Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ (Qua thực tế tỉnh Thái Nguyên) - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN QUANG HUY
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC
ĐẢM BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
(QUA THỰC TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG
LĨNH VỰC ĐẢM BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ

23
1.2.1.2.
Khái niệm pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ
26
1.2.2.
Khái niệm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường bộ
27
1.2.3.
Đặc điểm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường bộ
28
1.2.3.1.
Chủ thể thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường bộ đa dạng, phong phú
28
1.2.3.2.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ vừa mang tính quyền lực nhà nước vừa
mang tính cộng đồng
30
1.2.3.3.
Đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ
31
1.2.3.4.
Đặc điểm về đối tượng điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh
vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
32

1.2.5.
Vai trò của thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ
41
1.2.5.1.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ có vai trò quyết định trong công tác
đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
41
1.2.5.2.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ có vai trò phát triển kinh tế - xã hội
41
1.2.5.3.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội
42
1.2.5.4.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ đảm bảo an ninh quốc phòng
43
1.2.5.5.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ
nhằm thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế
45

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH
VỰC ĐẢM BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
47

2.2.2.
Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
60
2.2.1.1.
Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ của các cơ quan nhà nước,
các tổ chức
60
2.2.2.2.
Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường bộ của người tham gia giao thông
67
2.3.
Nhận xét, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh
vực đảm bảo trật an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên
71
2.3.1.
Ưu điểm
71
2.3.2.
Những tồn tại, yếu kém
73

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẢM
BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
76

3.2.1.3.
Tích cực đẩy mạnh phối hợp liên ngành và huy động cộng đồng
trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
82
3.2.2.
Nhóm giải pháp về pháp luật, chính sách
83
3.2.2.1.
Tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn
bản pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
83
3.2.2.2.
Hoàn thiện các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm giao
thông đường bộ bằng việc quy định các chế tài phải đủ độ
răn đe
85
3.2.2.3.
Hoàn thiện chế độ, chính sách đặc thù đối với cán bộ làm
công tác chuyên trách, trực tiếp, kiêm nhiệm và những người
không hưởng lương từ ngân sách nhà nước tham gia công
tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông
86
3.2.3.
Nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông
đường bộ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
87
3.2.3.1.
Tăng cường và đổi mới nội dung công tác tuyên truyền, phổ
biến, giải thích pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ


KẾT LUẬN
101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
103

PHỤ LỤC
108
danh s¸ch c¸c tõ viÕt t¾t

ATGT
: An toàn giao thông
ATGTĐB
: An toàn giao thông đường bộ
GTĐB
: Giao thông đường bộ
GTVT
: Giao thông vận tải
TNGT
: Tai nạn giao thông
TNGTĐB
: Tai nạn giao thông đường bộ
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
2
nhiệm tham gia đảm bảo trật tự ATGT. Chỉ có như vậy thì các quy định của
pháp luật về đảm bảo trật tự ATGT mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực.
Hòa nhịp với tiến trình đổi mới của đất nước, cũng như các tỉnh, thành
phố khác trong cả nước, tỉnh Thái Nguyên đã ra sức phấn đấu và đạt được
những thành tựu trên các mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện
pháp luật nói chung và trong lĩnh vực đảm bảo trật tự ATGTĐB nói riêng vẫn
còn những khiếm khuyết và yếu kém, dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực giao thông xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp; những biểu hiện
tiêu cực, ý thức tham gia giao thông của đại bộ phận người dân vẫn còn chưa tốt
nên có ảnh hưởng đến yêu cầu ổn định, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
Thái Nguyên là tỉnh có đầu mối giao thông liên tỉnh quan trọng, thuận
tiện nối liền giữa thủ đô Hà Nội với một số tỉnh phía Bắc như Bắc Kạn, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang Dân số nông thôn chiếm 72%,
là nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và
cũng là nơi có nhiều khoáng sản: Sắt, than, vàng, thiếc, chì, đá vôi, cát Vì thế,
mỗi năm Thái Nguyên thu hút khoảng trên 100 nghìn thanh niên ở hầu hết các
tỉnh phía bắc về học tập, khai thác khoáng sản. Điều kiện cơ sở vật chất còn
nghèo, dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, điều kiện văn hóa, văn nghệ còn
khó khăn, thiếu thốn Những điều kiện trên cũng là nguyên nhân dẫn đến tình
trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) ở Thái
Nguyên. Những năm qua, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều biện
pháp tích cực nhằm ngăn chăn những vi phạm xảy ra nhưng tình trạng vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực GTĐB xảy ra rất nhiều và nghiêm trọng gây ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Với những lý do trên, việc
nghiên cứu đề tài: "Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn
giao thông đường bộ (qua thực tế tỉnh Thái Nguyên" là vấn đề cần thiết, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài


Chính (đồng chủ biên): Trật tự an toàn giao thông đường bộ - Thực trạng và
giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Sách đã phân tích khái niệm
trật tự ATGTĐB, thực trạng và giải pháp bảo đảm thực trạng ATGTĐB. Khái
niệm trật tự ATGTĐB mà các tác giả cuốn sách đưa ra có giá trị tham khảo đối
với việc thực hiện đề tài luận văn.
- Một số bài viết của các nhà khoa học đăng trên các tạp chí có liên
quan đến đề tài, chủ yếu là trên Tạp chí Giao thông vận tải (GTVT), Tạp chí
Quản lý nhà nước, nghiên cứu quản lý nhà nước lĩnh vực GTVT, giao thông đô thị
dưới góc độ của ngành luật hành chính, đáng chú ý là các công trình sau:
+ Nguyễn Thủy Anh: "Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông công
cộng trong đô thị lớn ở nước ta", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5/2003.
+ Hoàng Đình Ban: "Luật Giao thông đường bộ sau hai năm nhìn lại",
Tạp chí GTVT, số 3/2004.
+ Lê Ngọc Tiến: "Giáo dục pháp luật - biện pháp quan trọng trong
giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ", Tạp chí GTVT, số 7/2004.
+ Hoàng Thị Kim Quế: "Văn hóa pháp luật giao thông, những giá trị
chân - thiện - mỹ - ích", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2010.
Từ nội dung của các công trình khoa học trên cho thấy đề tài luận văn
không trùng lặp, là đề tài mới thuộc chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước
và pháp luật. Các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào các vấn
đề về quản lí nhà nước về GTĐB và pháp chế trong lĩnh vực giao thông. Đến
nay, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật trong lĩnh
vực đảm bảo trật tự ATGTĐB. Vì vậy, luận văn là công trình đầu tiên thực hiện
đề tài này trong phạm vi địa phương tỉnh Thái Nguyên. Tuy vậy, các công trình
nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo trong việc
thực hiện đề tài này.

5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ việc thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự ATGTĐB của các cơ quan nhà nước
các tổ chức và việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
ATGTĐB của người tham gia giao thông trong phạm vi tỉnh Thái Nguyên.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối, chủ trương của
Đảng về thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)
gắn với việc quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam. Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các nội dung về
thực hiện pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện
chứng của triết học Mác - Lênin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử,
cụ thể. Ngoài ra, luận văn còn kết hợp các phương pháp như: lôgíc, phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu vấn đề thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự ATGTĐB ở một địa phương cụ thể. Vì
vậy, có thể coi những vấn đề sau đây là những đóng góp mới về khoa học của
luận văn:
- Xây dựng khái niệm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
ATGTĐB.

7
- Khái quát được những đặc thù của việc thực hiện pháp luật trong lĩnh
vực đảm bảo trật tự ATGTĐB.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự
ATGTĐB trên các mặt tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước và ý thức của

Nhưng quản lý nhà nước chỉ được đánh giá là có hiệu quả khi pháp luật ban
hành ra phải đi vào cuộc sống, hay nói cách khác pháp luật phải được thực hiện
trong thực tế. Trong thực tế cuộc sống hiện đại, thực hiện pháp luật là hoạt
động không thể thiếu và thậm chí là hoạt động cực kì quan trọng vì nó có vai
trò hiện thực hóa các quy định của pháp luật biến các quy định ấy từ văn bản
thành các xử sự thực tế hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào những quan
hệ pháp luật cụ thể. Thông qua hoạt động thực hiện pháp luật mục đích của nhà
nước khi ban hành pháp luật được hiện thực hóa, nhờ đó nhà nước có thể điều
hành và quản lí xã hội, có thể thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội trong những lĩnh
vực nhất định. Do tầm quan trọng như vậy mà thực hiện pháp luật trở thành
một trong những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lí, được đề cập đến trong
các giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo
luật học
Thực hiện pháp luật là hoạt động tiếp nối sau khi văn bản pháp luật
được ban hành nhằm làm cho các qui định của pháp luật đi vào cuộc sống và
trở thành quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật. Để hiểu rõ hơn, sâu hơn và
chính xác hơn khái niệm thực hiện pháp luật, trước hết chúng ta tìm hiểu một
số quan điểm khác nhau về thực hiện pháp luật.
Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học luật
Hà Nội: "Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các

9
quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành
vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [36, tr. 468].
Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có
mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành
những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [22, tr. 494].
Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Viện Nhà
nước và Pháp luật - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: "Thực hiện

tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của thực hiện pháp luật
Qua định nghĩa trên ta thấy hoạt động thực hiện pháp luật mang những
đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Tất cả các nhà nước để quản lí được xã hội
đều phải ban hành pháp luật và mong muốn nó điều chỉnh được các quan hệ trong
xã hội, điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm do nhà nước ban hành được
các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác đầy đủ. Do vậy,
đối với các nhà nước vấn đề quan trọng không chỉ là ban hành pháp luật mà
còn phải tổ chức thật tốt để chúng được thực hiện trong thực tế.
- Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp
luật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiện pháp
luật phải thể hiện ở hành vi pháp luật của con người. Hành vi đó có thể là hành
động hoặc không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật. Hành vi
thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp nên không trái pháp luật, không vượt quá
phạm vi quy định của pháp luật, vì vậy hành vi trái pháp luật không thể được coi
là thực hiện pháp luật. Từ "thực hiện" theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì có thể
được hiểu theo nghĩa là "Làm cho thành ra sự thực" [37], hoặc "bằng hoạt động
làm cho trở thành sự thật" [47, tr. 973]. Như vậy theo cách hiểu này thì "thực hiện

11
pháp luật là làm cho pháp luật trở thành sự thực hay làm cho các quy định của
pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống" [21, tr. 14].
- Thực hiện pháp luật là một giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan
trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Thực hiện pháp luật một mặt nhằm đạt
được những mục đích của xã hội mặt khác còn cho phép làm rõ những hạn chế,
bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp
hữu hiệu cho việc sửa đổi bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và
cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống

này. Ví dụ: Công dân chấp hành tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc với hành động
dũng cảm và tinh thần hy sinh quên mình.
Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi
mà pháp luật cho phép). Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật và
thi hành pháp luật ở chỗ chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền
được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, mà không bị bắt buộc phải thực
hiện. Ví dụ: Pháp luật qui định công dân có quyền kết hôn. Trên thực tế, công
dân có thể kết hôn (hoặc không kết hôn). Như vậy công dân đó đã sử dụng
(hoặc không sử dụng) pháp luật (quyền được kết hôn).
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, luôn
gắn với công quyền, vì nó chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước hoặc
nhà chức trách có thẩm quyền. Bằng hoạt động này, các cơ quan nhà nước hoặc
nhà chức trách đã cá biệt hóa các qui định của pháp luật vào các trường hợp cụ
thể đối với các đối tượng cụ thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan
hệ pháp luật. Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình qui định: việc kết hôn phải
được đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Như vậy khi Ủy ban nhân dân cấp
giấy đăng ký kết hôn cho công dân, tức là Ủy ban nhân dân đã thay mặt nhà
nước áp dụng các qui định của Luật Hôn nhân và gia đình vào một trường hợp
cụ thể. Bằng hoạt động này, đã làm phát sinh quan hệ pháp luật về hôn nhân và
gia đình cho đối tượng xin đăng ký kết hôn.

13
Như vậy, thực hiện pháp luật được thực hiện thông qua bốn hình thức:
tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Trong đó, hình thức áp dụng pháp luật có sự khác biệt với các hình thức tuân
thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Sự khác biệt này thể
hiện ở chỗ, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật
là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì
áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của nhà nước (thông

pháp luật. "Khi giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có
một khoảng cách lớn, tức là pháp luật được ban hành với khối lượng lớn mà ít
đi vào cuộc sống, thì sẽ dẫn đến tình trạng pháp luật bị coi thường, không hiệu
quả" [45, tr. 226]. Vì vậy, thực hiện pháp luật có vai trò to lớn trong việc đưa
pháp luật của nhà nước đi vào đời sống thực tiễn, biến chung thành những hành
vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Để quản lý xã hội bằng pháp luật, nhà nước phải có phương thức thực
hiện tốt các hoạt động liên quan đến pháp luật, từ khâu xây dựng pháp luật, phổ
biến, giáo dục pháp luật đến tổ chức thực hiện pháp luật và kiểm tra, xử lý
những hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ pháp luật. Đồng thời, muốn
pháp luật phát huy tối đa hiệu lực, hiệu quả trong quá trình điều chỉnh các quan
hệ xã hội, thì nhà nước, ngoài việc tạo lập môi trường chính trị - xã hội ổn định,
nâng cao trình độ pháp lý cho cán bộ và nhân dân, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đòi hỏi phải xác lập cơ chế thực hiện pháp luật một cách có
hiệu quả.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, thực hiện pháp luật có vị trí và tầm
quan trọng đặc biệt trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật. Thực hiện pháp
luật là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, biến những qui phạm pháp luật
thành những hành vi, xử sự thực tế, hợp pháp của cá nhân, tập thể trong thực
tiễn xã hội. Nếu không tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật thì ý chí của nhà
nước sẽ không thể đi vào đời sống thực tiễn, pháp luật sẽ không phát huy được
hiệu lực, sẽ không đạt hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

15
Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật không chỉ thể hiện trong toàn bộ
các hoạt động về pháp luật (xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật bảo vệ
pháp luật) mà nó còn là "một mặt quan trọng của nền pháp chế" [33, tr. 225].
Kết quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật là một trong những tiêu chuẩn để
xác định tính chất của nền pháp chế XHCN. Bởi vì pháp chế là một phạm trù
thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải tôn

1.1.5. Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật
Trên thực tế không phải lúc nào và ở đâu việc thực hiện pháp luật đều
đúng với yêu cầu và đòi hỏi đó. Về mặt thực tiễn khi đánh giá thực trạng thực
hiện pháp luật chúng ta cần tìm hiểu các nguyên nhân vì sao pháp luật không
được thực hiện nghiêm minh, thống nhất, song về mặt lý luận cần đi sâu nghiên
cứu có những yếu tố nào tạo ra khả năng bảo đảm thực hiện pháp luật trong
thực tiễn, bảo đảm cho pháp luật đi vào cuộc sống.
* Chất lượng của văn bản pháp luật, hệ thống pháp luật
Muốn cho pháp luật được thực hiện trong thực tiễn, trước hết, bản thân
văn bản pháp luật nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung phải có chất lượng
cao. Đánh giá chất lượng của hệ thống pháp luật, văn bản pháp luật lâu nay
thường được đề cập đến các tiêu chí sau đây:
- Tính đồng bộ, thống nhất: đồng bộ, thống nhất trong nội dung của văn
bản pháp luật không trái với Hiến pháp, nội dung các văn bản pháp luật không
chồng chéo, mâu thuẫn.
- Phù hợp giữa nội dung và hình thức văn bản.
- Phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi.
- Bảo đảm ổn định tương đối.
- Chất lượng kỹ thuật lập pháp: sử dụng ngôn ngữ diễn đạt.

17
Theo chúng tôi, những tiêu chí nêu trên mới chỉ nhấn mạnh đến mặt
"hình thức" (theo nghĩa rộng) của văn bản pháp luật, chưa đi sâu vào nội dung
của văn bản pháp luật. Có thể bảo đảm cho nội dung văn bản pháp luật không
trái với Hiến pháp, không mâu thuẫn với các quy định hiện hành, khả thi nhưng
không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước có hiệu quả, không hợp lòng
dân. Vì thế, những văn bản, những Quyết định nêu trên bị dân phản ứng gay
gắt, khiếu kiện kéo dài, thậm chí phát triển thành điểm nóng phức tạp. Như vậy,
chất lượng văn bản pháp luật còn cần được xem xét theo tiêu chí nội dung của
nó có thể hiện lợi ích của đất nước; lợi ích chung, ý chí chung của nhân dân hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status