ự\
PM
ứ? Ç c *f
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUÂT
•
PHAN THỊ LAN PHƯƠNG
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG
LĨNH v ư c T R Â T T ư A N TO À N G IA O TH Ô N G ĐƯỜNG B Ô
• • • >
! (QU A THỤC TIỄN TẠ I TỈNH THANH HÓA)
Chuyên ngành : LÝ LUẬN VÀ LỊCH sử NHÀ Nước VÀ PHÁP LUẬT
M ã số : 60 38 01
LUẬN VẢN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị K im Quế
ĐẠI HOC QUỐC GIA HA NỌ'
TRUNG TÂM THÒNG TIN ĨHƯ VIỆN
v - l ồ lA S ầ ù
HÀ NỘI - 2007
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.
Trách nhiệm pháp lý
TNPL
Trách nhiệm Hình sự:
TNHS
Trách nhiệm Dân sự: TNDS
Trách nhiệm Hành chính TNHC
Trách nhiệm Kỷ luật
TNKL
Trật tự an toàn giao thông đường bộ
TTATGTĐB
Trách nhiệm đạo đức
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Kết cấu của Luận văn.
PHẨN, NỘI DUNG
Chương 1: NHŨNG VAN ĐẾ LÝ LUẬN cơ BẢN VỂ TRÁCH NHIỆM
PHÁP LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG LĨNH v ự c TRẬT T ự AN
TOÀN GIAO THÔNG ĐUỒNG BỘ.
1.1. Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
đường bộ.
1.1.1. Khái niệm trật tự an toàn giao thông đường bộ.
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm pháp lý.
1.1.3. Khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực trật tự an toàn
giao thông đường bộ.
1.1.4. Các dấu hiệu đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh
vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.
1.1.5. Cơ sở trách nhiệm pháp lý, các hình thức trách nhiệm pháp lý
trong trật tự an toàn giao thông đường bộ.
1.1.6. Các dạng trách nhiệm pháp lý cụ thể trong lĩnh vực trật tự an
toàn giao thông đường bộ.
1.1.6.1. Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
đường bộ. 21
1.1.6.2. Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao
thông đường bộ. 29
1.1.6.3. Trách nhiệm Dân sự trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
đường bô. 40
1.1.6.4. Trách nhiệm kỷ luật trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
đường bộ. 44
1.1.7. Mối quan hệ giữa các hình htức trách nhiệm pháp lý trong
lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ. 45
1.2. Trách nhiệm đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
đường bộ. 47
THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO ĐẠO ĐÚC
TRONG LĨNH vự c TRẬT Tự AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐUỒNGBỘ. 91
3.1. Tính đồng bộ của các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
nâng cao dạo đức trong nính vực trật tự an toàn giao thông
đường bộ. 91
3.2. Các giảỉ pháp cụ thể nhầm hoàn thiện hệ thống pháp luật và
nâng cao đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
đường bộ. 93
3.2.1. Đổi mới hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về trật tự an
toàn giao thông đường bộ. 93
3.2.2. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về
trật tự an toàn giao thông đường bộ. 96
PHẦN M Ở ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hệ thống giao thông vận tải nước ta bao gồm đường bộ, đường sắt, đường
thuỷ, đường không, trong đó giao thông đường bộ là loại hình giao thông giữ
vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng
và an ninh quốc gia, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, đẩy mạnh giao lưu,
hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới ; An toàn giao thông là
một phần quan trọng không thể thiếu ừong đời sống hiện nay vì bên cạnh
những nhu cầu như: ăn, mặc, ở con người còn có nhu cầu đi lại; việc đi lại
đó cần đảm bảo về sự thuận tiện và an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao
thông; người dân Việt Nam hiện nay nhu cầu đi lại không còn là sự bó hẹp
như trước đây mà bây giờ mở ra rộng ra; Đáp ứng yêu cầu đó Hiến pháp của
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định về việc tự do đi lại của
công dân Việt Nam cụ thể tại điều 68: "Công dân có quyền tự do đi lại và cư
trú ỏ trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy
định của pháp luật
Việt Nam nói riêng, các nước đang phát triển, thậm chí ở cả những nước
kinh doanh thương mại hiện nay ngày càng được rộng mở vì vậy vấn đề an
toàn giao thông không còn là của riêng quốc gia nào mà trở thành vấn đề
chung của toàn thế giới Liên Hiệp Quốc đã đứng ra kêu gọi cả thế giới cần
có những biện pháp để kiềm chế tình trạng vi phạm TTAGTĐB, TNGT; cụ thể
là hành động hưởng ứng “Tuần lễ an toàn giao thông toàn cầu” do Liên
Hiệp quốc đứng ra khởi xướng từ ngày 23 đến 29 tháng 4 năm 2007. Còn đối
với Việt Nam không chỉ nhiệt liệt hưởng ứng ‘Tuần lễ an toàn giao thông toàn
cầu” chúng ta đã có nhiều hành động rất thiết thực của riêng mình như:
‘'Tháng an toàn giao thông quốc gia ; quan trọng nhất là ngày 29 tháng 06
2
năm 2001 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật giao thông đường bộ. Luật này
quy định quy tắc giao thông đường bộ, các điều kiện bảo đảm an toàn giao
thông đường bộ của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia giao thông
đường bộ, hoạt động vận tải đường bộ, trước đây chúng ta mới chỉ sử dụng
những văn bản dưới luật để điều chỉnh lĩnh vực này cho nên hiệu lực không
cao. Cùng với Luật giao thông đường bộ nhà nước cũng ban hành một loạt các
văn bản pháp luật quy định trách nhiệm hình sự (TNHS), trách nhiệm dân sự
(TNDS), trách nhiệm hành chính (TNHC) trong lĩnh vực bảo đảm
TTATGTĐB như: Căn cứ vào yêu cầu thực tế, căn cứ vào quy định của Hiến
pháp Việt Nam năm 1992 quy định tại Điều 78: “Công dân có nghĩa vụ tôn
trọng và bảo vệ tài sản của nhà nước và lợi ích công cộng Tại Điều 79 quy
định: “Công dân cố nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội chấp hành những quy tắc sinh
hoạt công cộng”. Vì vậy mà chương XIX của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy
định vể các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; Nghị định số
15/2003/NĐ- CP ngày 19-02- 2003 của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính về giao thông đường bộ; Nghị định số 92/2003/ NĐ-CP
ngày 13/8 năm 2003 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 41 Nghị
định 15/2003; và hiện nay thì Nghị định 152/ 2005/ NĐ- CP ngày 15 tháng 12
năm 2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Năm 2003 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn Trật tự an toàn
giao thông đường bộ thực trạng và giải pháp do Tiến sỹ Trần Văn Luyện chủ
biên.
Tìm hiểu các tội xâm phạm lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
trong Bô Luật hình sự năm 1999 của Nhà xuất bản giao thông vận tải xuất bản
năm 2003; Ngoài ra trên một số báo và tạp chí có đề cập đến nhưng mới chỉ
4
tiếp cận ở mức độ phản ánh hiện tượng mang tính chất tiêu cực về
TTATGTĐB như: Báo Pháp luật, Báo Lao động
3. Mục đích của đề tài.
Từ kết quả nghiên cứu được nêu trong bản luận văn sẽ góp phần hoàn thiện
cơ chế trách nhiệm pháp lý (TNPL) trong việc giữ gìn và bảo đảm
TTATGTĐB, từng bước nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao phẩm chất đạo
đức TTATGTĐB trong nhân dân cũng như cán bộ công chức có thẩm quyền
trong lĩnh vực TTATGTĐB, thông qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về lĩnh vực bảo đảm TTATGTĐB ở nước ta.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong luận văn đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học cụ
thể, phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp
phân tích thuần tuý quy phạm, phương pháp so sánh pháp luật.
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiộm pháp lý và đạo đức
trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực giữ gìn trật tự an
toàn giao thông đường bộ hiện nay (qua thực tiễn của tỉnh Thanh Hóa).
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực
trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Ở đây đã tách rời an toàn giao thông đường bộ ra khỏi an toàn giao thông
đô thị nhưng trên thực tế thì việc nói tới TTATGTĐ đã bao gồm cả giao thông
đô thị cho nên đây không phải là quan niệm chuẩn xác và khoa học, không
những thế khi nói tới TTATGTĐB nói chung vẫn là quan niệm chưa thực sự
đầy đủ vì làm cho người ta hiểu chỉ nói tới yếu tố quản lý của nhà nước mà cụ
thể là do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ của
mình để thực hiện hoạt động quản lý trong khi Luật giao thông đường bộ quy
định quản lý nhà nước về giao thông đường bộ mới chỉ là một bộ phận trong
TTATGTĐB.
Quan điểm 2.TTATGTĐB được hiểu là là sự đảm bảo cho mọi hoạt động
giao thông được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan
môi trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm luật giao thông và các quy phạm
pháp luật về trật tự an toàn giao thông, hạn chế ùn tắc giao thông, kiềm chế tai
nạn giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra [52, tr.15].
Với quan niệm này đã chỉ ra được tính khái quát khi nói tới TTATGTĐ,
nhưng cách dùng thuật ngữ mang tính chất pháp lý ở đây còn còn chưa thực sự
chuẩn xác, chủ yếu mang tính chất liệt kê.
Quan điểm 3 : TTATGTĐB là hộ thống các mối quan hệ xã hội được hình
thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận
tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân thủ để đảm bảo
hoạt động giao thông thông suốt, trật tự an toàn, hạn chế thấp nhất tai nạn giao
thông, gây thiệt hại về người và tài sản. [52, tr.17].
Trong các cách hiểu đã được nêu trên thi quan điểm của luận văn theo cách
hiểu thứ ba vì đây là cách hiểu mang tính chất khái quát, đầy đủ và rõ ràng
nhất (ngay cả từ cách sử dụng thuật ngữ pháp lý) từ quan niệm này đã cho ta
thấy được khi đề cập đến vấn đề TTATGTĐB bao gồm một số vấn đề như
sau:
7
+ Là hoạt động giao thông được điều chỉnh bằng một hệ thống các quy
phạm pháp luật, bắt buộc mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuân theo một
tài Pháp lý tương ứng đối với người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện
VPPL đó, còn người bị xử lý phải chịu sự tác động về mặt pháp lý theo một
trình tự riêng do luật định (Đây được coi là cách hiểu theo quan điểm truyền
thống, có tính chất phổ biến nên được thừa nhận rộng rãi trong các nhà luật
học nói chung [42, tr.550]. Trong đề tài khái niệm trách nhiệm Pháp lý được
hiểu theo nghĩa này; Trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm như sau:
Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm pháp lý là hậu quả Pháp lý của hành vi
VPPL, TNPL chỉ phát sinh khi có sự việc VPPL; trong thực tế khách quan nếu
không có việc thực hiộn hành vi VPPL - hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp
luật cấm thì không xuất hiện vấn đề TNPL vì vậy mà TNPL là dạng trách
nhiệm nghiêm khắc hơn cả so với các dạng trách nhiệm khác vì các dạng trách
nhiệm phi pháp lý này không đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với
chủ thể của hành vi VPPL.
Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi
ích được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được
quy định trong ngành luật ấy, do người cố nãng lực trách nhiệm pháp lý và đủ
tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi. [42, tr.537].
Các yếu tố cấu thành nên VPPL gồm có: Mặt khách quan, Khách thể, Mặt
chủ quan, chủ thể:
- Khách thể của VPPL là quan hệ xã hội được Pháp luật bảo vệ tránh khỏi
sự xâm hại của sự VPPL, nhưng bị hành vi VPPL xâm hại đến và gây nên
(hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định.
- Chủ thể của VPPL là thể nhân (con người cụ thể có năng lực TNPL và đủ
tuổi chịu TNPL) hoặc Pháp nhân đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi VPPL
bị cấm.
9
- Mặt khách quan của VPPL là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm
đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng Pháp luật, tức là sự thể
hiện cách xử sự có tính chất VPPL trong thực tế khách quan [42, tr.545].
+ Mặt khách quan của VPPL là hành vi do con người thực hiện dưới dạng
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của
mình gây ra, nhưng để mặc cho nó xảy ra.
Lỗi vô ý do quá tự tin : chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả nguy hiểm
cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó
không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lồi vô ý do cẩu thả: chủ thể vi phạm đã không nhận trước được hậu quả
nguy hiểm cho xã hội đo hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể hoặc phải
cần nhận thấy trước hậu quả đó [53, tr.502]
- Động cơ vi phạm, động cơ vi phạm được hiểu là cái( động lực) thúc đẩy
chủ thể thực hiộn hành vi VPPL (có thể là vụ lợi, trả thù, đê hèn);
- Mục đích vi phạm, mục đích vi phạm là kết quả cuối cùng mà trong suy
nghĩ của mình chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi VPPL, thể
hiện tính chất nguy hiểm của hành vi [53, tr.502]
Có thể nói rằng mặt khách quan, mặt khách thể, mặt chủ quan, mặt chủ thể
là bốn yếu tố cấu thành nên nên VPPL chính là căn cứ để truy cứu TNPL; Như
vậy có nghĩa là chỉ áp dụng đối với các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện
tức là áp đụng với các chủ thể có lý trí và tự do ý chí, nhận thức được hành vi
của mình, có khả năng và điểu kiện tự lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp
với những cách cư xử mà pháp luật quy định nhưng họ lại vẫn làm sai với điều
đó. Hay chủ thể chịu TNPL chỉ có thể là những cá nhân hoặc tổ chức, có lỗi
trong việc vi phạm các yêu cầu của luật pháp.
11
Đặc điểm thứ hai: TNPL luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ
pháp luật giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ
nhất định -một bên là nhà nước, còn bên kia là người đã thực hiện hành vi
VPPL, tức là Nhà nước (đại diện cơ quan có thẩm quyền) có quyền xử lý
người đã thực hiện hành vi VPPL nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa
trên các cản cứ và trong các giới hạn do Pháp luật quy định, còn người đã thực
hiện hành vi VPPL thì có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền,
tự do nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyển yêu cầu sự tuân thủ từ phía
người đã có lỗi trong việc VPPL hành chính một hoặc nhiều biện pháp cưỡng
chế (chế tài) của Nhà nước do pháp luật hành chính quy định [42, tr.553];
TNPL hành chính chủ yếu được cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với các
cá nhân hoặc tổ chức thực hiên VPPL hành chính. Chế tài gồm có phạt tiền,
cảnh cáo và so với Chế tài hình sự thì ít nghiêm khắc hơn.
+ Trách nhiệm Dân sự là hậu quả của hành vi VPPL dân sự và được thể
ĩ < • 1 • *
hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có
lỗi trong việc VPPL dân sự một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước do Pháp luật dân sự quy định (chủ yếu mang tính chất là BTTH) [42,
tr.553]
+ Trách nhiệm kỷ luật (TNKL) do thủ trưởng cơ quan, giám đốc xí nghiệp
áp dụng đối với cán bộ, nhân viên, người lao động nói chung khi họ vi phạm
kỷ luật lao động, kỷ luật nhà nước [51,tr.514]; Chế tài TNKL thường là khiển
trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc, chấm dứt hợp đồng
lao động trước thời hạn)
+ Trách nhiệm vật chất (TNVC) là loại TNPL do các cơ quan, xí
nghiệp áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân của cơ quan, xí nghiệp
trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan xí nghiộp [53, tr.514]
13
- Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế được
quy định trong chế tài các quy phạm luật (mang tính chất trừng phạt hoặc khôi
phục pháp luật), hay TNPL là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với chủ
thể VPPL [42,tr.504], tức là khi VPPL xảy ra thì lúc đó giữa chủ thể vi phạm
và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xuất hiện một loạt các quan hệ trong
đó cơ quan nhà nước xác định biện pháp cưỡng chế và áp dụng các biộn pháp
đó; nhưng không phải biện pháp tác động nào có tính chất cưỡng chế trong
trường hợp này đều là biện pháp TNPL; những biện pháp có tính chất trừng
phạt tước đọat, làm thiệt hại ở một phạm vi nào đó các quyền, tự do, lợi ích
hợp pháp mà chủ thể VPPL đáng được hưởng (phạt tiền, phạt tù), các biện
điều kiện an toàn của phương tiện tham gia giao thông. ”
Tại điểm c, k2, Điều 36 quy định những người có mặt tại hiện trường nơi
xảy ra tai nạn giao thông.
phải báo tin ngay cho cơ quan Công an hoặc ủy ban nhân dân nơi gần
nhất
Đối với những chủ thể khi tham gia giao thông được quyền bảo đảm cho
việc tham gia giao thông của mình được thuận lợi và an toàn, không bị xâm
hại lợi ích hợp pháp bằng các quy định pháp luật trong lĩnh vực TTATGTĐB;
Sự đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản khi tham gia giao thông, các cá
nhân, tổ chức trong và ngoài nước được nhà nước khuyến khích tạo điều kiện
để có thể ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực TTATGTĐB;
Ngoài ra chủ thể khi tham gia giao thông phải tuân thủ tuyệt đối các quy định
pháp luật trong lĩnh vực TTATGTĐB như: Tuân thủ tuyệt đối các quy tắc giao
thông đường bộ, tuyên truyền, giáo dục pháp luật giao thông đường bộ cho
15
người thân của mình, nếu gây TNGT thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của
mình.
Đối với nhà nước, trách nhiệm trong lĩnh vực TTATGTĐB là trách nhiệm
thực hiện đúng việc quản lý nhà nước về giao thông đường bộ, tức là phải ban
hành các quy phạm pháp luật về TTATGTĐB; tuyên truyền phổ biến giáo dục
pháp luật vẻ TTATGTĐB, quản lý quy tắc giao thống đường bộ, quản lý kết
cấu hạ tầng giao thông, phương tiện tham gia giao thông.
Theo quy định của Pháp luật hiện hành vé bảo đảm TTATGTĐB, trách
nhiệm trong lĩnh vực TTATGTĐB được chia thành các nhóm quyền và nghĩa
vụ cụ thể:
Thứ nhất: quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc đầu tư nghiên
cứu khoa học, ứng dụng công nghộ vào lĩnh vực giao thông đường bộ quy định
tại Điều 5 của Luật giao thông đường bộ năm 2001 “Nhà nước khuyến khích
và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân
nước ngoài đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ tiền tiến vào lĩnh vực giao
(người có chức vụ) có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có lỗi trong việc
vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ một hoặc nhiều biện
pháp cưỡng chế của Nhà nước do pháp luật về trật tự an toàn giao thông
đường bộ quy định.
1.1.4. Các dấu hiệu đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong tĩnh vực
trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực TTATGTĐB là một loại TNPL nói
chung vì vậy nó mang những đặc trưng chung của TNPL, ngoài ra nó còn
mang những đặc trưng cụ thể:
Đặc trưng thứ nhất: Đặc trưng về khách thể của sự VPPL về TTATGTĐB
là các quan hệ cụ thể, mang tính chất chuyên ngàpbạỊụK pcouoc G!A HA nọĨ~
TRUNG TÂM THÒNG TIN THU VIỀN
17 \A Ị o Ị Ắ
+ Các quan hộ phát sinh liên quan đến Đường bộ bao gồm: đường, cầu
đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ, công trình đường bộ (nơi dừng
xe, nơi đỗ xe, hệ thống thoát nước, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, dải
phân cách và công trình thiết bị phụ trợ),
+ Các quan hệ phát sinh liên quan đến hành lang an toàn đường bộ ;
Tương ứng với mỗi yếu tố cấu thành nên TTATGTĐB đều có những quy định
pháp lý riêng về quyền và nghĩa vụ mà chủ thể phải thực hiện khi tham gia
giao thông đường bộ, nhưng chúng lại không thể tách rời được một cách riêng
lẻ để bảo vệ và không chỉ phải tuân thủ một quy định về trật tự an toàn giao
thông như đường hoặc là cầu đường mà phải tuân thủ đồng thời tất cả các
quy định về TTATGTĐB, vì vậy phải tuân thủ một cách đồng thời tất cả các
quy định đó.
Đặc trưng thứ hai: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPPL về
TTATGTĐB và hậu quả mà nó gây ra chủ yếu là đã được tính toán theo công
thức chung về mức độ thiệt hại của hành vi VPPL vẻ TTATGTĐB, Ví dụ:
hành vi đào rãnh qua đường.
Bên cạnh đó cũng có những trường hợp mà việc xác định mối quan hệ nhân
gia giao thông, vi phạm những tiêu chuẩn đối với việc sử dụng các phương
tiện tham gia giao thông làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của
người khác.
+ Mặt chủ quan: Xác định lỗi mà chủ thể gây ra tức là phải xác định được
hình thức, tính chất lỗi hay xác định được biểu hiện nhận thức, ý chí, trạng
thái tâm lý của chủ thể có hành vi vi phạm .
+ Mặt chủ thể: Là các cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý.
+ Mặt khách thể: Là các quan hệ xã hội được hình thành trong việc giữ gìn
TTATGTĐB.
19
Đối tượng của khách thể chính là : đường, cầu đường bộ, bến phà
- Các cá nhân, tổ chức được coi là VPPL về TTATGTĐB khi các cá nhân,
tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ được
quy định theo pháp luật về TTATGTĐB.
Quyền và nghĩa vụ của cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật hiện
hành được chia thành các nhóm như sau:
Nhómỉ: Không tuân thủ các quy tắc tham gia giao thông đường bộ quy
định từ Điều 9 đến Điều 36 của Luật giao thông đường bộ năm 2001.
Nhóm 2: Vi phạm các quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
quy định từ Điều 37 đến Điều 47 của Luật giao thông đường bộ năm 2001 .
Nhóm3: Vi phạm về các quy định về phương tiện tham gia giao thông
đường bộ từ Điều 48 đến Điều 52 của Luật giao thông đường bộ năm 2001 .
Nhóm 4: Vi phạm các quy định về người điều khiển phương tiện tham gia
giao thông đường bộ từ Điều 53 đến Điều 58 của Luật giao thông đường bộ
nãm 2001.
Nhóm 5: Vi phạm các quy định về vận tải đường bộ từ Điều 59 đến Điều
67 của Luật giao thông đường bộ năm 2001.
Nhóm 6: Vi phạm các quy định vé quản lý nhà nước về giao thông đường
bộ từ Điều 68 đến Điều73 của Luật giao thông đường bộ năm 2001.
Như vậy các cá nhân, tổ chức bị truy cứu TNPL trong lĩnh vực