Vai trò của nghị viện Châu Âu trong tiến trình dân chủ hóa ở Liên minh châu Âu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐẶNG MINH ĐỨC

VAI TRÒ CỦA NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU
TRONG TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HOÁ
Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU
CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
MÃ SỐ: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Bùi Xuân Đức


8
1.1.1. Quá trình phát triển của Nghị viện châu Âu trong hệ
thống chính trị ở Liên minh châu Âu.

8
1.1.2. Cơ cấu và chức năng của Nghị viện châu Âu.
20
1.1.3. Nghị viện châu Âu - Sự ảnh hưởng của mô hình nghị viện
ở các nước thành viên.

32
1.2. Nghị viện châu Âu trong mối quan hệ với các thể chế chính
trị ở Liên minh châu Âu.

37
1.2.1. Quan hệ giữa Nghị viện châu Âu với các thể chế khác ở
Liên minh châu Âu.

37
1.2.2. Quan hệ giữa Nghị viện châu Âu với Nghị viện quốc gia.
39
CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HOÁ Ở LIÊN MINH
CHÂU ÂU VÀ VAI TRÒ CỦA NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU.

44
2.1. Quá trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu.
44
2.1.1. Tham gia của người dân vào các quá trình xã hội ở Liên
minh châu Âu.


TRÌNH DÂN CHỦ HOÁ Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU. 86
3.1. Những vấn đề đặt ra cho Nghị viện châu Âu trong tiến trình
dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu.

86
3.1.1. Nghị viện châu Âu chưa phải là cơ quan lập pháp hoàn
chỉnh.

86
3.1.2. Hạn chế của Nghị viện châu Âu trong thực hiện giám sát.
89
3.1.3. Những hạn chế trong quan hệ giữa Nghị viện châu Âu và
Nghị viện quốc gia – Nhân tố đảm bảo thực thi các giá trị
chung ở Liên minh châu Âu. 92
3.2. Xu hướng phát triển của Nghị viện châu Âu trong tiến trình
thực hiện dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu.

94
3.2.1. Nghị viện có quyền thực hiện phân bổ số ghế ở Nghị viện
cho các nước thành viên.

97
3.2.2. Thực hiện nguyên tắc bầu cử thống nhất tự do, bỏ phiếu
kín.

EMU: Liên minh kinh tế - tiền tệ châu Âu.
EP: Nghị viện châu Âu.
ESCB: Hệ thống Ngân hàng Trung ương châu Âu
EU: Liên minh châu Âu
Euratom: Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu.
JHA: Chính sách tư pháp và nội vụ
QMV: Phương thức bỏ phiếu theo đa số
SEA: Đạo luật châu Âu thống nhất.
SEM: Thị trường châu Âu đơn nhất.
TEC: Hiệp ước về thành lập Cộng đồng châu Âu.
TEU: Hiệp ước về Liên minh châu Âu.
5
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Danh mục các bảng và hình vẽ
Trang
Bảng 1.1. Nghị sỹ Nghị viện trong giai đoạn 1951 - đến nay.
17
Bảng 1.2. Phân bổ đại diện cho các nước thành viên ở Nghị viện
châu Âu.

21
Bảng 1.3. Các Nhóm chính trị ở Nghị viện châu Âu (2004 – 2009).
27

Hiệp ƣớc Rome (1957) thiết lập Cộng đồng Năng lƣợng Nguyên tử châu Âu
và Cộng đồng Kinh tế châu Âu, Đạo luật châu Âu đơn nhất (1986), Hiệp ƣớc
Maastricht (1991), hiệp ƣớc Amsterdam (1997), hiệp ƣớc Nice (2001) và đỉnh
cao là Hiến pháp châu Âu (2004). Quá trình liên kết hội nhập ở EU đƣợc thực
hiện cả chiều rộng lẫn chiều sâu, từ thị trƣờng chung đến thị trƣờng đơn nhất,
Liên minh kinh tế - tiền tệ và xây dựng một hiến pháp chung. Quá trình liên
kết ở Liên minh châu Âu nhằm thực hiện mục tiêu hoà bình, tự do, dân chủ,
công bằng và thịnh vƣợng cho ngƣời dân châu Âu. Nhằm thực hiện mục tiêu
đặt ra, các hiệp ƣớc đã xây dựng mô hình quản lý với các thể chế “siêu quốc
gia” nhƣ Hội đồng Bộ trƣởng, Nghị viện châu Âu, Uỷ ban châu Âu, Toà án
châu Âu… Các thể chế này hoạt động nhằm thực hiện và đảm bảo các mục
tiêu và giá trị chung đặt ra ở EU, đồng thời các thể chế phải chịu sự giám sát
của ngƣời dân châu Âu.
Nghị viện châu Âu là một nghị viện “siêu quốc gia” đƣợc bầu cử trực
tiếp trên thế giới theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Cùng
với quá trình phát triển của Liên minh châu Âu, Nghị viện châu Âu đƣợc mở
rộng thẩm quyền và khẳng định vai trò của mình trong lĩnh vực lập pháp,
ngân sách, đặc biệt hoạt động giám sát các thể chế ở EU. Nhiều chức năng
của Nghị viện châu Âu đƣợc áp dụng tƣơng tự nhƣ mô hình Nghị viện ở quốc
gia theo chế độ Cộng hoà Nghị viện. Nghị viện châu Âu đƣợc các hiệp ƣớc 7
trao thẩm quyền trong thực hiện và giám sát mục tiêu và giá trị của EU nhằm
đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả và dân chủ ở Liên minh châu Âu…
Những yếu tố trên đòi hỏi phải nghiên cứu rõ hơn về Vai trò của Nghị
viện châu Âu trong tiến trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu là một vấn đề
hết sức cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn.
Luận văn làm sáng tỏ quá trình phát triển của Nghị viện châu Âu; Vị

Hội đồng Bộ trƣởng, Uỷ ban châu Âu, Nghị viện châu Âu là một trong ba cơ
quan tham gia vào quá trình lập pháp và ngân sách của Liên minh châu Âu.
Để khẳng định đƣợc vị thế trong hệ thống thể chế chính trị EU, Nghị viện
châu Âu đã có những bƣớc tiến không ngừng trong lịch sử hơn 50 năm tồn tại
và phát triển của mình [8,19,22,31,41,44]. Tổ chức tiền thân của Nghị viện
châu Âu ngày nay là Quốc hội chung (Common Assembly) ra đời dựa trên
Hiệp ƣớc Cộng đồng Than và Thép Châu Âu. Quá trình phát triển của Nghị
viện châu Âu có thể chia thành những giai đoạn sau:
1.1.1.1. Giai đoạn 1951 – 1957.
Cộng đồng than và thép Châu Âu ra đời (1951) trên cơ sở Tuyên bố
Schuman vào ngày 9 tháng 5 năm 1950, với mục đích gạt bỏ những bất đồng
chính trị giữa nƣớc Đức và Pháp, phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Thể chế
chính trị của Cộng đồng than và thép châu Âu gồm có các thể chế nhƣ Hội
đồng Bộ trƣởng, Uỷ ban cấp cao (tiền thân của Uỷ ban châu Âu ngày nay), 9
Quốc hội chung và Toà án châu Âu. Trong đó, Uỷ ban cấp cao là cơ quan đƣa
ra các quyết định bắt buộc đối với các nƣớc thành viên. Quốc hội chung ra đời
có vai trò làm tăng tính chất dân chủ trong cơ chế ra quyết định của Cộng
đồng than và thép, đặc biệt nhằm kiểm soát hoạt động Uỷ ban cấp cao. Tuy
nhiên, Quốc hội chung không trở thành một “đối trọng” với cơ quan Uỷ ban
cấp cao và vai trò của Quốc hội chung trong giai đoạn này chƣa đƣợc đề cao
trong Cộng đồng than thép châu Âu. Quyền giám sát đối với các thể chế khác
rất mờ nhạt, chỉ có chức năng tham vấn các quyết định của Hội đồng Bộ
trƣởng. Quốc hội chung không có thẩm quyền lập pháp mà chỉ có quyền phê
duyệt chƣơng trình hoạt động thƣờng niên do Uỷ ban cấp cao đệ trình.
Chƣơng trình thƣờng niên đƣợc thông qua với đa số phiếu tuyệt đối của 2/3 số
phiếu của Nghị sỹ Quốc hội chung. Tuy nhiên, trong giai đoạn này Quốc hội
chung là cơ quan có quyền phê chuẩn các thành viên của Uỷ ban cấp cao.

diễn biến trên cho thấy Nghị viện đã có những bƣớc tiến so với Quốc hội
chung cho dù quyền hạn của Nghị viện đã tăng đáng kể so với tổ chức tiền
thân của nó. Nghị viện châu Âu vẫn không có ảnh hƣởng trực tiếp đến quá
trình lập pháp, không có thẩm quyền kiểm soát ngân sách hạn hẹp của Cộng
đồng.
Một trong những mục tiêu đầu tiên của Nghị viện châu Âu là tiến hành
bầu cử trực tiếp từ các công dân các nƣớc thành viên cho dù vấn đề này đƣợc
quy định tại điều 138 của Hiệp ƣớc Rome (1957) nhƣng vẫn chƣa đƣợc thực
hiện ở cấp độ Cộng đồng. Để đạt đƣợc điều đó, vào tháng 5 năm 1961, Nghị
viện châu Âu đã soạn thảo bản đề án đầu tiên về vấn đề bầu cử trực tiếp (kế
hoạch Dehouse). Bản kế hoạch vạch ra thủ tục bầu cử thống nhất chung cho
cả 6 quốc gia thành viên. Tuy nhiên, Hội đồng Bộ trƣởng đã không để tâm và
trì hoãn xem xét đến bản kế hoạch này cũng nhƣ hai bản báo cáo tiếp theo vào 11
năm 1963 và năm 1969. Gặp trở ngại trong thủ tục tiến hành bầu cử trực tiếp,
Nghị viện châu Âu nỗ lực tăng cƣờng vị thế của Nghị viện bằng cách mở rộng
một số quyền hạn đƣợc quy định trong Hiệp ƣớc Rome. Cụ thể, yêu cầu Uỷ
ban châu Âu đệ trình chƣơng trình hoạt động thƣờng niên cho Nghị viện và
Hội đồng phải báo cáo thƣờng xuyên những hoạt động của Cộng đồng cho
Nghị viện châu Âu.
Sang thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Nghị viện đã đạt đƣợc nhiều thành
công hơn. Thứ nhất, vấn đề bầu cử trực tiếp Nghị sỹ Nghị viện. Tuy nhiên,
trong 5 năm sau đó, Nghị viện vẫn không đạt đƣợc thoả thuận trong việc tiến
hành bầu cử trực tiếp. Năm 1974, tại Hội nghị Thƣợng đỉnh Paris, vấn đề bầu
cử trực tiếp lại đƣợc nhắc đến nhƣ một cách cân bằng hợp tác chính trị trong
khu vực. Đạo luật bầu cử châu Âu theo chế độ phổ thông đầu phiếu trực tiếp
đã đƣợc ký kết tại Brussels vào 20 tháng 9 năm 1976. Sau khi đƣợc các Nghị
sỹ Nghị viện thông qua, văn bản có hiệu lực vào 1 tháng 7 năm 1978. Cuối

với 85%. Dù vậy, những Nghị sỹ mới của Nghị viện vẫn tiếp nhận cƣơng vị
của mình với tinh thần phấn khởi và đầy nhiệt huyết. Rất nhiều Nghị sỹ Nghị
viện trƣớc đây đƣợc chỉ định nay đã trúng cử qua cuộc bầu cử trực tiếp. Điều
này cho phép Nghị viện tiếp tục phát triển cho dù phần lớn Nghị sỹ chƣa có
kinh nghiệm chính trị ở cấp độ châu Âu. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên
của Nghị viện là tổ chức lại cơ cấu. Cuộc bầu cử trực tiếp đã tăng gấp đôi số
Nghị sỹ Nghị viện từ 198 lên 410 Nghị sỹ. Do vậy, cơ cấu tổ chức của Nghị
viện đƣợc chỉ định trƣớc đây có thể không đƣợc duy trì. Điều đó dẫn tới Luật
Thủ tục mới của Nghị viện đƣợc thông qua vào năm 1981.
Tuy nhiên, cuộc bầu cử trực tiếp đã không tạo ra đƣợc cuộc chuyển đổi
đƣa Nghị viện châu Âu thành một Cơ quan lập pháp thực sự, mà chỉ thay đổi
không đáng kể thẩm quyền chính trị của Nghị viện đối với các thể chế khác 13
của Cộng đồng. Sau cuộc bầu cử, Hội đồng Bộ trƣởng đã thông qua một Chỉ
thị mà không lấy ý kiến của Nghị viện, mặc dù Hiệp ƣớc Rome đã quy định
Hội đồng phải hỏi ý kiến của Nghị viện (thủ tục tham vấn). Chính vì vậy,
Nghị viện đã kiện Hội đồng Bộ trƣởng ra Toà án châu Âu vì việc vi phạm
Hiệp ƣớc. Toà án châu Âu đã ra phán quyết quá trình Lập pháp của Hội đồng
không có hiệu lực và yêu cầu Hội đồng và Uỷ ban bắt đầu lại. Cũng trong
phán quyết về vụ “Isoglucose” (Isoglucose case), Toà án châu Âu phán quyết:
Hội đồng Bộ trƣởng phải tham vấn với Nghị viện châu Âu và cho phép Nghị
viện đóng vai trò tích cực trong quy trình lập pháp.
Bên cạnh việc Toà án châu Âu chính thức thừa nhận vai trò của Nghị
viện, Nghị viện cũng tiến thêm một bƣớc nữa trong việc nâng cao quyền hạn
của mình. Không dừng lại ở đó, Nghị viện châu Âu vẫn tiếp tục đẩy mạnh
hoạt động mở rộng thẩm quyền lập pháp với lập luận rằng Nghị viện đã trở
thành đại diện trực tiếp duy nhất của công dân châu Âu. Do vậy, Nghị viện
phải có ảnh hƣởng sâu hơn trong các quyết định lập pháp của Cộng đồng.

Tuy Nghị viện châu Âu đạt đƣợc một số tiến bộ trong việc khẳng định
vị trí, vai trò của mình nhƣng Nghị viện vẫn chƣa thực sự có vai trò trong
Cộng đồng. Vì vậy, nhiều sáng kiến cải cách tiếp tục đƣợc đƣa ra, tiêu biểu
trong số đó là đề xuất của Altiero Spinelli (1984) đã đề xuất một dự thảo
mang tên “Dự thảo Hiệp ước thành lập Liên minh châu Âu”. Bản dự thảo
kiến nghị tăng vai trò tham gia của Nghị viện trong việc giải quyết các vấn đề
ở cấp Cộng đồng theo cơ chế đa số hay “đồng quyết định”. Nghị viện đã
thông qua Dự thảo Hiệp ƣớc vào tháng 2 năm 1984, nhƣng không đƣợc các
nƣớc thành viên thông qua. Thay vào đó, bản dự thảo Hiệp ƣớc trở thành một
phần trong Đạo luật châu Âu đơn nhất mà về sau đƣợc thông qua vào năm
1986 và có hiệu lực vào năm 1987. Sở dĩ bản dự thảo Hiệp ƣớc không bị thất
bại nhƣ những văn bản trƣớc là do có sự ủng hộ của Tổng thống Pháp Fracois 15
Mitterrand bằng bài phát biểu trƣớc Nghị viện, kêu gọi cải cách thể chế trong
Cộng đồng châu Âu, mở rộng quyền Lập pháp cho Nghị viện và hạn chế
quyền phủ quyết của Hội đồng Bộ trƣởng.
Việc Pháp bày tỏ thái độ ủng hộ đối với bản dự thảo Hiệp ƣớc khiến
các quốc gia thành viên không thể do dự với những quyết định của mình.
Trong cuộc gặp của Hội đồng châu Âu vào tháng 6 năm 1984 tại
Fontainebleau, Hội đồng châu Âu đã đã đồng ý triệu tập hai Uỷ ban chuyên
trách về Liên minh châu Âu. Hai uỷ ban này đƣợc biết đến với cái tên “Uỷ
ban Dooge” đƣợc giao nhiệm vụ “đưa ra đề xuất tăng cường hoạt động hợp
tác Châu Âu trong lĩnh vực về Cộng đồng và Chính trị”. Bản báo cáo cuối
cùng của Uỷ ban Dooge đƣợc trình trƣớc Hội đồng châu Âu tại cuộc họp ở
Milan (1985) đã đề cập đến việc Nghị viện có quyền “đồng quyết định” với
Hội đồng. Bản báo cáo cũng đề xuất triệu tập một hội nghị liên chính phủ
nhằm xây dựng một dự thảo Hiệp ƣớc về Liên minh châu Âu. Mặc dù có ý
kiến phản đối nhƣng hội nghị vẫn diễn ra vào tháng 6 năm 1985 tại Milan. Tại

Nghị viện đề xuất một Hiệp ƣớc dự thảo mới cho tiến trình này. Tại cuộc họp
của Hội đồng châu Âu (1989), Hội đồng châu Âu đề cập những vấn đề nhƣ:
Hình thành liên minh kinh tế và tiền tệ, cải cách thể chế, mở rộng quyền Lập
pháp của Nghị viện, xây dựng các nguyên tắc dân chủ cho các thể chế Cộng
đồng Với việc liên tục gây sức ép, Nghị viện đã dần dần lôi kéo đƣợc sự
ủng hộ của một số nƣớc thành viên về những đề xuất của mình. Nghị viện
Italia và Bỉ đều công khai ủng hộ đề xuất của Nghị viện đã ra Tuyên bố chung
vào tháng 4 năm 1990 kêu gọi các quốc gia thành viên khác tổ chức Hội nghị
Liên chính phủ lần hai nhằm giải quyết các vấn đề thúc đẩy liên kết chính trị
châu Âu. Năm 1990, tại Hội nghị thƣợng đỉnh Dublin đã quyết định “chuyển
Cộng đồng từ một chủ thể chủ yếu dựa trên liên kết kinh tế và hợp tác chính 17
trị sang một liên minh mang bản sắc chính trị (union of political nature), với
chính sách đối ngoại và an ninh chung”.
Bảng 1.1. Nghị sỹ Nghị viện trong giai đoạn 1951 – đến nay.
Năm/Sự kiện
Số Nghị sỹ Nghị viện
Số quốc gia
thành viên
1951 - Quốc hội chung
78
6
1957 - Nghị viện châu Âu
142
6
1973 - Kết nạp Đan Mạch,
Ireland, Anh
198

đồng quyết định. Theo đó, Nghị viện châu Âu có quyền bình đẳng với Hội
đồng Bộ trƣởng đối với những dự thảo luật đƣợc đề xuất từ Uỷ ban châu Âu.
Thủ tục lập pháp mới này phức tạp hơn thủ tục hợp tác đƣợc quy định trong
Đạo luật châu Âu thống nhất với việc lập ra “Uỷ ban hoà giải” và tiếp tục đọc 18
lần thứ ba. Thủ tục tham vấn và thủ tục hợp tác, Uỷ ban châu Âu vẫn có trách
nhiệm trình các dự thảo luật cho Nghị viện châu Âu và Hội đồng Bộ trƣởng.
Quyền này cũng tạo ra cho Nghị viện châu Âu công cụ đàm phán khi Hội
đồng Bộ trƣởng muốn quá trình lập pháp đƣợc thông qua đúng thời gian. Do
vậy, Hội đồng không thể bỏ qua ý kiến của Nghị viện châu Âu nếu muốn đề
xuất đƣợc thông qua. Ngoài việc bổ sung thủ tục đồng quyết định, hiệp ƣớc
trao thêm cho Nghị viện quyền phê chuẩn các thoả thuận quốc tế của EU.
Sự kiện thống nhất nƣớc Đức vào năm 1990 đã làm tăng số Nghị sỹ
Nghị viện châu Âu và buộc Liên minh phải phân bổ lại số ghế Nghị sỹ đại
diện cho các nƣớc thành viên. Năm 1995, Liên minh châu Âu tiếp tục mở
rộng với sự gia nhập của Áo, Phần Lan, và Thuỵ Điển, nâng số Nghị sỹ của
Nghị viện lên 626 ngƣời (Xem thêm bảng 1.1).
Bắt đầu từ năm 1996, Nghị viện đã sử dụng quyền bổ sung của mình rất
có hiệu quả. Tỷ lệ những sửa đổi, bổ sung của Nghị viện đƣợc các thể chế
khác thông qua cao hơn nhiều so với các trƣờng hợp trong thủ tục tham vấn
và hợp tác. Quan hệ giữa Hội đồng Bộ trƣởng và Nghị viện châu Âu vẫn tiếp
tục tiến triển là kết quả của việc sử dụng thủ tục đồng quyết định. Mục tiêu
cân bằng quyền hạn giữa ba trụ cột Lập pháp của Liên minh châu Âu tuy vẫn
chƣa đạt đƣợc, nhƣng hệ thống không còn là cộng đồng “lƣỡng đầu”
(bicephelous) nhƣ trong thập kỷ 70 và 80.
Mặc dù Hiệp ƣớc Maastricht là một Đạo luật cải tổ quan trọng nhất kể
từ khi thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (1957), nhƣng những cải cách
thể chế và tăng cƣờng năng lực của EU không dừng lại ở đó. Ba năm sau khi

ở Liên minh châu Âu. 20
Nhƣ vậy, sau hơn 30 năm kể từ lần gia tăng quyền hạn quan trọng lần
đầu tiên (Đạo luật Ngân sách 1970), Nghị viện châu Âu đã chuyển từ một
Nghị viện có tính chất tham vấn thành một cơ quan Lập pháp thực sự. Nghị
viện thực sự đạt đƣợc những thành công trong quá trình cải cách trong suốt
thời gian dài: bầu cử trực tiếp, có quyền trì hoãn, sửa đổi, bổ sung và quyền
phủ quyết quá trình lập pháp và Hiệp ƣớc Maastricht quy định Nghị viện châu
Âu còn đƣợc giao quyền gián tiếp sáng kiến lập pháp. Mặc dù Nghị viện đạt
đƣợc những thành tựu đáng kể trong việc gia tăng quyền hạn của mình, nhƣng
Nghị viện châu Âu vẫn là một đối tác “yếu” trong quy trình lập pháp của Liên
minh châu Âu.
1.1.2. Cơ cấu và chức năng của Nghị viện châu Âu.
Nghị viện châu Âu là một thể chế chính trị đại diện quyền lợi cho các
tầng lớp xã hội ở Liên minh châu Âu do công dân của 25 nƣớc thành viên của
Liên minh châu Âu bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, đầu phiếu, trực tiếp và
bỏ phiếu kín. Hiện nay, Nghị viện châu Âu bao gồm 732 Nghị sỹ, nhiệm kỳ
hoạt động của Nghị viện châu Âu là 5 năm (Xem thêm bảng 1.2). Nghị viện
châu Âu có 1 Chủ tịch và 14 phó Chủ tịch, 20 Uỷ ban chuyên môn và 35
Đoàn Nghị sỹ. Trụ sở làm việc của Nghị viện châu Âu đƣợc đặt tại
Strasbourg. Nghị viện châu Âu đã xây dựng cơ cấu tổ chức thích hợp để đảm
nhận các chức năng nhiệm vụ của mình [8].
1.1.2.1. Cơ quan điều hành của Nghị viện châu Âu.
1.1.2.1.1. Chủ tịch Nghị viện châu Âu.
Chủ tịch Nghị viện châu Âu có nhiệm kỳ 2 năm 6 tháng và có thể đƣợc
bầu lại. Điều này có nghĩa nhiệm kỳ của Chủ tịch Nghị viện có thời gian bằng
½ nhiệm kỳ của Nghị viện. Chủ tịch và phó Chủ tịch Nghị viện đƣợc bầu theo
đa số phiếu từ trong số các Nghị sỹ trong Nghị viện.

25
24
Cộng hoà Séc

24
Bỉ
25
24
Hungary

24
Bồ Đào Nha
25
24
Thuỵ Điển
22
19
Áo
21
18
Slovakia

14
Đan Mạch
16
14
Phần Lan
16
14
Ireland
22
Nghị viện cũng nhƣ chủ trì các phiên họp toàn thể của Nghị viện. Chủ tịch
đảm bảo tất cả các hoạt động của Nghị viện và các Cơ quan cấu thành đƣợc
tiến hành nhịp nhàng và hiệu quả. Chủ tịch là ngƣời đại diện chính thức của
Nghị viện đối với các vấn đề hành chính, pháp lý và tài chính, các quan hệ đối
ngoại hay các dịp lễ. Chủ tịch có quyền đƣa ra quan điểm trên tất cả vấn đề
quan hệ quốc tế và các kiến nghị nhằm củng cố Liên minh châu Âu. Trƣớc
mỗi hội nghị của Hội đồng châu Âu, Chủ tịch Nghị viện có quyền đƣa ra các
quan điểm của Nghị viện và các mối quan tâm của Nghị viện về các vấn đề
đƣợc đề cập trong chƣơng trình nghị sự cũng nhƣ các chủ đề khác của Hội
nghị. Chủ tịch có quyền ký vào chƣơng trình ngân sách và đƣa nó vào hoạt
động sau khi bản dự thảo đã đƣợc Nghị viện thông qua lần thứ hai. Chủ tịch
nghị viện cùng với chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng châu Âu sẽ ký vào tất cả các
văn bản Luật đã đƣợc thông qua bằng sự đồng quyết định.
1.1.2.1.2. Phó Chủ tịch Nghị viện.
Nghị viện châu Âu có 14 Phó Chủ tịch, các Phó Chủ tịch là Nghị sỹ
trong Nghị viện và do Nghị viện bầu ra. Trách nhiệm của các Phó Chủ tịch là
khi Chủ tịch Nghị viện vắng mặt, thừa uỷ quyền của Chủ tịch để điều khiển
các phiên họp, các hoạt động cụ thể và thực hiện uỷ quyền tại phiên họp của
Ban lãnh đạo.
1.1.2.1.3. Cơ quan điều hành:
Nghị viện châu Âu có ba cơ quan quản lý, đó là: Ban lãnh đạo
(Bureau); Hội nghị Chủ tịch các Uỷ ban Nghị viện và Hội nghị Ban Chủ tịch.
Trách nhiệm và quyền hạn cụ thể của các cơ quan điều hành nêu trên nhƣ sau:
Ban lãnh đạo: Ban lãnh đạo của Nghị viện châu Âu bao gồm: Chủ tịch
và 14 phó chủ tịch. 05 Tổng quản (Quaestor) sẽ là thành viên của Ban lãnh
viện, quyền soạn thảo các báo cáo sáng kiến riêng, xây dựng các kế hoạch
chƣơng trình lập pháp của Nghị viện, quyết định vị trí của các Đảng phái
chính trị, các Nghị sỹ tự do và chỗ ngồi của các thể chế khác khi tham dự
cuộc họp của Nghị viện. Hội nghị Ban Chủ tịch có thẩm quyền sắp xếp cơ cấu
tổ chức của uỷ ban, Uỷ ban điều tra, Uỷ ban nghị viện chung, Đoàn Nghị sỹ
thƣờng trực và các Đoàn Nghị sỹ khác. Hội nghị Ban Chủ tịch có quyền xem
xét dự thảo báo cáo và đệ trình Kế hoạch Quản lý hành chính và Ngân sách
của các Nhóm Đảng chính trị cho Ban lãnh đạo.
Ngoài ra, Hội nghị của Ban chủ tịch có vai trò thúc đẩy quan hệ giữa
Nghị viện với các thể chế khác của Liên minh cũng nhƣ với các nƣớc khác
trên thế giới. Hội nghị của Ban chủ tịch chịu trách nhiệm xem xét báo cáo
hoạt động của hai phó chủ tịch phụ trách quan hệ với Nghị viện các nƣớc
thành viên. Hội nghị của Ban chủ tịch thông thƣờng đƣợc tổ chức hai lần
trong một tháng
Hội nghị Chủ tịch các Uỷ ban Nghị viện: Hội nghị Chủ tịch các Uỷ ban
bao gồm chủ tịch của các Uỷ ban thƣờng trực hay các Uỷ ban lâm thời.
Quyền hạn của Hội nghị Chủ tịch của các Uỷ ban rất hạn chế và chỉ dừng ở
mức đƣa ra các khuyến nghị cho Hội nghị Ban Chủ tịch về công việc của các
Uỷ ban và xây dựng dự thảo chƣơng trình hoạt động trong mỗi phiên họp. Hội
nghị Chủ tịch các Uỷ ban Nghị viện có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo
hƣớng dẫn của Ban lãnh đạo và của Hội nghị Ban chủ tịch.
1.1.2.2. Các Uỷ ban của Nghị viện.
Ngoài phiên họp toàn thể Nghị viện để thông qua các nghị quyết, dự
thảo Luật và các vấn đề khác thì hoạt động của Nghị viện thƣờng diễn ra ở
trong các Uỷ ban, Tiểu ban của Nghị viện vì các Uỷ ban, Tiểu ban là nơi thảo
luận, chuẩn bị các kiến nghị, dự thảo nghị quyết, các báo cáo cho phiên họp 25
toàn thể xem xét thông qua. Các Uỷ ban Nghị viện châu Âu nhìn chung đƣợc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status