Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là đề tài chuyên đề thực tập nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả
nêu
trong chuyên đề thực tập là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều đã được
chỉ rõ
nguồn

gốc.
Sinh viên
Dương Lê Tâm
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp, đề
tài: “Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An
” Em luôn nhận được
sự
giúp đỡ tận tình quý báu của nhà trường, các
thầy, cô giáo, bạn bè, gia đình.
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
đến:
Ban giám hiệu trường Đại học kinh tế quốc dân, khoa
kinh

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trên thế giới cơ cấu đào tạo phổ biến của các nước hiện nay là 1 cử
nhân - 4
trung

học
chuyên nghiệp - 10 công nhân kỹ thuật (CNKT), bên cạnh
đó thì tỉ lệ tương ứng ở Việt
Nam


1 cử nhân - 1,16 trung học chuyên nghiệp -
0,95 CNKT. Điều này dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu lao động của đất nước. Vì
vậy ngày 05 tháng 5 năm 2009 vừa qua Bộ LĐ
-TB&XH
xây dựng Đề

án “ Đào
tạo
nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020”, kinh phí
hơn
32.000 tỉ đồng
để đạt mục tiêu trên. Lãnh đạo Bộ
LĐ -TB&XH
khẳng định, đề án sẽ khắc phục
được
những yếu kém về đào tạo nghề từ trước đến

lao
động là vấn đề vô cùng quan
trọng.
Để gópmột phần nhỏ bé vào giải quyết các vấn đề bất cập nêu trên, tôi
tiến
hành
nghiên cứu đề tài: “Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về đào tạo, đánh giá nhu cầu đào tạo nói
chung và đào tạo nghề nói riêng.
- Đánh giá thực trạng đào tạo và nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Thanh Chương trong những năm gần đây.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Thanh Chương những năm qua.
- Dự báo nhu cầu và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đào tạo
nghề trên địa bàn huyện Thanh Chương những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề thực tập là đào tạo nghề cho lao động
nông thôn trên địa bàn huyện Thanh Chương.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không
gian:
+
Nghiên cứu này được thực hiện trên phạm vi toàn huyện Thanh Chương.
+ Một số nội dung chuyên sâu được thực hiện ở một số mô hình tiêu biểu
trên phạm

- Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Thanh
Chương
- Chương 3:Giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Thanh
Chương, tỉnh Nghệ An
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
I.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I.1.1. Khái niệm nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất
định.Cho đến
nay
thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Dưới đây là một số khái
niệm
về
nghề:
+
Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: "Là một loại hoạt động lao động
đòi hỏi có
sự
đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh
tồn".
+
Khái niệm nghề ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng,
kỹ xảo của
một
người để từ đó tìm được phương tiện


giá trị của nó trao đổi được. Nghề
mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi
do

trình
độ của nền sản
xuất và nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác
nhau, song chúng tôi thấy đều thống nhất ở một số nét đặc trưng nhất định như
sau:

Đ
ó
là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi
lặp lại


Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã
hội.
• Là phương tiện để sinh
sống

Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã
hội,

đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay xu thế phát triển của
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
nghề chịu tác


động
trang bị cho người lao động năng lực (kiến
thức, kỹ năng, thái độ) theo một tiêu chuẩn
định
trước để cho người lao động có
năng lực và trở nên hữu ích trong một số công việc hoặc hoạt
động



hội.
Từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt nam, khái niệm tương
đối đầy đủ
là:

"Đào
tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt
được các kiến thức, kỹ năng

kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng
lực để thực hiện thành công một hoạt động xã
hội
(nghề nghiệp) cần thiết.
Theo giáo trình Kinh tế lao động của Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà
nội, khái
niệm
đào tạo là: "Quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên
môn, nghiệp vụ cho người lao
động

hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm đào
tạo
ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập
nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên
sâu"
.
Luật Dạy nghề đưa ra khái niệm như sau: "Dạy nghề là hoạt động dạy và
học nhằm trang
bị
kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người
học nghề để có thể tìm được
việc
làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành
khóa học." [70, tr.9]. Luật cũng qui định có ba
cấp
trình độ đào tạo là sơ cấp nghề,
trung cấp nghề, cao đẳng nghề và về hình thức của hoạt động
dạy
nghề bao gồm
cả dạy nghề chính qui và dạy nghề thường
xuyên.
Tóm lại
khái niệm đào tạo nghề như sau:
"Đào
tạo nghề là hoạt động trang
bị
n
ă
n
g

động nhưng trước đó chưa được
học
nghề. Đ
ào
tạo mới nhằm đáp ứng tăng
thêm lao động đào tạo nghề cho Xã
hội.
Đào
tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên
môn nhưng do
yêu
cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi
cơ cấu ngành nghề, trình độ
chuyên
môn.
Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa
kiến thức
còn
thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ
năng nghề nghiệp theo
từng
chuyên môn và thường được xác nhận bằng một
chứng chỉ hay nâng lên bậc cao
hơn.
I.1.3. Lao động nông thôn
Khái niệm nguồn lao động nông thôn: nguồn lao động nông thôn là một bộ phận
dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp
luật (nam từ đủ 15 tuổi đến 60, nữ từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi) có khả năng lao động.
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51

có việc làm chưa qua đào tạo, tương ứng là 33,64 triệu người. tỷ lệ này đối với lao
động nông thôn là 83,9% tương ứng 19,2 triệu người.
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
+ Hai là, đối tượng đào tạo nghề của lao động nông thôn rất đa dạng. Tính đa
dạng của đối tượng đào tạo được biểu hiện qua tính đa dạng của nguồn lao động
nông thôn
+ Ba là, đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nguồn nội lực cho
đào tạo rất hạn chế. Số lượng các đối tượng đào tạo nghề rất lớn, phong phú về
nghề và hình thức đào tạo. Tuy nhiên, do đó là những cư dân ở nông thôn nên điều
kiện của họ cho việc học tập nghề rất hạn hẹp, nhất là học ở bậc cao và theo các
hình thức trường lớp.
- Đặc điểm về chủ thể đào tạo: Với đối tượng đào tạo nghề trên đòi hỏi hệ
thống đào tạo nghề, mà trước hết là chủ thể đào tạo (hệ thông các cơ sở đào tạo,
cán bộ đào tạo, chương trình và các hình thức đào tạo…) phải có sự thích ứng. Sự
thích ứng đó của hệ thống đào tạo tạo nên những đặc điểm của đào tạo nghề cho
lao động nông thôn, cụ thể:
+ Nông thôn trải theo không gian rộng lớn, nhất là khu vực nông thôn miền
núi. Hệ thống hành chính nông thôn cấp cơ sở là xã. Với đặc điểm phân bố dân cư
và hệ thống hành chính như trên, hệ thống đào tạo nghề cho lao động nông thôn
cũng có những điểm đặc thù so với đào tạo ở thành thị và có sự khác biệt giữa đào
tạo nghè cho lao động nông thôn đồng bằng với nông thôn miền núi, thậm chí cả
nông thôn ngoại ô với nông thôn đồng bằng nói chung.
Sự khác biệt ở hệ thống đào tạo được biểu hiện ở tính chuyên môn hóa cao của các
cơ sở đào tạo vùng nội và ngoại ô, tính tổng hợp của hệ thống đào tạo cho lao động
nông thôn ở các địa phương thuộc vùng xã nội đô, các vùng trung du và miền núi.
Không những vậy, hệ thống đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn thể hiện ở tính đa
dạng của các tổ chức tham gia đào tạo nghề, ở tính đa dạng của đối tượng dạy nghề.
Cũng từ đặc điểm trên dẫn đến điều kiện của hệ thống dạy nghề cho lao động

thu nhập cao, ổn định như lao động trong các nghề thủ công truyền thống, các hoạt
động dịch vụ mới có sức thu hút lao động cao. Vì vậy, đào tạo nghề cho các hoạt
động này có nhu cầu cao. Ngược lại, những hoạt động thu nhập thấp, lao động nặng
nhọc…như lao động nông nghiệp có sức thu hút kém, đào tạo nghề cho lao động
loại này có nhu cầu thấp, trong khi đó yêu cầu của sản xuất này lại rất cao. Xét trên
phương diện này, đặc điểm trong sử dụng lao động nông thôn chi phối lớn đến đào
tạo nghề cho lao động nông thôn.
+ Đối với lao động nông nghiệp, bên cạnh sức hấp dẫn kém, tạo nhu cầu thấp
cho đào tạo nghề, quá trình biến động nguồn lao động dẫn đến chất lượng lao động
thấp về trình độ, về sức khỏe và cao về độ tuổi. Hơn nữa, tính thời vụ của sản xuất
nông nghiệp dẫn đến sử dụng lao động nông nghiệp vào nhiều hoạt động với tính
chất nghề nghiệp khác nhau: nhiều công đoạn trong một cây trồng (cày, bừa, gieo,
cấy…) cà cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, đào tạo nghề cho lao động
nông nghiệp khác với đào tạo nghề cho hoạt động phi nông nghiệp là đối tượng đa
dạng, nội dung đào tạo nghề tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, nhiều
nghề khác nhau, dẫn đến khối lượng đào tạo lớn, thời gian đào tạo dài và các hình
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
thức đào tạo phong phú. Với tính chất trên, đào tạo trong từng gia đình kết hợp với
bổ sung của các tổ chức khuyến nông, lâm và các tổ chức xã hội, giữa đào tạo nghề
cơ bản với các hoạt động bồi dưỡng nâng cao có vai trò hết sức quan trọng.
I.3. NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
I.3.1. Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn được hiểu theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, nội dung đào tạo nghề gồm đào tạo tay nghề và những
kiến thức tổng hợp. Vì vậy, đào tạo nghề theo nghĩa rộng bao hàm cả đào tạo văn
hóa (làm nền tảng cho đào tạo nghề); đào tạo nghề nghiệp (nội dung chính là đào
tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của người lao động, hoạt động chính của

Cần lưu ý rằng: Hệ thống đào tạo nghề cho lao động nông thôn tuy bao gồm
tất cả những chủ thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Tuy nhiên, những chủ thể
này cần có sự chủ động và tiếp cận trực tiếp đến người học, vì đặc tính lao động
nông thôn và những điều kiện cho học nghề của những người học có những hạn
chế nhất định. Với sự khác biệt này, những tổ chức dạy nghề gần nông thôn, như
các trung tâm dạy nghề cấp huyện, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư, các tổ chức
chính trị ở nông thôn như hội nông dân, hội phụ nữ… thường phát huy có hiệu quả
hơn trong dạy nghề cho lao động nông thôn. Những tổ chức dạy nghề cấp cao như
cao đẳng nghề, trung cấp nghề cũng có vai trò đà tạo nghề cho lao động nông thôn,
nhưng tập trung vào nhóm ngành phi nông nghiệp và mức độ phát huy hạn chế
hơn.
- Hai là, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nghề: Hệ
thống cơ sở vật chất là những điều kiện rất cần thiết cho hoạt động dạy nghề. Dạy
nghề là dạy và rèn kỹ năng lao động, vì vậy dạy nghề cần có hệ thống sơ sở vật
chất đồng bộ, nhất là các trang thiết bị phục vụ dạy nghề và rèn nghề. Kinh phí cho
việc mua sắm cá thiết bị là rất lớn, vì đó là các máy móc, các thiết bị cho người học
rèn tay nghề nên số lượng lớn và sử dụng thường xuyên. Vì vậy, xây dựng cơ sở
vật chất phục vụ cho đào tạo nghề có vai trò hết sức quan trọng. Thực hiện xây
dựng cơ sở vật chất có sự tham gia của các cấp quản lý vĩ mô với các hoạt động
quan trọng như: Quy hoạch hệ thống đào tạo nghề trên phương diện cơ sở vật chất,
cấp vốn cho các trường, các cơ sở đào tạo nghề và giám sát qua trình sử dụng vốn.
Vai trò này chủ yếu thuộc về Tổng Cục dạy nghề với tư cách là đơn vị thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề, các bộ ngành, các địa phương có liên
quan trong chức năng chủ quản của một số cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông
thôn thuộc ngành và địa phương.
Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất cho đào tạo nghề cho lao động nông thôn
còn thuộc về chính các cơ sở đào tạo trong việc sử dụng nguồn vốn xã hội trong
xây dựng cơ sở vật chất của mình. Đăc biệt, các cơ sở đào tạo nghề còn năng động
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51

thực hành theo từng kỹ năng nghề. Thời gian tổ chức các lớp dạy nghề thường
ngắn, vào những thời điểm thích hợp, thường là những lúc nông nhàn.
- Bốn là phát triển đội ngũ cán bộ đào tạo nghề: Đội ngũ cán bộ đào tạo nghề
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
bao gồm các cán bộ quản lý ở cơ sở đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề, đây là những máy cái, trực tiếp truyền đạt các
kiến thức cơ bản về nghề; đồng thời cũng là những người hướng dẫn nghề và rèn
luyện tay nghề. Vì vậy, đội ngũ giáo viên dạy nghề phải là những người nắm vững
lý thuyết, nhưng rất giỏi về thực hành. Để có được đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp
ứng yêu cầu, các cơ sở dạy nghề phải có chế độ tuyển dụng những người đủ tiêu
chuẩn về chuyên môn (có nền tẳng lý thuyết vững và trình độ tay nghề giỏi), có
long yêu nghề. Không chỉ vậy, các cơ sở đào tạo nghề cần có chế độ thường xuyên
bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và có chính sách sử dụng đội ngũ giáo
viên theo hướng khuyến khích, tạo sự yên tâm với nghề, nhất là ở những nơi có sự
cạnh tranh cao giữa các trường nghề với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.
- Năm là xác định nhu cầu đào tạo nghề trong từng vùng, từng cơ sở đào tạo
trong vùng: Nhu cầu đào tạo nghề là cơ sở quan trọng để hệ thống đào tạo nghề
chẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị
các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tương ứng. Ngược lại,
nhu cầu đào tạo cũng có thể được tính toán từ việc xem xét các điều kiện vật chất
và con người có thể huy động cho đào tạo nghề với nhu cầu từ sự phát triển kinh tế
xã hội. Việc xem xét mối tương quan giữa nhu cầu xã hội và khả năng về các điều
kiện có thể huy động là quy trình hợp lý nhất để xác định nhu cầu đào tạo nghề ở
một quốc gia, một vùng, địa phương trong một khoảng thời gian nhất định.
Tuy nhiên, xem xét nhu cầu đào tạo nghề cần xem xét tới đối tượng của hoạt
động dạy nghề, những người học nghề với nhu cầu học nghề thực sự của họ và các
điều kiện của chính họ để tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Nông dân là những
người có điều kiện sống khó khăn nên kinh phí học nghề dưới dạng học phí thường

trong sản xuất được tiến hành dưới hai
hình
thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm
cặp theo tổ chức, đội sản xuất. Với kèm cặp theo cá
nhân,

mỗi
thợ học nghề
được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn. Người hướng dẫn
vừa
sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch. Với hình thức kèm cặp theo tổ,
đội sản xuất,
thợ
học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những
công nhân dạy nghề thoát ly
sản
xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và
phương pháp sư phạm nhất định. Quá trình đào tạo
được
tiến hành qua các
bước:

Bước 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất
vừa
hướng dẫn thợ học nghề. Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất
vừa
phải
giảng cho người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình
công
nghệ,

mới
được tuyển dụng, đào tạo lại nghề,
nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới.
Hình
thức đào tạo này
không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên
trách mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp. Chương trình đào tạo
gồm hai phần:

thuyết và thực hành sản xuất, phần lý thuyết được giảng tập
trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật
phụ
trách, phần thực hành được tiến hành ở
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành
nghề
hướng
dẫn.
- Các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên
cơ sở kỹ thuật hiện
đại,

các
Bộ hoặc Ngành thường tổ chức các trường dạy nghề
tập trung, qui mô lớn, đào tạo công
nhân



nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học. Các tài liệu

sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường.
- Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới
một năm. Chủ yếu

đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao
động.
I.3.3. Hệ thống tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Hệ thống tổ chức đào tạo dạy nghề gồm các trường chính qui và các cơ sở
dạy nghề.
Hệ
thống đào tạo chính qui: Bao gồm các trường thuộc Bộ, Ngành
và các địa phương. Số học sinh
đào
tạo các trường này được nhà nước giao chỉ
tiêu hàng năm và cấp kinh phí cho các trường theo
chỉ
tiêu; qui chế thi, cấp bằng
và cấp chứng chỉ theo qui định thống nhất của Nhà nước. Các cơ sở đào
tạo
nghề:
Theo bộ Luật Lao động bao gồm tất cả các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống trường
đào
tạo
chính qui như: các trường dạy nghề của các tổ chức, cơ quan, Tổng công
ty, doanh nghiệp; các
trung
tâm đào tạo nghề quận, huyện; các trung tâm dịch vụ
việc làm. Các trung tâm đào tạo nghề

các dự
án
đầu tư có khoản mục đào tạo mới và đào tạo lại. Hệ thống đào tạo nghề
Căn cứ vào thời gian đào
tạo,
đào tạo dạy nghề được chia làm hai loại: Đào tạo
dạy nghề dài hạn (cả đào tạo mới và đào tạo
lại):
Là hình thức đào tạo phổ biến
tại các trường chính qui của Nhà nước, các Bộ, Ngành và các
tỉnh.
Thời gian đào
tạo nghề dài hạn thường từ một năm trở lên. Đào tạo dạy nghề ngắn hạn: Là cách
tổ chức dạy nghề trong thời gian ngắn (từ ba đến mười hai tháng). Người học vừa
học lý thuyết
vừa

thực
hành theo hình thức kèm cặp tại nơi sản xuất, chủ yếu là
rèn luyện kỹ năng thực hành
nghề,
chuyển giao công nghệ… Nhằm tạo cơ hội cho
người học tìm được việc làm hoặc tự tạo ra việc
làm.
I.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ
I.4.1. Yếu tố về người học và cơ sở đào tạo
Chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào hai khối đối tượng: bản
thân người
công nhân kỹ thuật và cơ sở đào tạo nghề ( Chất lượng cơ sở đào tạo) Quá trình
đào

đào tạo nghề cũng thấp hơn, điều này dẫn đến phải có các chương trình đào tạo
riêng phù hợp với lao động nông thôn. Về cơ bản, lao động nông thôn đều có điều
kiện kinh tế thấp, có mong muốn được đào tạo nghề để chuyển sang hoạt động
trong các lĩnh vực sản xuất khác hoặc cao hơn nông nghiệp nên tinh thần học hỏi
cao và có mục tiêu rõ ràng là một thuận lợi cho việc hướng nghiệp và đào tạo nghề.
- Quá trình đào tạo (hoạt động đào tạo nghề của cơ sở đào tạo
nghề) là yếu tố
quyết định đến chất lượng đầu ra của đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Vì đối
tượng là lao động nông thôn nên quá trình đào tạo phải có những yếu tố phù hợp
với đặc điểm của đối tượng đào tạo, cụ thể như:
+ Mục tiêu, nội dung, chương trình đào
tạo: Với lao động nông thôn thì mục
tiêu đào tạo là phải tạo ra cho họ có một ngành nghề mới ngoài nông nghiệp để họ có
thể kiếm việc làm mới phù hợp với khả năng, có thu nhập cao hoặc nâng cao trình độ
lao động nông nghiệp để lao động nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn. Nội dung đào
tạo ngoài những nội dung áp dụng cho đào tạo nghề nói chung thì cần phải đổi mới
để áp dụng vào đối tượng cụ thể là lao động nông thôn. Đối với chương trình đào tạo
nghề mới cho lao động nông thôn cần có nội dung cụ thể, đi từ cơ bản đến chuyên
sâu, từ lý thuyết đến thực tế như vậy người học mới tiếp thu tốt với vốn trình độ của
lao động nông thôn, chương trình đào tạo phải gắn với thực tế, thực hành nhiều hơn
đi đôi với việc truyền dạy những kỹ năng và phong cách lao động mới. Đối với đào
tạo nâng cao tay nghề cho lao động nông nghiệp cần phải áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp vào nội dung, chương trình đào tạo.
+ Đội

ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo và cán bộ quản lý; (phẩm chất,
năng
lực). Vi lao động nông thôn có khả năng tiếp thu không cao và lần đầu được
tiếp thu những kiến thức mới về nghề được đào tạo nên đội ngũ giảng viên phải
nắm vững trình độ chuyên môn, phải có cách truyền dạy phù hợp cho đối tượng,

đào tạo sẽ đáp ứng nhu cầu về lao động cũng như những lợi ích kinh tế mà nó
mang lại. Người lao động sẽ sống vơi nghề mình đã chọn, áp dụng kỹ năng mình
học để tạo ra thu nhập cao hơn trước khi học nghề.
- Tham gia thị trường lao động (từ 6 đến 12 tháng kể từ khi ra
trường):
Trình độ chuyên môn đáp ứng yếu cầu làm việc (năng suất, tổ chức
hoạt
động); Mức độ hoàn thành nhiệm vụ công nhân kỹ thuật; Tính sáng tạo và thích
nghi trong
công
việc. Việc đánh giá kết quả giáo dục cần phản ánh được chất
lượng nhân cách có phù hợp hay
không
với yêu cầu đề ra. Cần phải xem xét chất
lượng đầu vào (tuyển sinh học sinh học nghề),
chất

lượng
của quá trình đào tạo
và chất lượng đầu ra (tốt nghiệp và tham gia vào cuộc sống). Đánh
giá
chất
lượng đào tạo không chỉ nhiệm vụ của các ñơn vị đào tạo nghề mà còn là của xã
hội. Đặc biệt là sự đánh giá trực tiếp của những người sử dụng sản phẩm đào
tạo (các doanh nghiệp, các
nhà
sản xuất
…).
I.4.2. Yếu tố về chính sách
Ngoài những yếu tố trên, yếu tố về chính sách, chủ trương của các cơ quan

sở dạy nghề,
các trường CĐ,
ĐH
có đào tạo nghề cùng vào cuộc. Việc đào tạo nhắm đến đáp
ứng
nhu
cầu của sản xuất, kinh doanh, trong đó, các tài liệu và chương trình đảm
bảo phù hợp với các cơ
sở

sản

xuất.
Không có một mô hình đào tạo chung mà tuỳ
theo yêu cầu thực tế sẽ đào tạo đáp ứng.
“Việc
đào tạo sẽ rất đa dạng, linh hoạt để
gắn kết người học với việc
làm”.
Thực hiện Quyết định số
1956/QĐ-TTg
ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ
tướng Chính
phủ
phê duyệt Đề án
“Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020”. Ngày 20/4, Tổng cục
dạy
nghề đã tổ chức Hội nghị tập huấn “ Xây dựng

khả năng tổ chức ở địa
bàn. Mô hình phải đạt được hiệu quả kinh tế-xã hội (người được
học
nghề có khả
năng tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm; năng suất lao động cao hơn so với
trước

khi
học; thu nhập và đời sống của gia đình tốt hơn…).
Những tiêu chí cụ thể cần xác định khi xây dựng mô hình là: Xác định nhu
cầu học
nghề

của
lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có sức khỏe phù hợp
với ngành nghề đào tạo tại
địa
phương. Xác định nhóm đối tượng có nhu cầu học
nghề (theo 4 nhóm đối tượng nêu trên). Xác
định
đối tượng học nghề thuộc diện
hỗ trợ học nghề nào (theo diện hỗ trợ học nghề quy định tại Quyết định 1956

SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
-TTg).
Ngành nghề gì có khả năng tạo việc làm cao, dự kiến sẽ tổ chức đào tạo.
Đơn vị, tổ chức nào sẽ trực tiếp tổ chức, phối hợp tham gia tổ chức thực hiện
các lớp dạy nghề?

tỉnh/thành phố lựa chọn 01 mô hình điểm dạy nghề nông
nghiệp, 01 mô hình dạy nghề phi
nông
nghiệp tại huyện triển khai thí điểm. Sau
đó phổ biến rãi đến các huyện trong tỉnh hoàn thành chỉ tiêu về đào tạo nghề trong
từng năm và từng giai đoạn cụ thể.
I.5. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN
Phát triển nguồn lao động, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động nông
thôn là yêu cầu cấp thiết, một mặt do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn;
mặt khác do sự biến động nguồn lao động nông thôn đòi hỏi.
- Về xu hướng biến động của nguồn lao động nông thôn: Sự phát triển của
lực lượng sản xuất tạo ra các điều kiện để hình thành các ngành sản xuất mới, quá
trình đô thị hóa. Tình trạng đó dẫn đến sự biến động nguồn lao động nông thôn
theo hướng giảm cơ học và nguồn lao động nông thôn có xu hướng giảm dần cả về
số lượng và tỷ trọng trong tổng nguồn lao động của xã hội. Trên thực tế, bộ phận
nguồn lao động nông thôn có chất lượng cao luôn có xu hướng thoát ra khỏi nông
nghiệp, nông thôn đến với thành phố và các ngành phi nông nghiệp có thu nhập và
điều kiện làm việc tốt hơn. Điều đó dẫn đến chất lượng lao động ở nông thôn thấp
đi. Vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn trở nên cấp thiết.
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
Trong điều kiện phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, tốc độ đô thị hóa ngày
càng tăng, nhu cầu lao động chất lượng cao cũng tăng theo. Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn vè đáp ứng yêu cầu của quá trình phân công lao động, của sự phát
triển các ngành nghề và đô thị mới; bổ sung cho sự giảm chất lượng nguồn lao
động nông thôn do sự biến động nguồn lao động theo xu hướng đó.
Chính vì vậy giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng


nghiệp nông thôn tác động trực tiếp đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo
hướng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Và
ngược lại, đào tạo nghề nói chung và cho lao động nông thôn nói riêng đã tạo ra
những điều kiện để đẩy mạnh nhanh quá trình của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trên phương diện nào đó, trình độ người lao động là yếu tố cầu thành lực lượng
sản xuất, đương nhiên sẽ là nhân tố tác động đến quá trình phân công lao động xã
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
hội mà biểu hiện là quá trình của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
SVTH: Dương Lê Tâm Lớp: Kinh tế lao
động 51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Nam Phương
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN HUYỆN THANH CHƯƠNG
2.1. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN THANH CHƯƠNG
2.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Thanh Chương, Nghệ An
2.1.1.1. Về vị trí địa lí, hành chính
Thanh chương là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An có diện tích tự nhiên
là 112763 ha. Nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An.
- Phía Đông giáp huyện Đô Lương
- Phía Tây có dãy Trường Sơn – tiếp giáp huyện Căm Kớt, Tỉnh Bô-li-Khăm
–Xay Nước Cộng Hòa dân chủ nhân dân Lào.
- Phía Bắc giáp huyện Anh Sơn và huyện Đô Lương.
- Phía Nam giáp huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh.
Trung tâm huyện là thị trấn Thanh Chương cách thành phố Vinh 46Km. Toàn
huyện có 40 xã, Thị trấn (Trong đó có 23 xã miền núi, 8 xã vùng cao và 5 xã chung
biên giới Việt - Lào).
Địa hình phức tạp chia cắt bởi 5 con sông , trong đó sông Lam chảy qua huyện
48Km chia Huyện thành 2 vùng Tả ngạn và Hữu Ngạn. Chạy dọc theo sông Lam có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status