản lý giáo dục của
Đặng Xuân Hải, Hà Nội năm 2004;
- Xã hội hoá giáo dục nhìn từ góc độ Pháp luật của Lê Quốc Hùng, Nhà xuất

Để thực hiện mục đích đặt ra, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Đó là: Những
vấn đề lý luận về giáo dục - đào tạo và lý luận quản lý nhà nước về giáo dục – đào
tạo; kinh nghiệm của một số quốc gia có nền giáo dục - đào tạo tương đối tốt để có
thể vận dụng những hạt nhân hợp lý của họ vào thực tiễn giáo dục - đào tạo ở nước
ta;
Thứ hai, nghiên cứu các nội dung của quản lý nhà nước về giáo dục - đào
tạo. Đồng thời phải làm sáng rõ thực trạng của giáo dục - đào tạo cũng như quản lý
nhà nước về giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay để tìm ra các giải pháp phù hợp;
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các nguyên tắc xây dựng nền giáo dục nước
nhà đã được Đảng và Nhà nước ta chỉ rõ (giai đoạn từ năm 2001 đến 2020). Luận
văn đưa ra được các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về
giáo dục - đào tạo của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về giáo dục - đào tạo, kết hợp với lý thuyết và thực tiễn của quản lý nhà
nước về giáo dục - đào tạo.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp phân
tích, so sánh, thống kê dựa trên những tư liệu khảo sát, so sánh và minh hoạ bằng
biểu đồ.
6. Kết cấu của luận văn 7
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được chia thành ba chương:
- Chương I. Một số vấn đề lí luận về giáo dục - đào tạo và quản lý nhà nước
về giáo dục - đào tạo;
- Chương II. Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay;

tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được
những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [50, tr. 349].
Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó
được thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử – xã hội của loài người [27, tr. 120].
Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện
pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và
lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và
phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị
cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội [43, tr. 105].
Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện
không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một
quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là
nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội.
Trải qua hàng ngàn năm thực hành, thử nghiệm, giáo dục học phương Đông
đã tổng kết được 4 mặt cơ bản nhất của hoạt động giáo dục là: giáo dục đạo đức
(đức học), giáo dục trí tuệ (trí dục), giáo dục thể chất (thể dục), giáo dục thẩm mĩ
(mĩ học) [43, tr. 105].
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người.
Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt
không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội.
Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội,
một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt.
Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương 9
pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các
chế độ chính trị – kinh tế của xã hội.

đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
Ngày nay đào tạo không còn chỉ là quá trình chuyển giao một chiều, mà còn
bằng những phương tiện dạy - học hiện đại mà các cơ quan đào tạo đang dần dần
tiến tới hợp tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác
chiếm lĩnh lấy tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn. Đó là quá
trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tự đào tạo của người học. Chỉ khi
nào đạt được chuyển biến như vậy thì hiệu quả đào tạo mới cao và mới có lợi ích
thiết thực cho bản thân và xã hội.
Giáo sư Phạm Minh Hạc cũng đã chỉ ra rằng: “quá trình đào tạo bao gồm việc
giáo dục và giáo dưỡng, dạy dỗ và tập luyện, hình thành và phát triển nhân cách học
sinh. Đó là hoạt động truyền thụ và hoạt động lĩnh hội của thầy và trò, của xã hội và
thế hệ trẻ, của cha mẹ và con cái, v.v Quá trình này mở đầu bằng những yêu cầu
của xã hội cụ thể hoá theo từng giai đoạn vào mục tiêu và phương thức đào tạo và
khâu cuối cùng của quá trình ấy là những phẩm chất nhân cách của học sinh (bao
hàm cả năng lực hành động), được bộc lộ trong khi các em thực hiện chức năng của
mình trong xã hội. Quá trình đào tạo bao giờ cũng là vòng tròn khép kín có “mối
hàn” là hoạt động sản xuất xã hội” [23, tr. 85].
Đào tạo ở nước ta được phân cấp thành các bậc: đào tạo nghề nghiệp, đào tạo
trung cấp, đào tạo đại học và đào tạo sau đại học.
1.1.2. Vị trí, vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển của xã hội
Giáo dục - đào tạo giữ vai trò đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi
con người và của cả xã hội. Vốn con người bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm
chất về đạo đức, về nhân cách. Vốn đó nhờ giáo dục - đào tạo mà có. Nó làm cho
con người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội bởi mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội đều do con người sáng tạo ra.
Tại Đại hội đồng lần thứ 27 của UNESCO (tháng 11 năm 1993), các báo cáo đã
nói nhiều đến vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo trong thế kỷ XXI là chìa
khóa tiến tới một thế giới tốt đẹp hơn; vai trò của giáo dục - đào tạo là đòn bẩy 12
con người là động lực, là đòn bẩy của mọi sự phát triển xã hội. Với tư cách là khách
thể của xã hội, mọi hoạt động đều nhằm vào phục vụ con người, phát triển con
người. Như vậy, con người là mục tiêu của mọi sự phát triển.
Con người chỉ có thể đảm đương được vai trò to lớn như vừa nêu trên khi nào
con người phải có chất lượng cao. Con người có chất lượng cao theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII phải có đầy đủ
bốn phẩm chất:
- Phát triển về trí tuệ;
- Cường tráng về thể chất;
- Phong phú về tâm hồn;
- Trong sáng về đạo đức [3, tr. 8].
Có nhiều lĩnh vực góp phần tạo nên bốn phẩm chất này ở con người Việt Nam
mới như y tế, văn hoá, đạo đức , song lĩnh vực quan trọng bậc nhất là giáo dục.
Chính giáo dục - đào tạo với chức năng của mình trực tiếp mang lại cho con người
Việt Nam những phẩm chất trên đây. Trong ý nghĩa ấy, giáo dục – đào tạo là động
lực, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của xã hội, của đất nước.
1.1.2.2. Giáo dục - đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước
Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới đã cho chúng ta thấy: Hai đất nước có
cùng xuất phát điểm ban đầu như nhau về kinh tế – xã hội, cùng trình độ phát triển
như nhau, nhưng chỉ sau một thời gian có sự cách biệt nhau về kinh tế- xã hội; một
nước phát triển nhanh, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, một nước ngược lại rơi
vào trì trệ, phát triển chậm chạp, thậm chí tụt hậu dần. Đi tìm nguyên nhân của điều
này, người ta dễ nhận ra rằng nước nào chú trọng, quan tâm đến giáo dục - đào tạo
thì sẽ phát triển nhanh, và ngược lại. Theo tinh thần ấy, giáo dục - đào tạo là thước
đo sự phát triển của một quốc gia, một dân tộc. Trình độ dân trí, trình độ khoa học
kỹ thuật và công nghệ thể hiện trình độ phát triển của đất nước. Tổng kết kinh
nghiệm lịch sử dân tộc ta, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1783) đã từng khái quát

đáp ứng được đòi hỏi của các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Bất cập trên đây chỉ có thể khắc phục được trước hết và chủ yếu phải bắt đầu từ
sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Cần phải đầu tư thích đáng cho sự nghiệp giáo dục và
phải coi “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng 14
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững” [20, tr. 108 – 109].
1.1.3. Quan điểm, phương hướng, chính sách và mục tiêu của Đảng và
Nhà nước về giáo dục - đào tạo
1.1.3.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục - đào tạo.
Lý luận Mác – Lê Nin coi giáo dục có vai trò quan trọng trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Khi đề cập đến vấn đề tổng quát của lịch sử phát triển loài người.
Marx chỉ rõ: ở mỗi giai đoạn phát triển đều đòi hỏi một sức mạnh lao động xã hội
nhất định. Sức lao động đó là: “Toàn bộ các sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh
thần ở trong cơ thể con người, ở trong nhân cách sinh động của con người, những
sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần mà con người phải cho hoạt động để sản
xuất ra những vật có ích’’ [5, tr. 9]. Sức mạnh này do đâu mà có? Marx chỉ ra, đó là
do đào tạo. Trên nền tảng tư tưởng giáo dục của Marx về phổ cập giáo dục phổ
thông kỹ thuật tổng hợp và việc kết hợp với lao động sản xuất, Lê Nin đã phát triển
hoàn chỉnh lý luận về bản chất kinh tế của giáo dục. Theo Lê Nin, giáo dục xã hội
chủ nghĩa vừa là mục đích kinh tế, vừa là sức mạnh của kinh tế. Giáo dục trong các
nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện cả hai mặt của quy luật kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa xã hội.
Ngay sau khi cách mạng tháng mười thành công, đất nước ở trong hoàn cảnh
cực kỳ khó khăn vì bị chiến tranh tàn phá, Lê Nin đã chỉ ra: “Muốn thoát khỏi cảnh
thiếu thốn, cảnh cùng khổ đen tối nhất thì phải có suy nghĩ, phải có văn hoá, phải

có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá. Trong việc đào tạo cán bộ,
giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì đột xuất nhưng rất vẻ vang”. Người nhắc
nhở toàn Đảng, toàn dân: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm
phải trồng người”. Người yêu cầu toàn xã hội: Phải chăm sóc nhà trường về mọi
mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục lên những bước phát triển mới. Người chỉ thị cho
ngành giáo dục” “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt”
để “thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật” [5 , tr. 62]. 16
1.1.3.2. Quan điểm, phương hướng, chính sách và mục tiêu của Đảng và Nhà
nước về giáo dục - đào tạo
a. Quan điểm của Đảng ta đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn đề cao vai trò của giáo dục - đào tạo, đã có nhiều chủ trương, chính
sách phát triển giáo dục - đào tạo. Từ tất cả các Văn kiện, Nghị quyết của Đại hội
Đảng toàn quốc, đặc biệt là Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI [17], lần
thứ VII [18], lần thứ VIII [19], lần thứ IX [20], Nghị quyết 4 Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá VII [3], Nghị quyết 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII
[4] Chúng ta có thể nhận thấy Đảng ta đã đưa ra một hệ thống quan điểm chỉ đạo
phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Dưới đây, tác giả chỉ trình bày những nội
dung chính của một số quan điểm chỉ đạo cơ bản.
* Một là, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu:
Quan điểm này được khẳng định và nhấn mạnh trong nhiều văn kiện quan
trọng: Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung năm 2001 (Điều 35); Văn kiện
đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII [18], Nghị quyết 2 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VIII [4, tr. 3], Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX [20, tr. 108].
“Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” [42], cùng với khoa học công nghệ,
giáo dục - đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu” [18, tr. 82], “điều đó có nghĩa
là sự nghiệp giáo dục và chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước ta có tầm quan

Trung ương Đảng khoá VIII vừa mở đường cho sự phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước nói chung, vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thời đại mà đất
nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là thời đại khoa học kỹ thuật
và công nghệ phát triển nhanh, mạnh như vũ bão, thời đại trong đó con người, trước
hết là chất xám của con người trở thành một lực lượng vật chất quyết định sự phát
triển về xã hội và tăng trưởng về kinh tế của một đất nước. Giáo dục - đào tạo – lĩnh
vực đưa lại chất xám cho con người - được đặt lên hàng đầu.
Để giáo dục - đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu phải “thực hiện chính
sách ưu tiên ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo’’ [4, tr. 31], “có các giải pháp mạnh
để phát triển giáo dục” [4, tr. 31 – 32]. 18
Ưu tiên ưu đãi cho giáo dục - đào tạo không có nghĩa là dành cho giáo dục -
đào tạo một tỷ lệ ngân sách lớn nhất, là cấp cho đội ngũ giáo viên và những người
làm công tác giáo dục một mức lương cao, thậm chí rất cao. Ưu tiên ưu đãi cho giáo
dục được hiểu như sau:
Một là, Nhà nước các cấp từ trung ương xuống địa phương có trách nhiệm ưu
tiên đầu tư thoả đáng, hợp lý cho giáo dục, khuyến khích và tạo nhiều điều kiện
thuận lợi thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục.
Hai là, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, toàn dân cùng góp
công góp sức chăm lo sự nghiệp giáo dục, không khoán trắng sự nghiệp to lớn và
phức tạp này cho ngành giáo dục - đào tạo.
Ba là, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội thực sự chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo
dục theo hướng an cư lạc nghiệp.
Đồng thời, các giải pháp đưa ra phải đủ mạnh, phải tạo ra sự thay đổi căn bản
chất lượng giáo dục theo hướng phát triển đi lên, phù hợp với xu hướng phát triển
của nền giáo dục hiện đại. Trước mắt, tập trung vào giải quyết những vấn đề cốt lõi,
nóng bỏng của giáo dục nước ta hiện nay: Vấn đề quy mô, chất lượng và hiệu quả

phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục
lành mạnh và an toàn”.
Giáo dục - đào tạo không chỉ là công việc của nhà trường mà là công việc
chung của toàn xã hội. Từng người dân, từng gia đình, từng tâp thể, tổ chức Đảng,
chính quyền các cấp, các tổ chức kinh tế – xã hội, các tổ chức quần chúng cùng xây
dựng cộng đồng trách nhiệm đối với sự phát triển giáo dục - đào tạo và phối hợp tạo
dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Các phương tiện truyền thông đại chúng phối
hợp với ngành giáo dục - đào tạo trong việc xây dựng và chuyển tải các chương
trình giáo dục và phổ biến kiến thức đến mọi người. Cần phối hợp giữa nhà trường
với gia đình và xã hội trong sự nghiệp “trồng người” thông qua nhiều hình thức hoạt
động như hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, Hội khuyến học, Hội cha mẹ
học sinh, các quỹ bảo trợ học đường và các hình thức tổ chức khác.
Mọi người tham gia giáo dục - đào tạo bằng cách tự mình học tập thường
xuyên, suốt đời. Nêu gương học tập phải trở thành truyền thống của mỗi gia đình, 20
mỗi tổ chức, mỗi địa phương và toàn dân tộc. Tạo dựng một xã hội học tập, ở đó
mọi người học tập và được tạo điều kiện để học tập, phải là mục tiêu cao cả của sự
nghiệp giáo dục - đào tạo.
Để thực hiện giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn
dân thì một mặt Nhà nước tăng cường đầu tư từ ngân sách cho giáo dục - đào tạo.
Mặt khác, người học, người sử dụng lao động, các tổ chức kinh tế – xã hội hăng hái
đóng góp nguồn lực cho giáo dục - đào tạo, coi đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối
với xã hội; dần dần hình thành thói quen chi trả một phần kinh phí của giáo dục -
đào tạo, ở cấp bậc học càng cao phần chi trả đó càng lớn. Trong những năm gần
đây, nhà nước đã liên tục tăng nguồn ngân sách để đầu tư cho giáo dục. Năm 2000,
ngân sách nhà nước chi cho giáo dục – đào tạo là 14,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 15%
trong tổng ngân sách nhà nước. Con số chi cho giáo dục - đào tạo năm 2004 là 34,4
nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1% tổng số ngân sách nhà nước. Trong năm 2005, chi phí

Mục tiêu là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh và tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Đối với giáo dục, mục tiêu đó phải thể hiện trên cả hai phương diện
nhân cách và xã hội.
Về mặt nhân cách, giáo dục phải đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành
con người lao động và có khả năng lao động tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã
hội. Đó là con người phát triển toàn diện. có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm
mỹ, phát triển được năng lực cá nhân, có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo,
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập
thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh.
Về mặt xã hội, mục tiêu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải được thể
hiện trong giáo dục vĩ mô. Việc tổ chức, quản lý, các chính sách giáo dục - đào tạo
phải theo hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công
lập trong hệ thống giáo dục quốc dân; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục -
đào tạo, tạo cơ hội bình đẳng để ai ai cũng được học hành, nhất là bảo đảm cho
những đối tượng là con em những gia đình có công với nước. Nhà nước và xã hội
có cơ chế, chính sách giúp đỡ con em những gia đình nghèo học giỏi hoặc những
người khuyết tật đều có cơ hội và điều kiện học tập, khuyến khích những người học

Trích đoạn Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về giỏo dục đào tạo Quản lý nhà nước về giỏo dục đào tạo Quản lý nhà trường Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giỏo dục đào tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status