Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
MỤC LỤC
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay với cơ chế thị trường mở của thì tiền lương là
một vấn đề rất quan trọng,đó là khoan thù lao cho công lao động của người
lao động.
Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người làm tác động
biến đổi các vật tự nhiên thành các vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con
người.Trong doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Muốn làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục thường xuyên chúng ta phải tái
tạo sức lao động hay ta phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ
tham gia sản xuất kinh doanh.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao
động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống
hiến,tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động,ngoài ra người
lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ
cấp,BHXH,Tiền thưởng…Dối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một
bộ phận chi phí cấu thành nên già thành sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp
sản xuất ra.Tổ chức sử dụng lao động hợp lý,hoạch toán tôt lao động,và tính
đúng thù lao của người lao động,thanh toán tiền lương và các khoản liên quan
kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm đế thời gian và chất lượng lao
động và từ đó nâng cao năng suất lao động,tiết kiệm chi phí,hạ giá thành sản
phẩm,tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Từ đó thấy kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh
nghiệp cũng rất quan trọng,do đó em chọn đề tài “ Kế toán tiền lương và các
khoản trích theo lương tại công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-
2” làm chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp.Dưới sự hướng dẫn tận tình của
1
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
- Trình độ bặc 4/7: 114 người
- Trình độ bặc 5/7: 100 người
3
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
- Trình độ bặc 6/7: 18 người
- Trình độ bặc 7/7: 9 người
Công ty có tổng số 514 lao động trong đó có 370 người là lao động trực
tiếp, còn lại là người lao động gián tiếp. Trong điều kiện hiện nay, số lượng
cán bộ gián tiếp cơ bản đã đủ, tuy nhiên về trình độ vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu. Vì thế nên công ty đã có chính sách bồi dưỡng, đào tạo cho đội ngũ
lao động gián tiếp bằng tạo điều kiện để cá nhân người lao động đi học thêm
để hoàn thiện kiến thức nhằm nâng cao khả năng chuyên môn. Đồng thời
trong việc tuyển dụng mới ưu tiên tuyển những kỹ sư trẻ có tay nghè khá và
đã có kinh nghiệm làm việc trong các đơn vị cùng ngành. Mặt khác không
tuyển thêm lao động gián tiếp có trình độ trung cấp và sơ cấp.
Đặc thù ngành nghề của công ty là xây lắp đòi hỏi công nhân phải có
trình độ tay nghề cao tuy nhiên bặc thợ bình quân của công ty đạt 4/7. Như
vậy cơ cấu công nhân chưa đáp ứng tốt cho ngành nghề xây dựng các công
trình lớn cần sự tinh sảo và lành nghề. Do đó trong thời gian tới công ty cần
có kế hoạch đào tạo thêm và tuyển dụng mới để bổ xung nguồn nhân lực với
khối lượng công việc đảm bảo hiệu quả thi công công trình.
1.2.Các hình thức trả lương của công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và
thương mại 3-2.
Hiện nay ở Công ty tiền lương cơ bản đang được áp dụng rộng rãi hai
hình thức đó là: Trả lương theo sản phẩm và trả lương theo thời gian.
1.2.1. Hình thức tiền lương theo thời gian:
Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là thời gian làm việc và trình
độ nghiệp vụ của người lao động.Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau, mỗi
ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng, trong mỗi một thang lương lại
tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỷ luật, chuyên môn mà chia làm
Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lương càng ngắn thì việc trả
lương càng gần với mức độ hao phí lao động thực tế của người lao động.
Hình thức trả lương này có nhược điểm là không phát huy đầy đủ
nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó không xét đến thái độ lao động, đến
cách sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,
chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công tác thực tế của người lao động
1.2.2. Hình thức tiền lương theo sản phẩm
Hình thức lương theo sản phẩm là tiền lương trả cho người lao động
được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm hoàn thành hoặc khối
lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu. Để tiến hành trả lương theo
sản phẩm cần phải xây dựng được định mức lao động, đơn giá lương hợp lý
trả cho từng loại sản phẩm, công việc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt,
phải kiểm trả, nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ.
Đây là hình thức trả lương cơ bản đang được áp dụng chủ yếu trong
khu vực sản xuất vật chất hiện nay. Tiền lương được tính theo số lượng sản
phẩm thực tế làm ra đúng cách chất lượng và đơn giá tiền lương.
TL_sp= SL thực tế x Đơn giá tiền lương
• Theo sản phẩm trực tiếp:
Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng
sản lượng hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá lương sản phẩm.
Đây là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để tính lương phải trả
cho CNV trực tiếp sản xuất hàng loạt sản phẩm.
+ Trả lương theo sản phẩm có thưởng: Là kết hợp trả lưong theo sản
phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp và chế độ tiền thưởng trong sản xuất ( thưởng
tiết kiệm vật tư, thưởng tăng suất lao động, năng cao chất lượng sản phẩm ).
+ Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: Theo hình thức này tiền lương trả
6
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
cho người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền lương
tính theo tỷ lệ luỹ tiến căn cứ vào mức độ vượt định mức lao động của họ.
bằng hoặc cao hơn định mức sản lượng. Những sản phẩm dưới mức khởi
điểm luỹ tiến được tính theo đơn giá tiền lương chung cố định, những sản
phẩm vượt mức càng cao thì suất luỹ tiến càng lớn.
Lương trả theo sản phẩm luỹ tiến có tác dụng kích thích mạnh mẽ việc
tăng nhanh năng suất lao động, nhưng thường dẫn đến tốc độ tăng tiền lương
cao hơn tăng năng suất lao động và làm tăng khoản mục chi phí nhân công
trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy, hình thức này được sử
dụng như một giải pháp tạm thời như áp dụng trả lương ở những khâu quan
trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo cho sản xuất cân đối,
đồng bộ hoặc có thể áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện
gấp một đơn đặt hàng nào đó. Trường hợp không cần thiết thì doanh nghiệp
không nên sử dụng hình thức này.
• Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng phạt.
Để khuyến khích người công nhân có ý thức trách nhiệm trong sản xuất,
công tác, doanh nghiệp có chế độ tiền thưởng khi người công nhân đạt được
những chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã quy định như thưởng về chất lượng sản
phẩm tốt, thưởng về tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư.
Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư,
không đảm bảo ngày công quy định thì có thể phải chịu mức tiền phạt trừ
vào mức tiền lương theo sản phẩm mà họ được hưởng.
Thực chất của hình thức trả lương này là sự kết hợp giữa tiền lương
trích theo sản phẩm với chế độ tiền thưởng, phạt mà doanh nghiệp quy định.
Hình thức này đánh vào lợi ích người lao động, làm tốt được thưởng,
làm ẩu phải chịu mức phạt tương ứng, do đó, tạo cho người công nhân có ý
8
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
thức công việc, hăng say lao động. Nhưng hình thức này nếu làm tuỳ tiện sẽ
dẫn đến việc trả thưởng bừa bãi, không đúng người đúng việc, gây tâm lý bất
bình cho người lao động.
1.2.3. Hình thức trả lương khoán.
Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế thị trường,
đặt lợi nhuận lên mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm được chi phí lương là
một nhiệm vụ quan trọng, trong đó cách thức trả lương được lựa chọn sau khi
nghiên cứu thực tế các loại công việc trong doanh nghiệp là biện pháp cơ bản,
có hiệu quả cao để tiết kiệm khoản chi phí này. Thông thường ở một doanh
nghiệp thì các phần việc phát sinh đa dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Vì
vậy, các hình thức trả lương được các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù
hợp trong mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được tính kinh tế cao nhất.
1.2.4.Các hình thức đãi ngộ khác ngoài tiền lương.
Ngoài tiền lương BHXH,công nhân viên có thành tích trong sản
xuất,trong công tác được hưởng khoản tiền thưởng,việc tính toán tiền lương
theo căn cứ vào quyết định và chế đọ khen thương hiện hành.
Tiền thưởng thi dua từ quỹ khen thưởng,căn cứ vào kết quả bình xét
A,B,C và hệ số tiền thưởng để tính.
Tiền thưởng về sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm,tiết kiệm vật
tư,tăng năng xuất lao động căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định.
1.3 Chế độ trích lập nộp và sử dụng các khoản trích theo lương tại Công
ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2.
1.3.1 Quỹ tiền lương
Là toàn bộ số tiền lương trả cho CNV của doanh nghiệp do doanh nghiệp
quản lý xử dụng và chi trả lương .Quỹ tiền lương của doanh nghiệp gồm
10
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
-Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và
các khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm ,làm thêm giờ,phụ cấp
khu vực.
-Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
những nguyên nhân khách quan,thời gian nghỉ phép.
-Các khoản phụ cấp thường xuyên:Phụ cấp học nghề,phụ cấp thâm
niên,phụ cấp làm đêm thêm giờ,phụ cấp trách nhiệm,phụ cấp khu vực,phụ cấp
- Trợ cấp CNV khi về hưu,mất sức lao động.
- Chi công tác quản lý quỹ BHXH.
Theo chế đọ hiện hành toàn bộ số trích BHXH được nộp lên cơ quan
quản lý quỹ bảo hiểm để chi trả các trường hợp nghỉ hưu,nghỉ mất sức lao
động.
Tại doanh nghiệp hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho
CNV bị ốm đâu thai sản…Trên cơ sở các chứng từ hợp lý hợp lệ,cuối tháng
doanh nghiệp phải thanh quyết toán voái cơ quan quản lý quỹ BHXH.
1.3.3 Quỹ bảo hiểm y tế.
Quỹ BHYT là khoản tiền được tính toán và trích lập theo tỷ lệ quy định
là 4,5% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ CNV của
công ty nhằm phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người lao động.Cơ
quan bảo hiểm sẽ thanh toán về chi phí khám chữa bệnh theo tỷ lệ nhất định
mà nhà nước quy dịnh cho những người đã tham gia đóng bảo hiểm.
Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền
lương phải trả cho CNV trong kỳ.Theo chế đọ hiện hành doanh nghiệp trích
12
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
quỹ BHYT theo tỷ lệ 4,5% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả CNV trong
tháng ,trong đó 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử
dụng lao động,1,5% trừ vào lương của người lao động.Quỹ BHYT được trích
lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt
động khám chữa bệnh.
Theo chế độ hiện hành,toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên
môn chuyên trách để quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng
lưới y tế.
1.3.4.Kinh phí công đoàn.
Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ 2% trên tổng
quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ CNV của doanh nghiệp nhằm
chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì
trong tháng phòng kế toán sẽ chịu trách nhiệm chính trong công việc này.Sau
khi kế toán trưởng phê duyệt sẽ được trình lên Tổng Giám đốc ký.
14
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI 3-2.
2.1 Kế toán tiền lương tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương
mại 3-2
2.1.1 Chứng từ sử dụng trong kế toàn tiền lương tại công ty
•Bảng chấm công :
Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời
gian lao động trong công ty.
Bảng chấm công dùng để ghi chép thời gian làm việc trong tháng thực tế
và vắng mặt của cán bộ công nhân viên trong tổ, đội, phòng ban.
Bảng chấm công được lập riêng cho từng tổ, đội sản xuất, từng phòng
ban và được dùng trong 1 tháng. Danh sách người lao động ghi trong bảng
chấm công phải khớp đúng với danh sách ghi trong sổ danh sách lao động của
từng bộ phận. Tổ trưởng sản xuất hoặc trưởng các phòng ban là người trực
tiếp ghi bảng chấm công căn cứ vào số lao động có mặt trong ngày làm việc ở
bộ phận mình phụ trách. Trong bảng chấm công những ngày nghỉ theo quy
định như ngày lễ, tết, chủ nhật đều phải được ghi rõ ràng.
Bảng chấm công được để tại một địa điểm công khai để người lao động
giám sát thời gian lao động của mình, cuối tháng tổ trưởng. Trưởng phòng tập
hợp tình hình sử dụng lao động cung cấp cho kế toán phụ trách, nhân viên kế
toán kiểm tra và xác nhận hàng ngày trên bảng chấm công, sau đó tiến hành
tập hợp số liệu báo cáo tổng hợp lên phòng lao động tiền lương, cuối tháng
các bảng chấm công được chuyển cho phòng kế toán để tiến hành tính lương.
15
- 01 liên được kèm theo chứng từ để chuyển cho phòng kế toán tổng hợp
lập báo cáo tài chính
•Chứng từ ghi sổ
Cuối tháng khi xác định và thanh toán xong các khoản kế toán tổng hợp
căn cứ vào các chứng từ liên quan để phản ánh ghi vào chứng từ ghi sổ.
Các chứng từ ban đầu hoạch toán tiền lương thuộc chỉ tiêu lao động
2.1.2 Phương pháp tính lương tại công ty
Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2 có hai hình thức trả
lương cho CNV đó là trả lương theo thời gian và trả lương theo sản
phẩm.Trong đó:
-Tiền lương theo thời gian:Là tiền trả cho người lao động tính theo thời
gian làm việc,cấp bặc hoặc chức danh và thang lương theo quy đinh theo hai
cách Lương thời gian giản đơn và lương thời gian có thưởng.
-Tiền lương theo sản phẩm:Hình thức lương theo sản phẩm là tiền lương
trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm
hoàn thành hoặc khối lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu.Để tiến
hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng được định mức lao động,đơn
giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm công việc được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt,phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ.Đó là theo sản
phẩm trực tiếp và theo sản phẩm gián tiếp.
Quỹ tiền lương của công ty là toàn bộ số tiền lương trả cho cán bộ CNV
của công ty.Hiện nay công ty xây dựng quỹ tiền lương trên tổng doanh thu là
17
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
22%.Hàng tháng phòng kế toán tổng hợp toàn bộ doanh thu sau đó nhân với
22% .Đố là quỹ lương của công ty tháng đó.
Ví dụ:Doanh thu của Công ty tháng 3 năm 2010 đạt 441.089.000 đồng
thì quỹ lương của công ty sẽ là :441.089.000 x 22% = 97.039.580 đồng.
Việc chi trả lương ở công ty do thủ tục quỹ thực hiện,thủ quỹ căn cứ vào
các chứng từ “ Bảng thanh toán tiền lương” , “Bảng thanh toán BHXH” để chi
25.000 x 3 = 75.000 đồng.
Sau đó cộng vói mức lương sản phẩm là số lượng của từng người.
Nguyễn Ngọc Hải lương sản phẩm là:Số ngày công x Lương 1 ngày ông
x Hệ số lương sản phẩm (Hệ số này do công ty quy định)
25.000 x 26 x 2,33 = 1.514.500 đồng.
Vậy tổng số lương của Nguyễn Ngọc Hải là:
1.514.500 + 75.000 = 1.589.500 đồng.
Đối với công nhân làm khoán thì hệ số này chỉ áp dụng khi họ làm vượt
mức kế hoạch được giao.Nếu vượt 10% định mức thì hệ số này là 1,24 vượt
15% hệ số là 1,78 vượt 20% hệ số là 2,46.
Tiền lương của cán bộ CNV sẽ được thanh toán làm 2 lần vào ngày 15
công ty sẽ tạm ứng lần 1 và ngày 30 công ty sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại
sau khi đã trừ đi những khoản phải khấu trừ vào lương.
Bằng cách trả lương này đã kích thích được người lao động quan tâm tới
doanh thu của công ty và các bộ phận đều cố gắng tăng năng suất lao động và
thích hợp với doanh nghiệp.
19
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
• Quỹ bảo hiểm xã hội
Dùng để chi trả cho người lao động trong thời gian do nghỉ ốm đau theo
chế độ hiện hành phải được tính là 22% BHXH tính trên tổng quỹ lương trong
đó 16% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của công ty 6% do người lao
động đóng góp tính trừ vào lương,công ty nộp hết 22% cho cơ quan bảo hiểm
Tổng quỹ lương của công ty tháng 3 là 97.039.580 đồng
Theo quy định của công ty sẽ nộp BHXH với số tiền là
97.039.580 x 22% = 21.348.707 đồng
Trong đó người lao động sẽ chịu là :97.039.580 x 6% =5.822.375 đồng.
Còn lại 16% công ty sẽ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh là
15.526.332 đồng
Cụ thể với cán bộ CNV thì kế toán chỉ tính và trừ 6% .Nguyễn Văn Sỹ
• Kinh phí công doàn (KPCĐ)
Dùng để duy trì hoạt động của công đoàn doanh nghiệp được tính trên
2% tổng quỹ lương.1% nộp cho công doàn cấp trên 1% giữ lại doanh
nghiệp.2% KPCĐ được tính vào chí phí sản xuất kinh doanh.
Theo quy định công ty sẽ nộp KPCĐ với số tiền là:
97.039.580 x 2% =1.940.792 đồng.
Hiện tại công ty các khoản trích theo lương (BHYT, BHXH, KPCĐ,
BHTN) được tính theo tỷ lệ quy định của nhà nước:
+ Tổng số BHXH,BHYT,KPCĐ,BHTN phỉa trích theo lương = tổng số
21
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
BHYT,BHXH,KPCĐ,BHTN phải trích và tính vào chi phí sản xuất kinh
doanh + Tổng số BHYT,BHXH,KPCĐ,BHTN phải thu của người lao động
+ Khoản BHXH trích theo lương của cán bộ CNCNV = Tổng số tiền lương
cơ bản phải trả cho CBCNV x 22% =97.039.580 x 22%= 21.348.707 đồng.
+ Khoản BHYT trích theo lương của CNCNV = Tổng số tiền lương cơ
bản phải trả cho CBCNV x 4,5% =97.039.580 x 4,5% = 4.366.781 đồng.
Trong tổng số 30,5% (BHXH,BHYT,KPCĐ,BHTN) có 22% tính vào chi
phí sản xuất kinh doanh: 97.039.580 x 22% =21.348.707 đồng.
+ Số BHXH tính vào chi phí SXKD là 16% = 97.039.580 x
16%=15.526.322 đồng.
+ Số BHXH tính vào chi phí SXKD là 16% = 97.039.580 x 16%
=15.526.322 đồng
+ Số BHYT tính vào chi phí SXKD là 3% = 97.039.580 x 3% =
2.911.187 đồng
+ Số BHTN tính vào chi phí SXKD là 1% = 97.039.580 x 1% = 970.395
đồng.
+ Số KPCĐ tính vào chi phí SXKD là 2% = 97.039.580 x 2 % =
1.940.792 đồng.
Tại công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2 thì các khoản
Phản ánh lao động tiền lương là bảng chấm công dùng để theo dõi thời
gian làm việc trong tháng.Mục đích để theo dõi ngày công thực tế làm
việc,nghỉ việc,ngừng việc nghỉ BHXH để có căn cứ tính trả lương,BHXH trả
23
Hoàng Thị Minh Lớp: Kế toán K41
thay lương cho từng người và quản lý lao động trong dơn vị.Bảng chấm công
này do đội phòng ban ghi hàng ngày,việc ghi chap bảng chấm công do cán bộ
phụ trách hoặc do các trưởng văn phòng có trách nhiệm chấm công cho từng
người làm việc của mình cuối tháng sẽ chuyển về vă phòng công ty cùng tất cả
các đơn chứng từ khác.cuối tháng căn cứ vào thời gian làm việc thực tế quy ra
công và những ngày nghỉ được hưởng theo chế độ để tính lương phải trả.
Dưới đây là một số chứng từ của quy trình kế toán tiền lương thường sử
dụng.
24