1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ THÙY DƯƠNG
TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Xuân Thảo
HÀ NỘI - 2012 3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Đỗ Thị Thùy Dương
Hệ thống chính trị - xã hội ở Việt Nam 5
1.1.2.
Vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị - xã hội 9
1.2. Hoạt động tư pháp 15
1.2.1.
Cơ quan tư pháp ở Việt Nam - sự hình thành và phát triển 15
1.2.2.
Hoạt động tư pháp ở Việt Nam - quan điểm và định hướng
của Đảng
31
Chương 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
40
2.1. Hoạt động tư pháp ở Việt Nam những năm qua dưới sự lãnh
đạo của đảng
40
2.1.1.
Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 40
2.1.2.
Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân 53
2.1.3.
Đối với Cơ quan điều tra 99
3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng 103
3.2.1.
Đổi mới đường lối lãnh đạo của Đảng 104
3.2.2.
Đổi mới tổ chức đảng trong ngành Tư pháp 107
3.2.3.
Đổi mới trong quản lý cán bộ 109
3.2.4.
Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng 113
3.3. Chỉnh đốn đảng và tăng cường hơn nữa uy tín của đảng đối
với nhân dân
117
KẾT LUẬN
120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
122 6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, hoạt động tư pháp Việt Nam
đã được Đảng và Nhà nước chú trọng và có nhiều cải cách. Cải cách tư pháp
đã đem lại những thành tựu đáng kể, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại
những hạn chế, bất cập. Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986) Đảng chủ trương
đổi mới toàn diện đất nước. Sau đổi mới bộ mặt đất nước đã có nhiều thay đổi
và có những bước đột phá lớn. Việt Nam đã và đang đang xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày một sâu
rộng, kinh tế - văn hóa - xã hội có nhiều thay đổi. Trong khi đó hệ thống pháp
luật còn nghèo, hệ thống tư pháp còn chưa hoàn thiện, cán bộ thực hiện công
tác tư pháp trình độ, chuyên môn còn hạn chế dẫn đến nhiều trường hợp bỏ lọt
tội phạm, làm oan sai người vô tội… Vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với hoạt động tư pháp là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết để đáp
ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới.
Nhận thức được tầm quan trọng của Đảng đối với sự nghiệp to lớn
này, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu hoạt động tư pháp và
cải cách tư pháp đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh và mức
độ khác nhau như: "Sự cần thiết và những quan điểm chỉ đạo cải cách tư
pháp ở Việt Nam" của TS. Trần Huy Liệu; "Cải cách tư pháp trong cơ cấu tổ
chức quyền lực nhà nước" của PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung; "Phân công,
phối hợp quyền lực nhà nước và quan hệ giữa các cơ quan tố tụng" của
PGS.TS. Nguyễn Mạnh Kháng; "Cơ sở lựa chọn mô hình tố tụng hình sự đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam" của TS. Nguyễn Ngọc Chí; “Lại
bàn về nguyên tắc độc lập xét xử” của PGS.TS Nguyễn Tất Viễn; "Lịch sử
hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án ở Việt Nam" của Quốc Khánh;
8
"Những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam đối với các cơ quan tư
giải quyết những vấn đề cơ bản đã được đặt ra ở trên, tác giả sử dụng phương
pháp duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin và những phương pháp
khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch
sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh nhằm làm sáng tỏ nội dung
và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận
Nghiên cứu đề tài làm rõ được vị trí, vai trò quan trọng của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với hoạt động tư pháp ở Việt Nam; làm rõ tổ chức bộ máy
tư pháp Việt Nam - sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ. Đồng thời làm
rõ quan điểm của Đảng trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận
khoa học về vai trò của Đảng hiện nay nói chung trong hoạt động tư pháp nói
riêng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu đề tài hoàn toàn có thể ứng dụng vào
thực tiễn để góp phần hoàn thiện tổ chức và đẩy mạnh hoạt động tư pháp ở
nước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động tư pháp.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay dưới
lãnh đạo của Đảng.
Chương 3: Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động tư pháp hiện nay. 10
Chương 1
chính trị - xã hội được thành lập, hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ mà vai
trò lãnh đạo thuộc về đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm
thực hiện triệt để quyền lực nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân
chính của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công
cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Trong thực tế đời sống chính trị - xã hội ở nước ta, thời gian qua có
một số tổ chức xã hội - nghề nghiệp đã phát triển thành tổ chức chính trị - xã
hội - nghề nghiệp. Nhưng cho đến nay, giới khoa học pháp lý và chính trị
nước ta mới chỉ đề cập tới hệ thống chính trị với ý nghĩa là hệ thống các thiết
chế chính trị và chính trị - xã hội bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác của nhân dân
được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
1.1.1.3. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị - xã hội ở Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhân dân đã thực hiện cuộc cách
mạng thành công, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của
mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất sau:
Hệ thống chính trị mang bản chất công nhân. Điều này có nghĩa là,
các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm
12
của giai cấp công nhân, từ đó quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng
hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ và lợi ích
trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta.
Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ
thống chính trị ở nước ta thực hiện.
Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố
cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và
hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của
mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị.
So với hệ thống chính trị - xã hội truyền thống trước đây, ngày nay hệ
thống chính trị - xã hội có điểm mới đáng chú ý đó là có sự hiện diện của các tổ
chức xã hội rộng lớn của nhân dân. Đặc biệt là các hội đoàn trong trong lĩnh vực
kinh tế - xã hội, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, kinh doanh, dịch vụ xã hội…
tuy không trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước,
nhưng trong điều kiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, các tổ chức này có tác động
ngày càng lớn đến đời sống kinh tế - chính trị của đất nước. Đường lối, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có được xây dựng và thực thi hiệu quả
hay không không thể không tính đến vai trò và sự tác động tích cực của các tổ
chức xã hội. Và như vậy, có thể coi các tổ chức xã hội là hệ thống "phản biện
xã hội" đối với đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Từ đó,
hoạt động tư vấn, giám định, phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước phải được coi là hoạt động cơ bản và tích
cực của các tổ chức xã hội. Điều đó còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ
thống chính trị và hệ thống xã hội trong điều kiện mới ở nước ta hiện nay.
1.1.1.4. Các thiết chế trong tổ chức xã hội ở nước ta
Trong cấu trúc của hệ thống chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay có
thể phân biệt thành ba loại thiết chế:
14
Tổ chức chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Cơ quan tư pháp.
việc thủ tiêu chế độ người bóc lột người, thủ tiêu nạn áp bức dân tộc, và bằng
chính sách dân tộc đúng đắn.
Áp dụng vào điều kiện lịch sử Việt Nam, tư tưởng Hồ Chủ Minh thể
hiện rõ hơn hai vấn đề:
Thứ nhất: cần phải có một chính đảng của giai cấp vô sản để giải phóng
dân tộc và giải phóng con người. Đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm thấy ở học
thuyết này con đường cứu dân, cứu nước. Bác khẳng định: "Chỉ có chủ nghĩa
cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và
nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm
cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc" [22, tr. 461].
Người nói:
Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ
nghĩa cộng sản đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Từng
bước một trong cuộc đấu tranh, vừa làm công tác thực tế, dần dần
tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới
giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động
trên thế giới khỏi ách nô lệ [25, tr. 474].
Người cho thấy sự cần thiết phải có Đảng lãnh đạo - nhân tố quyết
định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định:
"Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo.
Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức
bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của
xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con
đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên
quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất
định thắng lợi [24, tr. 228].
16
Bởi vì theo Người: cách mạng là sự nghiệp chung của toàn thể dân
chúng. Song, sức mạnh đó chỉ có được khi dân chúng được thức tỉnh, giác
vai trò là đội tiên phong, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: đánh đổ chế
độ thực dân 80 năm của Pháp, hàng ngàn năm của chế độ phong kiến, đánh bại
các cuộc xâm lăng của các cường quốc, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa đến nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện công
cuộc xây dựng, đổi mới và hội nhập thành công. Nhìn lại những bước đường
phấn đấu đầy gian khổ hy sinh đã qua và những thắng lợi, thành tựu vẻ vang
đã giành được của toàn dân ta, chúng ta có thể tự hào về vai trò lịch sử của
Đảng ta, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Sức mạnh vô địch của Đảng chính là ở chỗ Đảng ta tuyệt đối trung thành với
lợi ích của nhân dân, đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, phát huy được sức mạnh lòng yêu nước của toàn dân tộc.
Vai trò lãnh đạo của Đảng không những được kiểm chứng bởi lịch sử
đấu tranh bảo vệ và xây dựng tổ quốc của dân tộc mà còn được đạo luật cao
nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hiến pháp ghi nhận.
Trong Hiến pháp năm 1946, mặc dù không có một điều khoản riêng quy định
về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, nhưng thông
qua chế định Chủ tịch nước và với vị trí, vai trò đặc biệt của Chủ tịch nước
đầu tiên - Hồ Chí Minh - người sáng lập ra Đảng Cộng sản, thì các quan điểm,
chủ trương, đường lối của Đảng đã được tổ chức và thực hiện thắng lợi. Hiến
pháp năm 1959 để thể hiện quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà
nước và hệ thống chính trị trong "Lời nói đầu" của Hiến pháp. Hiến pháp năm
1980 đã thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng một cách cụ thể trong cả "Lời
nói đầu" và Điều 4 của Hiến pháp. Lần đầu tiên, thuật ngữ mới "Hiến pháp
thể chế hóa đường lối của Đảng" được sử dụng. Hiến pháp năm 1992, được
sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã thể hiện ngắn gọn chặt chẽ và đầy đủ hơn vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị:
18
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
những sai lầm lệch lạc. Đồng thời, Đảng tiến hành tổng kết thực tiễn, rút kinh
nghiệm để không ngừng bổ sung và hoàn thiện các đường lối, chính sách trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Về thực chất, Đảng là tổ chức chính trị, phương pháp lãnh đạo của Đảng
không phải là phương pháp hành chính - mệnh lệnh. Phương thức lãnh đạo của
Đảng là giáo dục, thuyết phục và nêu gương. Sự lãnh đạo của Đảng mang tính
định hướng, tạo điều kiện cho Nhà nước và hệ thống chính trị có cơ sở để chủ
động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động. So với các đảng chính trị cầm quyền
trong các nhà nước khác, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
có những đặc trưng riêng: Quyền lãnh đạo của Đảng được ghi nhận trong Hiến
pháp; cơ sở chính trị xã hội của Đảng rất rộng rãi, sự lãnh đạo của Đảng được
tất cả các tổ chức chính trị xã hội thừa nhận; Đảng là đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc… Vì vậy,
những chủ trương và quan điểm lớn của Đảng được mọi tầng lớp nhân dân
quan tâm, tham gia ý kiến, tích cực ủng hộ và tổ chức thực hiện trên thực tế.
Như vậy, lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua khẳng định
không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Không có
hệ thống chính trị nào mà không có sự lãnh đạo, không có một chính đảng,
một lực lượng chính trị chi phối. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn ba
mươi đảng duy nhất cầm quyền, chi phối, dẫn dắt hệ thống chính trị của từng
nước. Để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, vấn đề có tính chất
quyết định là phải tiếp tục thực hiện đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng,
bản chất giai cấp và tính tiên phong của Đảng; xây dựng Đảng ta thật sự trong
sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao,
gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ
cán bộ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý
nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
20
Tòa án sơ cấp, thẩm phán thực hiện cả hai nhiệm vụ buộc tội và xét xử. Ở Tòa
đệ nhị cấp, có thêm thẩm phán buộc tội hay còn gọi là thẩm phán công tố. Ở
Tòa thượng thẩm có Công tố Chưởng lý đứng đầu và dưới quyền là các viên
chức làm công tác công tố chuyên trách. Các công tố viên có quyền tư pháp
cảnh sát - điều tra các vụ án hình sự, điều khiển công việc và giám sát hoạt
động điều tra của tư pháp cảnh sát và thực hành quyền công tố (buộc tội).
Như vậy, có thể nói, quan điểm đương thời về cơ quan tư pháp được hiểu theo
nghĩa rộng, nó không chỉ là cơ quan xét xử mà còn là cơ quan buộc tội phục
vụ cho công tác xét xử. Cơ quan tư pháp thời kỳ này được đặt dưới sự quản lý
của Bộ Tư pháp - thành viên của Chính phủ.
Do yêu cầu củng cố sức mạnh của quân đội trong hoàn cảnh toàn quốc
kháng chiến, Tòa án Quân sự và Tòa án binh được củng cố và mở rộng để kịp
thời xét xử các tội phạm trong quân đội và trừng trị những người xâm hại đến
sức chiến đấu của quân đội. Hệ thống Tòa án binh trong thời kì này bao gồm:
Tòa án binh mặt trận, tòa án binh khu, Tòa án binh tối cao và Tòa án khu
trung ương.
Ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85 cải cách bộ
máy tư pháp và Luật Tố tụng. Đây còn gọi là bước "tạm cải cách" trong khi
chờ cải tổ toàn thể bộ máy với tinh thần: bộ máy tư pháp cần được dân chủ
hóa, thành phần nhân dân cần được đa số trong việc xét xử; Hội thẩm nhân
dân được xử cả việc hình lẫn việc hộ và có biểu quyết; lập Hội đồng hòa giải
ở huyện có mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hòa giải tất cả
các việc hộ kể cả việc ly dị. Việc lập Hội đồng hòa giải ở huyện chính là để
giảm bớt kiện tụng. Bước "tạm cải cách" có mục đích làm nhẹ bộ máy tư
pháp để công việc xét xử được nhanh chóng, gần dân hơn và thủ tục tố tụng
hợp lý, đơn giản hơn.
Cơ quan điều tra cũng có những thay đổi. Nha công an Việt Nam được
đổi thành Thứ bộ công an và hệ thống cơ quan điều tra của Thứ bộ công an
22
23
Tòa án thực hiện. Ở một số nước trên thế giới, các Điều tra viên thuộc biên
chế các Viện Công tố, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các Công tố viên. Các
Công tố viên đóng vai trò chủ động, tích cực tham gia vào quá trình điều tra,
và duy trì công tố trước tòa khi tham gia tố tụng. Ở nước ta hiện nay, Viện
kiểm sát gần như tách khỏi hoạt động điều tra, phải đến khi có kết luận điều
tra do Cơ quan điều tra chuyển sang thì kiểm sát viên mới thực sự vào cuộc và
duy trì công tố trước tòa.
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được thành lập thống nhất từ trung
ương xuống địa phương, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các Viện
kiểm sát nhân dân địa phương. Trong giai đoạn này, nếu như Tòa án được xác
định là "những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ", thì đối
với Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp chưa đề cập đến chức năng công tố
mà chỉ được giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Trong khi chức
năng công tố lại hết sức cần thiết và rất quan trọng của quá trình tố tụng. Việc
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định các Viện kiểm sát nhân dân
thi hành nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật bằng 6 cách, trong đó có
điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước tòa án nhân dân
những người phạm pháp về chính trị, hiểu như vậy thì công tố chỉ là 1 trong 6
cách thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật chứ không phải là
chức năng cơ bản hàng đầu của Viện kiểm sát.
Đối với các Tòa án, chủ trương cải cách chính thức chỉ được đặt ra một
lần năm 1950 với tên gọi "Tạm cải cách", nhưng trên thực tế, từ tổ chức bộ
máy, thẩm quyền đến chức năng quản lý về mặt tổ chức trong suốt thời gian
từ năm 1945 đến năm 1992 được đặt ra và được tiến hành liên tục. Hiến pháp
năm 1946, ở Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao phải được thành lập, nhưng
do điều kiện chiến tranh Tòa án tối cao chưa ra đời, nên trong suốt 15 năm, từ
1945 đến 1959 Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý các tòa án địa phương không
chỉ về tổ chức mà cả về mặt chuyên môn, nghiệp vụ.
25
nhỏ mà theo luật định không phải mở phiên tòa. Tòa án nhân dân cấp huyện
còn có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hòa giải ở
xã, phường, thị trấn, khu phố và tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Hệ thống Tòa án quân sự cũng có bước phát triển mới, Tòa án quân sự
được thành lập mới ở Miền Bắc (theo Quyết định số 165/TM ngày 21/2/1961
của Bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam) thay thế cho các Tòa án
quân sự và Tòa án binh được thành lập trước đây, gồm có: Tòa án quân sự
trung ương và các Tòa án quân sự quân khu, quân binh chủng, sư đoàn trực
thuộc Bộ quốc phòng và tương đương. Tại miền Nam, các Tòa án quân sự
mới cũng được thành lập (theo Chỉ thị số 51/H của Bộ Chỉ huy Miền) gồm có:
Tòa án quân sự miền Tây Nam bộ, Tòa án quân sự miền Đông Nam bộ và các
Tòa án quân sự cấp sư đoàn ở các mặt trận. Sau ngày giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, hệ thống Tòa án quân sự được xây dựng thống nhất về
mặt tổ chức và hoạt động, gồm có: Tòa án quân sự Trung ương và 16 Tòa án
quân sự quân khu, quân chủng và tương đương.
Hệ thống cơ quan điều tra trong thời kì này gồm có: Các cơ quan điều
tra hình sự của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng và các cơ quan điều tra thuộc
Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
có nhiệm vụ trực tiếp điều tra một số loại tội phạm kinh tế và trị an mà kẻ
phạm pháp và hành vi phạm tội đã tương đối rõ; cơ quan điều tra của Công an
điều tra tất cả những vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp; còn
cơ quan điều tra của quân đội thực hiện việc điều tra các vụ án hình sự thuộc
thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự. Nhìn chung, hệ thống cơ quan điều tra
trong thời kì này đã có sự phát triển và có sự phối hợp hoạt động, bảo đảm tốt
việc điều tra, truy tố, phục vụ cho việc xét xử của tòa án.
1.2.1.2. Tổ chức bộ máy tư pháp Việt Nam sau thời kỳ đổi mới
Đổi mới là một chương trình cải cách kinh tế và xã hội do Đảng Cộng
sản Việt Nam khởi xướng vào những năm 80, nhưng chính sách đổi mới