Ý thức pháp luật của người chưa thành niên qua thực tiễn quận Hoàng Mai, Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC VIỆT
ý THøC PH¸P LUËT CñA NG¦êI CH¦A THµNH NI£N
QUA THùC TIÔN QUËN HOµNG MAI, Hµ NéI Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ ĐỨC MINH

HÀ NỘI - 2014
1.1.2. Các đặc điểm của ý thức pháp luật 8
1.1.3. Chức năng của ý thức pháp luật 15
1.1.4. Cơ cấu của ý thức pháp luật 17
1.1.5. Phân loại ý thức pháp luật 19
1.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT 23
1.2.1. Vai trò của ý thức pháp luật đối với pháp luật 23
1.2.2. Sự tác động của pháp luật đối với ý thức pháp luật 29
1.3. Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 30
1.3.1. Ngƣời chƣa thành niên – Một nhóm chủ thể đặc thù của quan hệ
pháp luật 30
1.3.2. Đặc điểm ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên và những
yếu tố tác động đến ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên 31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 39

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƢỜI
CHƢA THÀNH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀNG
MAI, HÀ NỘI 40
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN HOÀNG MAI 40
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên 40
2.1.2. Tình hình kinh tế - văn hóa xã hội 41
2.1.3. Khái quát tình hình ngƣời chƣa thành niên trên địa bàn Quận 43
2.2. THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƢỜI CHƢA
THÀNH NIÊN 44
2.2.1. Mặt tích cực 44
2.2.2. Mặt hạn chế 49
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA MANG TÍNH KHÁCH QUAN
PHẢI NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƢỜI
CHƢA THÀNH NIÊN Ở QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI 69
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 72
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý

NDLĐ: Nhân dân lao động
NNPQ: Nhà nƣớc pháp quyền
QHXH: Quan hệ xã hội
QPPL: Quy phạm pháp luật
TAND: Tòa án nhân dân
TLPL: Tâm lý pháp luật
TTATXH: Trật tự an toàn xã hội
TTXH: Tồn tại xã hội
UBND: Uỷ ban nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VPPL: Vi phạm pháp luật
YTPL: Ý thức pháp luật
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Mức độ hiểu biết pháp luật của NCTN trên địa bàn Quận
49
Bảng 2.2:
Mức độ chấp hành pháp luật của NCTN trên địa bàn
Quận
51
Bảng 2.3:
Thống kê các vụ NCTN phạm tội qua các năm từ 2006
đến 2013

57
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, vấn đề thanh,
thiếu niên ( đặc biệt là thanh niên) luôn đƣợc tất cả các quốc gia, các thời đại
xác định là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Ở nƣớc ta, thanh, thiếu
niên là lực lƣợng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển
xã hội hiện tại và là ngƣời chủ tƣơng lai của đất nƣớc. Nghị quyết Hội nghị
lần thứ tƣ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VII khẳng định “Sự nghiệp
đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng
đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng
thanh niên, vào việc rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn
đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng” [10].
Hiện nay, đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
(NNPQ XHCN) và hội nhập quốc tế (HNQT). Do những biến đổi của tình hình
trong nƣớc với bối cảnh quốc tế biến động và phức tạp, đồng thời trƣớc những
thách thức to lớn của xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển của kinh tế tri thức có tác
động mạnh mẽ và làm thay đổi về cơ cấu xã hội, địa vị kinh tế, tƣ tƣởng chính
trị, tâm lý, lối sống của thanh thiếu niên v.v những thay đổi này diễn ra mạnh
mẽ, bên cạnh những yếu tố tích cực đan xen những hạn chế tiêu cực.
Công tác giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên nói chung (những người
trong độ tuổi từ 10 đến 24 tuổi), đặc biệt là ngƣời chƣa thành niên (những người
ở độ tuổi dưới 18 tuổi) hiện nay tuy đã đƣợc quan tâm nhƣng chƣa đảm bảo

luật, số 3, 1993; Đề tài “Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” Mã số

3
KX07- 17 do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên; Đề tài “Một số vấn đề về giáo
dục ý thức pháp luật trong giai đoạn hiện nay” của Vụ Giáo dục ý thức pháp
luật – Bộ Tƣ pháp, do Nguyễn Duy Lãm chủ biên; Một số công trình nghiên
cứu của Bộ Tƣ Pháp về ý thức pháp luật đối với đối tƣợng thanh thiếu niên ở
một số vùng, miền và Trung ƣơng Đoàn có phối hợp với Bộ Tƣ pháp tổ chức
một số hội thảo khoa học tìm hiểu về nhận thức pháp luật và một số giải pháp
giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên một số đối tƣợng đặc thù.
Các công trình nói trên đã đề cập đến những khía cạnh, những nội
dung cụ thể liên quan đến giáo dục ý thức pháp luật cho những đối tƣợng ở
những phạm vi và cách tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ
một số vấn đề cơ bản về ý thức pháp luật từ một địa bàn cụ thể, Luận văn
sẽ tập trung nghiên cứu ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên và các
giải pháp để nâng cao ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên ở quận
Hoàng Mai, Hà Nội. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã tham khảo và
kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu khoa học trên và các
tài liệu khác có liên quan.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận về ý thức pháp luật và ý thức
pháp luật của ngƣời chƣa thành niên, nghiên cứu thực trạng YTPL của ngƣời
chƣa thành niên trên địa bàn quận Hoàng Mai, luận văn đề xuất các giải
pháp góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho ngƣời chƣa thành niên trên địa
bàn Quận.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về ý thức pháp luật,
ngƣời chƣa thành niên và ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên.
- Trình bày, phân tích thực trạng YTPL và nguyên nhân thực trạng

độ, chính sách về thanh, thiếu niên.

5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ý thức pháp luật và ý thức pháp
luật của ngƣời chƣa thành niên.
Chương 2: Thực trạng ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên trên
địa bàn quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của
ngƣời chƣa thành niên ở quận Hoàng Mai, Hà Nội. 6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT
VÀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CƠ CẤU, CHỨC NĂNG VÀ PHÂN
LOẠI Ý THỨC PHÁP LUẬT
1.1.1. Khái niệm ý thức pháp luật
Với tƣ cách là một trong những hình thái của ý thức xã hội, ý thức pháp
luật là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa xã hội dƣới dạng
chung nhất, xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nƣớc và pháp luật, phản ánh
trực tiếp các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, pháp luật. Nếu một xã
hội mà ngƣời dân đƣợc giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao hiểu biết, nhận

vệ môi trƣờng vv đều thuộc phạm trù ý thức pháp luật.
Trƣớc kia, một nhà khoa học Xô Viết nổi tiếng đã từng nhận định “thái
độ chủ quan của con người đối với pháp luật hiện hành và mong muốn về
những quy định pháp luật mới, được gọi là ý thức pháp luật” [1, tr.91]. Khi
một văn bản pháp luật ra đời và đƣợc áp dụng vào thực tế cuộc sống, điều luật
đó có tính hợp pháp hay không hợp pháp trong các xử sự của con ngƣời. Nếu
điều luật đó đƣợc đa số nhân dân công nhận và nghiêm túc chấp hành thì điều
luật đó có tính đúng đắn. Phạm vi tác động của ý thức pháp luật rất rộng, không
có lĩnh vực hành vi pháp luật nào của con ngƣời lại không cần đến tƣ duy nhận
thức pháp luật - xã hội, nhƣ TS. Nguyễn Minh Đoan đã nhận xét [18, tr.22].
Ý thức pháp luật kiểu của giai cấp công nhân đƣợc chứa đựng trong các
tác phẩm của chủ nghĩa Mác và trong cƣơng lĩnh của các đảng công nhân.
Trong các yêu sách đấu tranh của giai cấp vô sản trong các tác phẩm của
mình, Mác và Ph. Ăng-ghen không những chỉ ra cho giai cấp vô sản những

8
yêu cầu pháp lý để đấu tranh nhằm xây dựng một xã hội mới, mà còn xây
dựng những khái niệm quan trọng nhất về pháp luật, tạo cơ sở cho sự phát
triển ý thức pháp luật mới sau này. Cùng với sự phát triển của hệ thống các
quan hệ xã hội mới và của pháp luật, ý thức pháp luật kiểu mới ngày càng
đƣợc phát triển và nâng cao.
Vấn đề ý thức pháp luật đƣợc nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau,
nhƣ triết học, luật học, tâm lý học, xã hội học. Tuy còn nhiều quan điểm khác
nhau, song có thể định nghĩa khái quát: ý thức pháp luật là tổng thể những
học thuyết, tƣ tƣởng, quan điểm, quan niệm pháp lý tồn tại trong xã hội, thể
hiện mối quan hệ của con ngƣời đối với pháp luật, đối với quá trình điều
chỉnh pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử
sự của cá nhân, cũng nhƣ trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nƣớc,
các tổ chức xã hội [19, tr.8].
1.1.2. Các đặc điểm của ý thức pháp luật

thấy điều đó là cần thiết, pháp luật thể hiện nhiều hơn các lợi ích của họ.
Nhƣng từ một phƣơng diện khác, do sự thôi thúc của đồng tiền, lợi nhuận
hoặc những lý do phi kinh tế khác, nhiều ngƣời không ngần ngại bất chấp
pháp luật hoặc có thái độ bất cần, coi thƣờng các quy định pháp luật. Đó là
những biểu hiện về sự quy định của tồn tại xã hội - tức là những điều kiện
kinh tế, văn hóa và cả các vấn đề pháp luật, nhà nƣớc đối với ý thức pháp luật.
Yêu cầu của một xã hội văn minh, hiện đại trên cơ sở phát huy, phát
triển những giá trị của văn hóa truyền thống, các văn bản luật phải đƣợc ban
hành đồng bộ và thực hiện thống nhất trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nƣớc ta
đang trong quá trình xây dựng nền KTTT định hƣớng XHCN, mọi công dân có
quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, khuyến khích làm giàu chính đáng… đã
có tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật của các cá nhân với những biểu hiện

10
nhƣ: quan tâm đến pháp luật nhiều hơn, tuân thủ pháp luật và luôn có mong
muốn về một nền pháp luật nhân văn, một nền tƣ pháp công bằng, mọi công
dân bình đẳng trƣớc pháp luật để hƣớng đến xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền
XHCN đòi hỏi ý thức thƣợng tôn Hiến pháp, pháp luật. Bên cạnh những mặt
tích cực, trong nền KTTT cũng có những hiện tƣợng tiêu cực trong lĩnh vực ý
thức pháp luật của một bộ phận dân cƣ nhƣ: coi thƣờng, bất chấp, lạng lách
pháp luật, vi phạm những chuẩn mực đạo đức để thu lợi nhuận tối đa…
Đặc điểm 2: Tính độc lập tương đối của ý thức pháp luật
Cũng nhƣ các hình thái ý thức xã hội khác, YTPL là sự phản ánh của
tồn tại xã hội nên nó chịu sự quy định của tồn tại xã hội; tuy nhiên ý thức
pháp luật cũng có tính độc lập tƣơng đối đối với tồn tại xã hội.
Tính độc lập tƣơng đối của YTPL đƣợc thể hiện ở những điểm cơ bản
sau: tính lạc hậu, tính tiên phong, tính kế thừa, sự tác động trở lại tồn tại xã
hội và các hình thái ý thức xã hội khác.

- Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội: Thực tế

biểu hiện, mặc dù công cuộc cải cách thủ tục hành chính những năm qua đã
khắc phục đƣợc rất nhiều hiện tƣợng này.
- Tính tiên phong của ý thức pháp luật: Là sản phẩm của tƣ duy, có tính
sáng tạo trong việc phản ánh đối với hiện thực khách quan nên trong nhiều
trƣờng hợp YTPL có những quan niệm, quan điểm pháp luật vƣợt lên trƣớc
sự phát triển của TTXH, có tính định hƣớng cho sự phát triển xã hội. Trong
những điều kiện xã hội nhất định, tƣ tƣởng của con ngƣời, đặc biệt là những
tƣ tƣởng khoa học tiên tiến có thể vƣợt lên trƣớc sự phát triển tồn tại của xã
hội. Trong lịch sử, những quan điểm chính trị - pháp lý của C.Mác, V.I.Lênin,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tính tiên phong, mang tầm nhìn sâu rộng về xu
thế phát triển tất yếu của xã hội. Những quan điểm về NNPQ Của chủ tịch Hồ
Chí Minh, đặc biệt là về Hiến pháp, về quản lý xã hội bằng pháp luật đã hình

12
thành từ rất sớm. Năm 1919 trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi
tới hội nghị Véc Xây, Bác Hồ đã viết: phải thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế
độ các đạo luật, và “Bảy xin hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh
pháp quyền” [29, tr.438]. Đây chính là kết quả của quá trình hoạt động cách
mạng tìm đƣờng đấu tranh giải phóng dân tộc của Ngƣời, kế thừa các tinh hoa
văn hóa pháp lý của nhân loại vào điều kiện của Việt Nam.
- Tính kế thừa của ý thức pháp luật:
YTPL phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó, song nó cũng
kế thừa những yếu tố nhất định của YTPL các thế hệ và thời đại trƣớc đó.
Do vậy, trong ý thức pháp luật luôn giữ lại những tƣ tƣởng, quan điểm pháp
luật của thế hệ trƣớc, các thời đại trƣớc của nhân loại. Những yếu tố đƣợc kế
thừa đó có thể tiến bộ tạo điều kiện cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật có hiệu quả thúc đẩy sự phát triển, hoặc không tiến bộ sẽ cản trở
những nhân tố tích cực trong xã hội kìm hãm sự phát triển. Trong xã hội
phong kiến, YTPL của con ngƣời rất hạn chế, chỉ một phần nhỏ số ngƣời
đƣợc biết chữ thì có thể biết chút ít về pháp luật. Còn phần đông ngƣời dân

với sự phát triển kinh tế, văn hóa, đạo đức của xã hội.
Ngƣợc lại, những tƣ tƣởng, lý thuyết sai lầm, những quan niệm lệch
lạc, thái độ coi thƣờng pháp luật, hành vi vi phạm pháp luật… có tác động
tiêu cực đến sự phát triển xã hội, đến môi trƣờng văn hóa pháp lý và văn
hóa đạo đức.
Đồng thời, các hình thái ý thức xã hội khác có ảnh hƣởng to lớn đến ý
thức pháp luật và ngƣời lại, ý thức pháp luật cũng tác động mạnh mẽ đến các
hình thái ý thức xã hội khác nhƣ đạo đức, khoa học, chính trị, tôn giáo… các
yếu tố thuộc kiến trúc thƣợng tầng pháp lý nhƣ Nhà nƣớc, pháp luật.
Sự tác động này có thể tích cực, cùng chiều và cũng có thể tiêu cực,

14
ngƣợc chiều tùy vào từng hiện tƣợng, từng vấn đề cụ thể và từng giai đoạn
lịch sử nhất định. Ý thức pháp luật góp phần rèn luyện, nâng cao ý thức đạo
đức và thực hành đạo đức của các cá nhân nhất là trong điều kiện nền
KTTT, HNQT nhƣ hiện nay. Ở một xã hội mà YTPL của ngƣời dân càng
cao thì tội phạm càng ít, từ đó tạo thuận lợi cho xã hội phát triển. Ý thức
pháp luật do vậy có vai trò to lớn trong việc giáo dục ý thức và hành vi của
con ngƣời, hỗ trợ cho họ trong các quan hệ pháp luật hay xã hội mà họ tham
gia. Để từng bƣớc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật của các cá nhân, cần
thƣờng xuyên phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng môi trƣờng thuận lợi
cho những hành vi hợp pháp.
Đặc điểm 3: Ý thức pháp luật là hiện tượng mang tính giai cấp, tính
dân tộc: Là sự phản ánh đời sống xã hội, đời sống pháp luật nên YTPL tất
yếu mang tính giai cấp, tính dân tộc tƣơng ứng với mỗi thời kỳ lịch sử. Là sản
phẩm của pháp luật – Hiện tƣợng ra đời khi xã hội có phân chia giai cấp nên
YTPL có tính giai cấp sâu sắc, đặc biệt là giai cấp thống trị, hệ tƣ tƣởng thống
trị; ý thức đó phát sinh và thể hiện thành những yêu cầu, đòi hỏi của giai cấp
thống trị về các lợi ích chính trị, kinh tế, xã hội…của giai cấp mình cũng nhƣ
toàn xã hội; Mỗi quốc gia chỉ có một hệ thống pháp luật nhƣng có thể tồn tại

pháp luật, thể hiện vai trò, giá trị xã hội. YTPL có ba chức năng cơ bản thể
hiện ba mặt chủ yếu của ý thức pháp luật, đó là chức năng nhận thức, chức
năng mô hình hóa pháp lý và chức năng điều chỉnh.
- Chức năng nhận thức: Một trong các đặc điểm của ý thức xã hội là sự
phản ánh đời sống pháp luật. YTPL phản ảnh các điều kiện kinh tế - xã hội cần
đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật trong xã hội và xã hội có phân chia giai cấp.
Thông qua sự phản ánh này chúng ta có đƣợc thông tin về hệ thống văn
bản pháp luật, tình trạng pháp chế, văn hóa pháp lý, tình hình áp dụng pháp

16
luật. Từ các thông tin đó của ý thức pháp luật chúng ta nhận thức đƣợc thực
trạng của đời sống pháp luật, đây là chức năng nhận thức của YTPL.
- Chức năng mô hình hóa: Nhờ có YTPL mà đánh giá đƣợc các mô
hình nào là cần thiết và tất yếu để hƣớng hành vi, cách xử sự, các quan hệ xã
hội phát triển có kết quả. Đó là chức năng mô hình hóa pháp lý của ý thức
pháp luật. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về lợi ích, trách nhiệm của cá nhân,
tập thể và toàn xã hội sẽ tạo cho các chủ thể ý thức tự điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với lợi ích của chủ thể khác cũng nhƣ với lợi ích chung của
toàn xã hội. Không dừng lại ở đó, YTPL cao còn tạo cho các chủ thể thái độ
tích cực, đấu tranh với các hành vi, hiện tƣợng vi phạm pháp luật. YTPL trên
cơ sở mô hình hóa các hành vi nhất định đã định hƣớng cho hành vi của chủ
thể. Tuy nhiên, nếu ý thức pháp luật thấp, nhận thức không đúng đắn về lợi
ích và trách nhiệm của chủ thể thì YTPL, có thể làm cho hành vi của chủ thể
trở nên sai lệch với các yêu cầu của pháp luật hiện hành.
- Chức năng điều chỉnh: YTPL định hƣớng cho hành vi của con ngƣời
phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu của pháp luật hiện hành, hoặc làm
cho hành vi của con ngƣời trở nên không phù hợp với các yêu cầu đó. Nhƣ
vậy ý thức pháp luật có chức năng điều chỉnh hành vi con người.
Các chức năng trên của YTPL liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động
trong một cơ chế thống nhất, chúng bao gồm cả yếu tố đánh giá và dự báo xã

hoạt động xã hội nhằm khẳng định hoặc thay đổi, phát triển những quan hệ xã
hội tƣơng ứng. Là hệ thống lý luận hoàn chỉnh gồm những quan niệm, quan
điểm phản ánh các mối quan hệ chính trị - xã hội đặc biệt giữa các giai cấp,
quốc gia xoay quanh vấn đề nhà nƣớc và pháp luật diễn ra trong lịch sử cũng
nhƣ lợi ích của các tầng lớp giai cấp nhất định xung quanh vấn đề này, có khả

Trích đoạn THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Đặc điểm ý thức pháp luật của ngƣời chƣa thành niên và những Nhóm các giải pháp chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status