Tìm hiểu hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Hai Bà Trưng - TP Hà Nội giai đoạn 2005 – 2011 - Pdf 25

Li cm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể
các thầy cô giáo trong khoa Tài nguyên – Môi trường Trường Đại Học Nông
Nghiệp Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành báo cáo, sử dụng phát huy trong cuộc sống cũng như
sự nghiệp sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết sơn sâu sắc tới thầy giáo Th S. Nguyễn Văn Quân
cán bộ giảng dạy của bộ môn Quản lý đất đai – khoa Tài nguyên Môi trường đã
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Văn phòng đăng ký đất nhà,
phòng Tài nguyên & Môi trường quận Hai Bà Trưng – TP. Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Vì thời gian có hạn nên khóa luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi
những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô giáo để khóa
luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Hai Bà Trưng, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Mai Đình Út
i
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
PHẦN I MỞ ĐẦU 5
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 5
1.2. Mục đích và yêu cầu 6
1.2.1. Mục đích 6
1.2.2. Yêu cầu 6
PHẦN II TỔNG QUAN VỀ ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI VÀ VĂN PHÒNG ĐĂNG
KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 7

ii
3.4.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 29
3.4.3. Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan 30
3.4.4. Phương pháp chuyên gia 30
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 31
4.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 31
4.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng 31
4.1.3.Tình hình sử dụng đất đai 34
4.2. Thực trạng tình hình hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
quận Hai Bà Trưng 36
4.2.1. Tổ chức bộ máy của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Hai
Bà Trưng 36
4.2.2. Cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 39
4.3. Kết quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 41
4.3.1. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận 41
4.3.2. Lập và quản lý hồ sơ địa chính 45
4.3.3. Thống kê, kiểm kê đất đai 46
4.3.4. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai 49
4.3.5. Ứng dụng tin học 50
4.4.4. Những đóng góp trong công tác quản lý đất đai 52
4.4.5. Kết quả thu chi tài chính 52
4.4.6. Nhận xét 52
4.5. Nguyên nhân hạn chế và giải pháp nâng cao vai trò hoạt động của Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất 53
4.5.1. Nguyên nhân hạn chế hoạt động 53
4.5.2. Giải pháp nâng cao vai trò hoạt động của Văn phòng đăng ký 56
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1. Kết luận 59
5.2. Đề nghị 60

tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận đối với các đối tượng sử dụng đất. Tuy nhiên,
việc cung ứng các dịch vụ về đăng ký, cấp giấy chứng nhận nhà đất vẫn là một
trong những vấn đề bức xúc đối với người sử dụng đất; mặt khác hồ sơ về đất
đai được quản lý ở nhiều cấp khác nhau, có nhiều trường hợp, có sự khác biệt
giữa thông tin trên sổ sách và trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc
biệt ở các địa phương, nơi cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực còn yếu!
Hai Bà Trưng là một quận thuộc thủ đô Hà Nội. Theo cơ chế một cửa
tại Văn phòng ĐKQSDĐ đã rút gọn được một số loại thủ tục rườm rà, không
cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân khi tham gia vào các hoạt động
liên quan đến ĐKQSDĐ. Nhiệm vụ chính của Văn phòng là thực hiện đăng
5
ký cấp GCNQSDĐ, lưu trữ, quản lý và chỉnh lý toàn bộ HSĐC và cơ sở dữ
liệu thuộc tính địa chính trên địa bàn quận.
Trước tình hình kinh tế - xã hội phát triển, việc sử dụng đất có nhiều
biến động đòi hỏi nhiệm vụ quản lý phải được coi trọng hơn bao giờ hết Văn
phòng ĐKQSDĐ được thành lập đã giúp Nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ ấy. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên em chọn đề tài: “Tìm hiểu hoạt
động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Hai Bà Trưng - TP
Hà Nội giai đoạn 2005 - 2011” để thấy được những gì Văn phòng đã làm
được trong thời gian qua và cần có những đánh giá thiết thực nhằm nâng cao
vai trò hoạt động của Văn phòng trong thời gian tới.
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn về Đăng ký đất đai và hoạt động
của Văn phòng ĐKQSDĐ.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động của Văn phòng ĐKQSDĐ quận Hai
Bà Trưng.
- Đưa ra một số nhận xét, đánh giá về hoạt động của Văn phòng
ĐKQSDĐ quận Hai Bà Trưng.
1.2.2. Yêu cầu

bề mặt trái đất; tập đoàn thực vật và động vật; trạng thái định cư của con
7
người và những thành quả vật chất do các hoạt động của con người trong quá
khứ và hiện tại tạo ra.
2.1.2. Bất động sản
Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, tại Điều 174 có quy định: “Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất
đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền
với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các
tài sản khác do pháp luật quy định” [14].
Các quy định về BĐS trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở.
BĐS bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất
đai và vật kiến trúc. BĐS có những đặc tính sau đây: có vị trí cố định, không
di chuyển được, tính lâu bền, tính thích ứng, tính dị biệt, tính chịu ảnh hưởng
của chính sách, tính phụ thuộc vào năng lực quản lý, tính ảnh hưởng lẫn nhau.
2.1.3. Thị trường bất động sản
Thị trường BĐS bao gồm 3 thị trường nhánh: Thị trường mua bán; thị
trường cho thuê BĐS; thị trường thế chấp và bảo hiểm BĐS. Căn cứ vào thứ tự
thời gian mà BĐS gia nhập thị trường, thị trường BĐS có 3 cấp, gồm:
- Thị trường cấp I: là thị trường chuyển nhượng, giao hoặc cho thuê
QSDĐ (còn gọi là thị trường đất đai);
- Thị trường cấp II: Là thị trường xây dựng công trình để bán, cho thuê;
- Thị trường cấp III: Là thị trường bán lại hoặc cho thuê lại công trình đã
mua hoặc thuê [24].
2.2. Đăng ký đất đai, bất động sn.
2.2.1. Khái niệm về đăng ký đất đai
2.2.1.1. Đăng ký Nhà nước về đất đai
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực
hiện đối với các đối tượng là các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân SDĐ, sở
hữu tài sản gắn liền với đất. Bởi đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất là

BĐS được lập để phục vụ cho lợi ích của Nhà nước và phục vụ quyền lợi của
công dân.
2.2.2.2. Nguyên tắc đăng ký đất đai, bất động sản.
Đăng ký đất đai, bất động sản dựa trên những nguyên tắc:
Nguyên tắc đăng nhập hồ sơ;
Nguyên tắc đồng thuận;
Nguyên tắc công khai;
Nguyên tắc chuyên biệt hoá.
Việc tuân thủ những nguyên tắc trên đảm bảo cho hệ thống đăng ký đất
đai thực sự có hiệu lực và hiệu quả, làm đơn giản hóa các giao dịch và giảm
bớt những khiếu kiện về chủ quyền đối với đất đai.
2.2.2.3. Đơn vị đăng ký – thửa đất
Thửa đất được hiểu là một phần bề mặt trái đất, có thể liền mảnh hoặc
không liền mảnh, được coi là một thực thể đơn nhất và độc lập để đăng ký
vào hệ thống hồ sơ với tư cách là một đối tượng đăng ký có một số hiệu nhận
biết duy nhất. Việc định nghĩa một cách rõ ràng đơn vị đăng ký là vấn đề
quan trọng cốt lõi trong từng hệ thống đăng ký.
Các hệ thống đăng ký giao dịch nâng cao có đòi hỏi cao hơn về nội
dung mô tả thửa đất, không chỉ bằng lời mà còn đòi hỏi có sơ đồ hoặc bản đồ
với hệ thống mã số nhận dạng thửa đất không trùng lặp.
2.2.3. Đăng ký pháp lý đất đai, bất động sản
2.2.3.1. Đăng ký văn tự giao dịch
Trong hệ thống đăng ký văn tự giao dịch, quyền BĐS và đất đai được
xác định theo thoả thuận giao dịch giữa các bên. Nội dung cơ bản của văn tự
giao dịch được đăng nhập vào hồ sơ đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai; cơ
quan đăng ký đất đai không thu và lưu giữ các văn tự giao dịch; khi một giao
dịch được đăng ký, bản đăng ký lưu giữ tại cơ quan đăng ký là bằng chứng về
việc giao dịch đó đã xảy ra giữa các bên nhưng nó không là bằng chứng về
10
việc người bán có thực sự có quyền hợp pháp đối với đất đai hoặc BĐS đó

BĐS hoặc đất đai không cấp GCN quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mà chỉ
cấp GCN việc các quyền đó đã được đăng ký, thậm chí chỉ cấp bản trích sao
nội dung hồ sơ đăng ký mà thôi. Từ quan niệm như vậy, cơ quan đăng ký
hoặc cơ quan cấp GCN không nhất thiết phải là cơ quan định đoạt về quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng nên có thể là một cơ quan thuộc hệ thống cơ quan
quản lý đất đai (thực hiện quyền của Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đất
đai) hoặc là một cơ quan thuộc hệ thống tư pháp, có thể được tổ chức theo
ngành dọc hoặc phân cấp theo các cấp hành chính mà không ảnh hưởng tới
vai trò của một cơ quan đăng ký.
2.2.3.3. Hệ thống Torrens
Hệ thống Torrens là tên gọi của hệ thống đăng ký đất đai theo hình thức
đăng ký quyền do Robert Torens, Thủ hiến của bang South Australia đề xuất
và triển khai tại bang này từ năm 1828. Hệ thống này sau đó đã lan rộng trong
Khối thịnh vượng chung và trở nên thịnh hành trên phạm vi toàn cầu. Tại Mỹ,
có 10 bang áp dụng Hệ thống Torrens (Colorado, Georgia, Hawii, Iowa,
Massachusetts, Minnesota, New York, Ohio, Washington).
Về nguồn gốc, hệ thống Torrens là hệ thống đăng ký quyền kiểu Anh
với 3 nguyên tắc cơ bản là là nguyên tắc phản ánh, nguyên tắc màn ngăn cách
và nguyên tắc bảo hiểm. Nhưng khi triển khai tại Australia Torrens đã phát
triển thêm một bước với việc đưa thêm 1 nguyên tắc mới vào hệ thống, đó là
nguyên tắc “cấp quyền qua việc đăng ký thay cho quan điểm “đăng ký quyền”
truyền thống của Anh. Có thể nói rằng Hệ thống Torrens không chỉ là một hệ
thống đăng ký quyền mà chính là một hệ thống cấp và đăng ký quyền.
Về hồ sơ đăng ký, đặc điểm nổi bật nhất của Hệ thống Torrens là sự
đồng nhất GCN quyền với bản ghi đăng ký. GCN quyền được lập thành 2 bản,
nội dung như nhau, chủ sở hữu được cấp 1 bản, cơ quan đăng ký giữ một bản
12
thay cho bản ghi đăng ký. Nội dung đăng ký thế chấp và quyền địa dịch cũng
được ghi trực tiếp trên GCN quyền.
2.2. Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất

- Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV ngày 31 tháng 12
năm 2004 hướng dẫn chức năng, ngày hiệm vụ và tổ chức của VPĐK và tổ chức
phát triển quỹ đất. Trong đó quy định việc thành lập VPĐK khi chưa có đủ điều
kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực; hoạt động của tổ chức VPĐK gắn liền
với công tác cải cách hành chính.
- Thông tư số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18 tháng 4 năm 2005
của liên Bộ Tài chính và Bộ TN&MT hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ và
trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc luân chuyển hồ sơ về nghĩa vụ
tài chính, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách một bước thủ tục hành chính khi người
sử dụng đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất và nhà
- Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6
năm 2005 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất.
- Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6
năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số
05/2005/TTLT/BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh.
2.2.1.2 Bộ Luật Dân sự (2005)
Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất khi thực hiện
đăng ký quyền sử dụng đất tại VPĐK, quyền sở hữu được Bộ Luật Dân sự
2005 quy định cụ thể bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền
định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (Điều 164); Việc
đăng ký quyền sở hữu tài sản (Điều 167); Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối
với tài sản (Điều 168); Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với
tài sản (Điều 173).
14
2.2.1.3 Luật bổ sung sửa đổi một số điều của Luật đầu tư xây dựng cơ bản
(2009)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây
dựng cơ bản có hiệu lực thi hành từ 01/8/2009, đối với lĩnh vực quản lý nhà
nước về đất đai. Luật này tập chung cho một số vấn đề trong công tác cấp

2.2.1.4 Nhận xét chung về cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của
VPĐK
Về tổng thể thì việc Nhà nước ban hành các quy định liên quan đến
VPĐK trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tuy không nhiều
nhưng được xem là tương đối đầy đủ. Đây là căn cứ pháp lý ban đầu để thành
lập và đưa các VPĐK đi vào hoạt động. Tuy nhiên, các văn bản pháp quy liên
quan đến VPĐK còn những hạn chế như:
- Thông tư 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV quy định không rõ ràng (cho
phép các địa phương có thể không thành lập VPĐK) vì vậy cơ chế bắt buộc
phải thành lập mô hình VPĐK đang bị “bỏ ngỏ”. [ 3 ]
- Thiếu các quy định hướng dẫn tổ chức hoạt động của VPĐK và việc
phổ biến, tổ chức tập huấn cho công tác này chưa được tiến hành đồng bộ.
- Chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí và tác dụng
của tổ chức này đối với nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai.
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng
đất.
2.2.2.1 Chức năng của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Theo quy định của pháp luật hiện hành, VPĐK thành lập ở cấp tỉnh và cấp
huyện là cơ quan dịch vụ công hoạt động theo loại hình sự nghiệp có thu, có
chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất, chỉnh lý thống nhất biến động
sử dụng đất và quản lý hồ sơ địa chính; tham mưu cho cơ quan tài nguyên và
môi trường cùng cấp trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng
16
đất đai theo quy định của pháp luật.
2.2.2.2 Nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
- Giúp các cấp quản lý trực tiếp làm đầu mối thực hiện các thủ tục hành
chính về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền cho các đối
tượng sử dụng đất ở địa phương;
- Đăng ký sử dụng đất và chỉnh lý biến động về sử dụng đất theo quy
định của pháp luật khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất;

giao dịch đảm bảo đối với nguồn vốn từ đất đai giữa người sử dụng đất nói
chung với các tổ chức tín dụng, cơ quan thuế của Nhà nước thông qua các hoạt
động thế chấp, bảo lãnh vay vốn, thu thuế, phí góp phần tăng nguồn thu từ đất
đai cho ngân sách Nhà nước.
Thứ sáu: Hoạt động của VPĐK đòi hỏi phải chuyên môn hóa công tác đăng
ký quyền sử dụng đất. So với trước đây, chuyên môn hoá trong hoạt động đăng ký
quyền sử dụng đất đã được áp dụng rộng rãi thông qua việc đầu tư, ứng dụng công
nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ điện tử trong những năm tới.
Mặt khác, tính công khai, minh bạch được thể hiện đầy đủ, nghiêm túc trong hoạt
động của VPĐK thông qua việc cải cách thủ tục hành chính.
2.3. Mô hình tổ chức đăng ký đất đai, bất động sn ở một số nước
2.3.1. Australia: Đăng ký quyền (hệ thống Toren).
Tại Australia việc đăng ký BĐS do các cơ quan chính phủ các Bang thực
hiện. Các cơ quan này là các cơ quan ĐKĐĐ, Văn phòng đăng ký quyền đất đai,
cơ quan quản lý đất đai hoặc cơ quan thông tin đất đai.
2.3.1.1 Văn phòng đăng ký quyền đất đai của Northern Territory.
Văn phòng đăng ký quyền đất đai tại Northern Territory là một bộ phận
của Văn phòng đăng ký trung ương, nhiệm vụ của Văn phòng thực hiện đăng
ký quyền đất đai theo Hệ thống Torrens bao gồm cả các phương tiện tra cứu,
hệ thống thông tin đất đai và các nhiệm vụ đăng ký khác.
18
2.3.1.2 Cơ quan đăng ký đất đai của Bang Victoria:
Hệ thống đăng ký đất đai ở Bang Victoria là hệ thống Torrens. Cơ quan
đăng ký đất đai Victoria được thành lập theo Luật chuyển nhượng đất đai
1958. Cơ quan đăng ký đất đai Victoria có các bộ phận: Dịch vụ đăng ký
quyền; Trung tâm thông tin đất đai; Bộ phận đo đạc; Bộ phận tách hợp thửa
đất; Văn phòng định giá viên trưởng.
2.3.1.3 Cơ quan quản lý đất đai Bang New South Wales
Ở Bang New South Wales (NSW) việc đăng ký đất đai do Cơ quan
quản ký đất đai của bang thực hiện. Trong cơ cấu tổ chức của Cơ quan quản

Đây là điều kiện tiên quyết. Điều kiện này không những đảm bảo thực
hiện tốt các thủ tục đăng ký về sau mà còn đảm bảo sự kiểm tra của một viên
chức công quyền đối với tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.
- Tuân thủ dây chuyền chuyển nhượng
Đây chính là nguyên tắc đảm bảo tính tiếp nối trong việc đăng ký : mọi
hợp đồng, giao dịch đều không được phép đăng ký nếu như giấy tờ xác nhận
quyền của sở hữu chủ trước đó chưa được đăng ký.
- Thông tin về chủ thể
Các hệ thống công bố công khai thông tin về đất đai đều dành một vị
trí quan trọng cho mục thông tin về sở hữu chủ. Do vậy cần xác định một
cách chính xác và cụ thể các bên liên quan trong hợp đồng, giao dịch. Mọi
hợp đồng, văn bản liên quan đến một pháp nhân đều phải ghi rõ tên gọi, hình
thức pháp lý, địa chỉ trụ sở, thông tin đăng ký kinh doanh của pháp nhân đó,
kèm theo họ, tên và địa chỉ nơi cư trú của người đại diện của pháp nhân đó.
Đối với pháp nhân cũng như cá nhân thì ở phần cuối của hợp đồng, văn bản
đều phải có lời chứng thực của công chứng viên.
- Thông tin về bất động sản
Kể từ cuộc cải cách năm 1955, mọi tài liệu đem đăng ký đều phải có
20
đầy đủ thông tin cụ thể về bất động sản. Đối với mọi bất động sản được đem
chuyển nhượng, xác lập quyền sở hữu hoặc thừa kế, cho tặng, di tặng, thông
tin về bất động sản đó phải hoàn toàn phù hợp với thông tin trích lục từ hồ sơ
địa chính.
Pháp luật còn đưa ra một số quy định đặc biệt đối với các phần có thể
phân chia của nhà chung cư, cũng như đối với các phần của bất động sản đã
phân chia giữa nhiều chủ sở hữu, nhằm mục đích xác định rõ các phần đó.
2.3.3. Thụy Điển
Đăng ký đất đai được thực hiện ở Thuỵ Điển từ thế kỷ thứ 16 và đã trở
thành một thủ tục không thể thiếu trong các giao dịch mua bán hoặc thế chấp.
Về bản chất hệ thống này là hệ thống đăng ký quyền tương tự hệ thống

Đắk Lắc, Đắk Nông và Lâm Đồng. Còn lại các tỉnh khác đã thành lập gần như
đầy đủ văn phòng cấp huyện.
Một số VPĐK không trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường theo
quy định mà trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện như huyện Tiền Hải tỉnh
Thái Bình, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, Thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng,
đã dẫn đến sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức, chỉ đạo cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sự phân tán trong quản lý hồ sơ địa
chính; làm cho thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thêm phức
tạp, kéo dài do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan này. [19]
2.4.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Theo báo cáo của các địa phương VPĐK thuộc Sở đều tổ chức thành
nhiều đơn vị trực thuộc, phổ biến là các Phòng, một số nơi tổ chức thành bộ
phận hoặc tổ (dưới đây gọi chung là bộ phận); mỗi VPĐK thuộc Sở trung
bình có từ 3 đến 4 bộ phận.
Do có ít cán bộ nên đa số các VPĐK cấp huyện được tổ chức thành các tổ,
nhóm để triển khai thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu công việc của từng thời
22
kỳ; nhiều VPĐK thực hiện việc phân công cán bộ quản lý theo địa bàn (mỗi
cán bộ chịu trách nhiệm theo dõi, thực hiện một số xã) nên lực lượng bị phân
tán. Các VPĐK cấp huyện có nhiều cán bộ đã được tổ chức thành các tổ
chuyên môn khác nhau; phổ biến là: Tổ Đăng ký đất đai (hoặc Thẩm định hồ
sơ); Tổ Lưu trữ hồ sơ và cung cấp thông tin; một số VPĐK do yêu cầu công
việc còn có Tổ Đăng ký giao dịch bảo đảm; đây là các tổ chuyên môn tối
thiểu cần được thành lập và duy trì ổn định ở các địa phương [19]
2.4.3. Nguồn nhân lực của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
- Theo báo cáo Tổng cục Quản lý đất đai, số lượng lao động của các
VPĐK cấp tỉnh hiện còn hạn chế: tổng số cán bộ của 63 VPĐK cấp tỉnh, tính
đến tháng 12 năm 2009 là 1.733 người, trung bình mỗi VPĐK cấp tỉnh có 27
người (chi tiết xem Bảng 2.3).
Trong tổng số lao động hiện có của các VPĐK cấp tỉnh có 824 người

Một số tỉnh còn giao cho VPĐK một số nhiệm vụ khác như: Định giá đất
khi thi hành án, tham gia thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, lập quy
hoạch kế hoạch sử dụng đất, dịch vụ tư vấn (như Nam Định, Tiền Giang, Hậu
Giang, Kiên Giang, Hưng Yên, Hải Dương).
(3) Nhiều VPĐK cấp huyện được thành lập nhưng chưa phân định rõ hoặc
còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ với Phòng Tài nguyên và Môi trường.
Nhiều địa phương Lãnh đạo Phòng TN&MT coi VPĐK như bộ máy giúp việc
của Phòng để thực hiện tất cả các công việc quản lý nhà nước về đất đai;
(4) Một số VPĐK các cấp chưa thực hiện đúng chức năng xác nhận,
chỉnh lý biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: có địa phương
VPĐK cấp tỉnh làm thủ tục để Lãnh đạo Sở ký xác nhận; có địa phương
VPĐK cấp tỉnh hoặc cấp huyện xác nhận cả những trường hợp thuộc thẩm
quyền xác nhận của Sở hoặc Phòng TN&MT (trường hợp chuyển mục đích sử
dụng đất); nguyên nhân có sự lẫn lộn này một phần do quy định phân cấp chính
lý Giấy chứng nhận tại Điều 57 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hiện nay
24
chưa hợp lý.
2.4.5. Tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ của VPĐK
2.4.5.1. Cấp tỉnh
Kết quả báo cáo của các địa phương cho thấy VPĐK cấp tỉnh hiện nay
đều đã và đang tập trung triển khai thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các tổ chức; thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm; thống kê
và kiểm kê đất đai.
Tuy nhiên tình hình hoạt động của VPĐK cấp tỉnh còn một số tồn tại,
hạn chế sau:
- Việc cấp Giấy chứng nhận cho các tổ chức ở một số địa phương thực
hiện còn chậm do không làm theo hình thức tập trung đồng loạt mà chỉ thực
hiện riêng lẻ cho tổ chức có nhu cầu;
- Việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính là nhiệm vụ chủ yếu của VPĐK cấp
tỉnh; tuy nhiên công việc này hầu như mới thực hiện được ở một số xã đang tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status